Xem Nhiều 12/2022 #️ Băng Huyền :Nét Độc Đáo Của Đàn Kìm Trong Đờn Ca Tài Tử (Kỳ 1) / 2023 # Top 15 Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Xem Nhiều 12/2022 # Băng Huyền :Nét Độc Đáo Của Đàn Kìm Trong Đờn Ca Tài Tử (Kỳ 1) / 2023 # Top 15 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Băng Huyền :Nét Độc Đáo Của Đàn Kìm Trong Đờn Ca Tài Tử (Kỳ 1) / 2023 mới nhất trên website 3mienmoloctrungvang.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bài BĂNG HUYỀN

Tiếng đàn trong, vang, những âm thanh khi bổng, khi trầm, lúc réo rắt, dịu dàng, mềm mại, khi rắn rỏi, rộn ràng. Đờn điệu Bắc thì khoan thai, điệu Nam – Oán thì mùi mẫn, nỉ non, sâu lắng. Nhờ diễn đạt được nhiều sắc thái tình cảm khác nhau mà cây đàn Nguyệt (Nguyệt cầm) hay còn gọi là đờn Kìm (theo cách gọi của người miền Nam), là loại nhạc cụ khá quen thuộc trong dàn nhạc dân tộc cả ba miền Bắc, Trung, Nam Việt Nam.

Chính sức mê hoặc kỳ lạ của đàn Kìm đã thu phục tình cảm của giáo sư Nguyễn Châu sâu nặng vô cùng. Ông là một trong những người sáng lập và là giám đốc nghệ thuật đoàn văn nghệ dân tộc Lạc Hồng từ năm 1989 đến nay. Dù có khả năng biểu diễn thuần thục nhiều loại nhạc cụ như đàn Cò, đàn Bầu, đàn Tranh, Sến, Guitar phím lõm, đàn Tỳ Bà, nhưng giáo sư Nguyễn Châu yêu nhất và gắn liền với cây đờn Kìm như máu thịt.

Nét độc đáo của đàn Kìm (đàn Nguyệt)

Nói về những nét độc đáo của nhạc cụ này trong dàn nhạc dân tộc Việt Nam, đặc biệt là trong dàn nhạc đờn ca Tài Tử miền Nam, giáo sư Nguyễn Châu cho biết từ xa xưa, dàn nhạc ngũ âm trong cung đình theo phong cách “tứ tuyệt” (kìm, cò, tranh, độc) hay “ngũ tuyệt” (kìm, cò, tranh, độc, sáo) thì cây đờn Kìm vẫn đứng ở vị trí đầu nhóm đảm nhiệm vai trò lĩnh xướng. Còn từ khi nhạc tài tử miền Nam xuất hiện (vào giữa thế kỷ 19) và sân khấu cải lương ra đời (đầu thế kỷ 20), cây đờn Kìm vẫn giữ được vị trí “độc tôn” này.

Các bài bản trong âm nhạc tài tử cải lương cũng đều dựa vào chữ nhạc chính từ cung bậc của đờn Kìm. Những ai học ca, hay học các loại nhạc cụ khác cũng dựa vào nền tảng âm nhạc của đờn Kìm. Vì vậy cây đờn Kìm được tôn vinh là “Quân tử cầm” và là… “thầy” của các loại nhạc cụ khác trong dàn nhạc tài tử cải lương, và là “thầy” của người hát là vì vậy.

Giáo sư Nguyễn Châu nói thêm, “Tôi thấy từ xưa đến giờ những bậc nhạc sư trong đờn ca tài tử, phải biết đàn Kìm là chính, còn những nhạc cụ khác như đàn Tranh, Bầu, Cò… biết phụ thêm. Vì khi nắm vững cây đàn Kìm, thì khi học qua những cây đàn khác rất dễ. Như cá nhân tôi khi đã học vững vàng cách chơi đàn kìm, học qua đàn Tỳ Bà rất dễ, khi đàn cũng chạy mấy ngón trên dây thôi, học qua đàn Sến còn dễ hơn nữa, còn khi học qua đờn Guitar thì chỉ cần học chút xíu thôi. Nhưng nếu ai đó học trước đàn guitar rồi mới chuyển qua học đờn Kìm thì rất khó.”

Được biết ở sân khấu cải lương thời xưa, những ông bà bầu gánh hát thường phải tìm cho bằng được người đờn Kìm giỏi, để giữ song loan (giữ nhịp chính của dàn nhạc) và hướng dẫn bài bản, nhịp nhàng cho nghệ sĩ mới vào gánh hát hoặc bổ túc nghề thêm cho những nghệ sĩ chuyên nghiệp. Hầu hết các nghệ sĩ cải lương tài danh ngày xưa đều học nghề bằng phương pháp này (học theo kiểu truyền ngón). Do đó các nhạc công của các loại nhạc cụ khác trong gánh hát cho đến các nghệ sĩ đều phải “kính nể” nhạc công đờn Kìm trong gánh hát của mình.

Giáo sư Nguyễn Châu độc tấu đàn Kìm. (Băng Huyền/ Viễn Đông)

Dù thời gian đầu đàn Kìm là cây đàn chính trong dàn nhạc đờn ca tài tử và cải lương, nhưng khoảng từ thập niên 1940, guitar phím lõm đã chiếm lĩnh vị trí “bá chủ” trong dàn nhạc cải lương của đờn Kìm. Bởi guitar phím lõm có nhiều tính năng và phong phú âm sắc, âm vực rộng hơn và thêm vào đó được khuyếch đại âm thanh qua hệ thống ampli. Còn đờn Kìm là nhạc cụ mộc, âm vực hẹp lại khuyếch đại âm thanh bị hạn chế và âm sắc kém trung thực.

Chính vì vậy mà từ thập niên 70 đến 90 ở sân khấu cải lương trong nước không xuất hiện những nghệ sĩ trẻ đờn Kìm kế thừa, mà chỉ còn lại các nghệ nhân “lão làng” và rất ít người học đờn Kìm. Đại đa số đều học Guitar phím lõm, Sến, Tranh… Thế nhưng từ ngày phong trào đờn ca tài tử được phát triển rộng rãi những năm gần đây trong nước, thì cây đờn Kìm được chú trọng trở lại, các nhóm đờn ca tài tử, các câu lạc bộ đờn ca tài tử đều khai thác những ngón đờn kìm “ẩn dật”, nhiều người trẻ, trung niên rủ nhau học đờn Kìm. Cây đờn Kìm đã khôi phục lại vị trí trong dàn nhạc tài tử và giữ “song loan” (giữ nhịp).

Nguồn gốc xuất xứ của đàn Kìm

Đàn Kìm của Việt Nam là nhạc khí dây gảy loại có cần đàn. Trên một trang mạng phổ biến trên internet cho rằng “Đàn Nguyệt là một trong những cây đàn đặc sắc đã gắn bó với lịch sử dân tộc của người Việt từ khá sớm. Sách của Phạm Đình Hổ ghi rằng đàn Nguyệt xuất hiện ở Việt Nam vào thế kỷ 18. Tại bệ đá ở chân cột chùa Phật Tích (huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc) được xây dựng vào đời nhà Lý thế kỷ 11, còn ghi lại hình ảnh hoà tấu ban nhạc trong đó có đàn Nguyệt và các nhạc cụ khác như sáo dọc, sáo ngang, đàn tranh, đàn tỳ bà, đàn nhị, trống bản, trống cơm. “Về xuất xứ, cây đàn Nguyệt của người Việt có nguồn gốc từ cây Nguyệt cầm (Yue kin) của người Trung Hoa do Nguyễn Hàn, tự là Trọng Dung đời nhà Tấn chế tạo ra. Nguyệt cầm của Trung Quốc có mặt đàn hình tròn tựa mặt trăng, được làm từ gỗ cây ngô đồng, có 4 dây chia thành 2 cặp, mỗi cặp có 2 sợi cùng âm, gắn phím thấp và đánh theo thất cung. Số lượng phím thì bằng với phím trên Đàn Nguyệt của Việt Nam nhưng còn cần đàn thì lại ngắn hơn. Phần nhiều các điểm này Đàn Nguyệt của Trung Hoa khá giống với đàn Đoản, đàn Tứ của Việt Nam.

“Khi du nhập vào Việt Nam, đàn Nguyệt đã được biến đổi để phù hợp với thẩm âm của người Việt, mặt đàn vẫn hình tròn, một số đàn vẫn giữ 4 tai nhưng rút xuống còn 2 dây, cần đàn dài hơn, phím đàn gắn cao hơn để có thể diễn tả những kỹ thuật rung, nhấn, luyến láy và đánh theo ngũ cung của người Việt. Tương tự như đàn Nguyệt Việt Nam ở Campuchia có Ðàn Chạpet, nhưng cách đánh không có nhấn luyến.”

Cấu tạo của đàn Kìm

“Đờn Kìm còn có tên gọi đàn Nguyệt (theo cách gọi của người miền Bắc) có thể do có mặt đàn hình tròn như mặt trăng.

“Đàn Kìm có đáy đàn và mặt đàn để mộc, được làm bằng gỗ nhẹ, xốp, có đường kính khoảng 30 cm. “Trên mặt đàn có gắn ngựa đàn (hay yếm đàn) để mắc dây. Thành đàn (hay còn gọi là hông đàn) làm bằng gỗ cứng thấp khoảng 5 cm – 6 cm, có thể để trơn hay khảm trai. Hộp đàn kín hoàn toàn, không có lỗ thoát âm như đa số các loại đàn dạng gảy khác.

“Cần đàn được làm bằng gỗ cứng (có thể để trơn hay khảm trai), dài khoảng 1m trên có gắn các phím đàn bằng tre với khoảng cách không đều nhau theo thang 5 âm. Nhờ có cần tương đối dài và những phím cao, người đàn có thể tạo được những âm nhấn nhá uyển chuyển, mềm mại.

“Dây đàn được làm bằng tơ se hay dây nilon. Đàn có hai dây, dây cao (còn gọi là dây ngoài hay dây tang) nhỏ hơn dây trầm (còn gọi là dây trong hay dây tồn), thường lên dây cách nhau một quãng năm đúng và tùy theo giọng từng bài.

“Bộ phận lên dây có 4 trục gỗ xuyên ngang hai bên thành đàn của đầu đàn để lên dây, nhưng chỉ dùng hai trục để mắc và lên dây đàn. Sự hiện diện của 4 trục chứng tỏ rằng khởi thủy đàn Nguyệt là có hai dây kép (Ðàn Song Vận), về sau do nhấn không thuận tiện nên người ta bỏ bớt hai dây (kép) chỉ để một dây. Bộ phận lên dây được cải tiến để dây không bị chùng xuống. Trục lên dây được làm bằng gỗ cứng xuyên qua hai lỗ phía đầu cần đàn.

“Ngày xưa nghệ nhân gảy đàn Kìm thường bằng móng tay dài của mình, ngày nay gãy đàn bằng miếng nhựa với những ngón gảy, hất, phi và đặc biệt là ngón vê…kể cả những âm ngắn tạo không khí rộn ràng sôi nổi.

Các kiểu lên dây đàn chính của đàn Kìm

“Đàn Kìm có nhiều kiểu lên dây khác nhau, tuỳ theo yêu cầu của tính chất âm nhạc mà quyết định kiểu lên dây nào thích hợp. “Lối lên dây cổ truyền của đàn Nguyệt vẫn được kế thừa tới ngày nay với 4 kiểu lên dây chính: Dây Bắc: Dây trầm cách dây cao một quãng 5 đúng (Fà-Đô), thích hợp với âm nhạc vui tươi, hùng tráng. Dây Oán: Dây trầm cách dây cao một quãng 6 đúng (Mì-Đô). Dây Oán thích hợp với âm nhạc nghiêm trang, sâu lắng. Dây Tố Lan: Dây trầm cách dây cao một quãng 7 thứ (Rề-Đô). Dây Tố Lan thích hợp với âm nhạc dịu dàng, mềm mại. Dây song thanh (giây quãng 8).

“Âm thanh Đàn Nguyệt tươi sáng, rộn ràng rất thuận lợi để diễn tả tình cảm sâu lắng. Ðàn Nguyệt có tầm âm rộng hơn hai quãng 8 từ: Đô1 đến Rê3 (C1 đến D3) nếu dùng ngón nhấn sẽ có thêm hai âm nữa.

“Tầm âm có thể chia ra 3 khoảng âm với đặc điểm như sau: “Khoảng âm dưới: tiếng đàn ấm áp, mềm mại, biểu hiện tình cảm trầm lặng, sâu sắc. “Khoảng âm giữa: là khoảng âm tốt nhất của Đàn Nguyệt, tiếng đàn thanh thót, vang đều, diễn tả tình cảm vui tươi, linh hoạt.

“Khoảng âm cao: tiếng đàn trong sáng nhưng ít vang.” Đàn Kìm là nhạc cụ với nhiều ngón kỹ thuật độc đáo như nhấn, luyến, vê… có nhiều khả năng độc tấu và hòa tấu.

Theo giáo sư Nguyễn Châu, đàn kìm không chỉ giàu có về kỹ thuật, bài bản, mà còn đa dạng về kiểu kết hợp với các nhạc cụ khác.

“Là loại đàn có màu âm tơ, với kỹ thuật diễn tấu phong phú, đàn Kìm là cây đàn gẩy tiêu biểu của người Việt tham gia hầu hết trong các hoà tấu dàn nhạc cổ truyền như: dàn nhạc Hát Văn, phường bát âm ngoài miền Bắc, dàn nhạc thính phòng Huế, dàn nhạc Tài tử Nam bộ, dàn nhạc Cải lương. Đàn Kìm còn được dùng trong dàn Nhã nhạc của âm nhạc cung đình. Đàn Nguyệt có thể là nhạc cụ đi giai điệu duy nhất kết hợp với các nhạc cụ gõ khác như trống, phách, cảnh, thanh la trong dàn nhạc Hát văn, hoặc là một trong những nhạc cụ dây gẩy bên cạnh đàn Tranh, đàn Tam thập lục, đàn Tỳ Bà kết hợp với các nhạc cụ hơi, nhạc cụ dây kéo, nhạc cụ gõ trong phường bát âm, dàn Nhã nhạc của cung đình triều Nguyễn. “Dàn nhạc thính phòng Huế, dàn nhạc Tài tử Nam bộ và dàn nhạc Cải lương chủ yếu là sự kết hợp giữa các nhạc cụ dây gẩy và nhạc cụ dây kéo như trong dàn nhạc thính phòng Huế hoà tấu 3 cây đàn Kìm, đàn Tranh, đàn Cò được gọi là Tam thanh, hoà tấu 5 cây đàn Kìm, đàn Tranh, đàn Cò, đàn Tỳ bà, đàn Tam được gọi là Ngũ tuyệt và khi dàn Ngũ tuyệt có thêm cây sáo hoặc đàn Bầu thì được gọi là Lục tấu. “Trong dàn nhạc Tài tử Nam bộ sự kết hợp giữa các nhạc cụ cũng khá đa dạng: có thể là giữa 2 nhạc cụ cùng họ dây chi kéo (Cò dương và Cò lòn), giữa 2 nhạc cụ cùng họ dây chi gẩy (đàn Kìm và đàn Tranh hoặc đàn Kìm và đàn Tỳ bà), giữa 2 nhạc cụ dây kéo và dây gẩy (Cò dương và đàn Kìm) hay giữa 4 nhạc cụ cùng họ dây chi kéo (Cò líu, Cò dương, Cò lòn, Cò gáo), 4 nhạc cụ cùng họ dây chi gảy (đàn Kìm, đàn Tỳ bà, đàn Tranh, đàn Tam), 4 nhạc cụ giữa họ dây chi kéo và chi gảy (Cò dương, Cò lòn, đàn Kìm, đàn Tỳ bà)… Như vậy, đàn Kìm luôn đại diện cho các nhạc cụ họ dây chi gẩy trong sự kết hợp với các nhạc cụ họ dây chi kéo nên không thể phủ nhận vai trò của đàn Kìm trong hoà tấu dàn nhạc.

“Đàn Kìm tham gia chủ yếu dựa trên sự phát triển của hai yếu tố giai điệu và tiết tấu theo lôgích chiều ngang. Lối hoà tấu này thực chất là lối trùng tấu những nhạc cụ có âm sắc khác nhau. Mỗi bè tiến hành giai điệu một cách hoàn toàn độc lập, mỗi đàn lại có màu âm riêng nên các bè không bị lẫn lộn làm nhòe sắc thái của nhau. Mỗi bè diễn tấu có khả năng phát huy hết sở trường của mình như âm nhấn, láy, rung… trên cơ sở một khung giai điệu nhất định mà không bị bè khác ràng buộc. Bên cạnh đó, chính lối phát triển giai điệu theo chiều ngang lại tạo hiệu quả những quãng lạ, độc đáo giữa các bè đàn trong mối quan hệ chiều dọc.” (còn tiếp)

Cùng Khám Phá Nét Độc Đáo Của Đàn Tranh Việt Nam / 2023

Đàn tranh Việt Nam là một nhạc cụ cổ truyền của dân tộc Việt Nam, trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, cây đàn tranh vẫn tồn tại và có nhiều phát triển vượt bậc tới ngày nay. Với tư cách là một trong những nhạc cụ sớm góp phần làm nên bộ mặt văn hóa nghệ thuật của dân tộc, cây đàn tranh đã có sự gắn bó mật thiết khăng khít với đời sống tinh thần của người dân đất Việt qua nhiều thế kỷ.

Lịch sử phát triển đàn tranh Việt Nam

Với tư thế về kiểu dáng gọn nhẹ, đặc biệt âm điệu giàu sức biểu cảm và khả năng diễn tấu phong phú, từ vị trí cây đàn “quý tộc” chốn cung đình xa hoa, dần dần đàn tranh càng hòa mình với đời sống của tầng lớp nhân dân lao động bình dân; bên cạnh các nhạc cụ dân tộc khác như: nhị, sáo, đàn bầu… Trải qua hằng trăm năm phát triển, chịu ảnh hưởng của nền âm nhạc thế giới, đàn tranh Việt Nam có các loại đàn tranh: đàn tranh 15 dây, đàn tranh 16 dây, đàn tranh Việt Nam 17 dây và đàn tranh Việt Nam loại 19 dây.

Đàn tranh 15 dây hình thành từ bao giờ?

Đàn tranh được hình thành từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 14. Thời Lý, Trần đàn tranh chỉ có 15 dây. Chính vì thế, đàn tranh lúc bấy giờ còn có tên goi khác là thập lý huyền cầm; và được dùng trong ban đồng văn nhã nhạc đời Lê Thánh Tông (thế kỷ 15). Sau này, đàn tranh được dùng trong cả ban nhạc giáo phường. Tới thời Nguyễn (thế kỷ 19) được dùng trong ban nhạc Huyền. Lúc bấy giờ, đàn tranh được sử dụng với 16 dây, nên được gọi là thập lục huyền cầm.

Đàn tranh 16 dây cấu tạo như nào?

Hình dáng đàn thập lục huyền cầm dài, có 16 dây bằng kim loại, mặt đàn nhô lên hình vòng cung, từ trục đàn đến chỗ gắn dây đàn. Khoảng giữa của mỗi dây đều có một con nhạn, gọi là nhạn đàn. Để tăng âm từ nửa cung lên một cung thì đàn cần chuyển đổi dây.

Sau này, đàn tranh rất phổ biến, được đứng thứ 3 trong bộ tam huyền của dàn nhạc tài tử. Vì đàn tranh được thiết kế theo thể thức nhiều dây nên khi tấu nhạc đàn phát ra âm thanh đanh tiếng, khi tấu chữ đàn thường là song thanh. Chính vì thế, khi hết một câu, một đoạn nhạc nào đó, đàn thường lặp lại một nốt.

Ngoài khả năng diễn tấu giai điệu, ngón chơi truyền thống của đàn là những quãng tám dài hoặc chậm, ngón đặc trưng nhất là vuốt trên các dây.

Đàn tranh là nhạc khí dùng hòa tấu, độc tấu, đêm cho hát, ngâm thơ, đàn tranh cũng để chơi cho nhiều loại nhạc như dàn nhạc tài tử, nhã nhạc, nhạc chèo, nhạc dân tộc tổng hợp,…

Cho tới ngày nay, đàn tranh không chỉ dừng lại ở 15 đây mà được phát triển thành đàn tranh 17 dây, đàn tranh 19 dây và đàn tranh 21 dây để đáp ứng được hình thức diễn tấu. Đàn tranh càng nhiều dây thì quãng bass, quãng trầm càng rộng. Đàn càng to, âm càng vang và trầm, ấm, ngân dài và lâu

Đàn tranh Việt Nam có cấu tạo như thế nào?

Dù được biến tấu thành 16 dây hay 19 dây, đàn tranh đều có dạng hình hộp dài. Phần khung đàn tranh thiết kế hình thang có chiều dài dao động từ 110-120 cm.

Đầu lớn của đàn rộng khoảng từ 25-30 cm đây là là phần đầu đàn có thanh chốt đàn có tác dụng mắc dây

Đầu nhỏ của đàn rộng khoảng 15-20 cm có gắn khoảng 16 tới 25 khóa lên.

Mặt đàn làm bằng các loại gỗ khác nhau có độ dày khoảng 0,05 cm được uốn thành hình vòm.

Ngựa đàn (còn có tên gọi khác là con nhạn) được đặt ở giữa đàn có tác dụng gác dây có thể di chuyển để điều chỉnh âm thanh.

Dây dàn tranh có nhiều loại khác nhau, nhưng chủ yếu là làm bằng kim loại với kích cỡ khác nhau. Ngày xưa khi kim loại còn quý hiếm, đàn dùng dùng dây tơ. Nghệ nhân sử dụng các móng đàn riêng biệt đeo vào ba ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa của bên tay phải có tác dụng gẩy khi biểu diễn. Phụ kiện đàn tranh móng gẩy có thể được làm bằng nhiều chất liệu khác nhau như móng đồi mồi, móng kim loại, móng làm từ sừng

Đàn tranh tốt chủ yếu là chất lượng gỗ. Nếu là gỗ ép thì sau một thời gian gỗ sẽ bị nứt, các dây đàn sẽ không được chuẩn và âm thanh cũng trở nên rất kinh khủng. Phải là gỗ miếng, chắc chắn và không bị nứt sau một thời gian sử dụng. Ngày nay, đàn tranh thường được chế tác từ gỗ cẩm lai, gỗ hương, trắc dùng làm thân đàn, gỗ Ngô đồng dùng làm mặt đàn.

Để tấu lên được một bản nhạc đúng giai điệu, tất cả các bộ phận đàn tranh cần được thiết kế “chuẩn từng milimet”, đặc biệt là bộ phận dây và mặt hộp.

Mua đàn tranh Việt Nam ở đâu giá tốt?

Hình ảnh cửa hàng

Nếu bạn mua đàn tranh tại Hà Nội Hãy đến showroom Tiến Mạnh Music ở địa chỉ: Trụ sở 1: 70 Hào Nam – Ô chợ Dừa – Đống Đa – Hà Nội. Trụ sở 2: 76 Hào Nam – Ô chợ Dừa – Đống Đa – Hà Nội Nếu bạn mua đàn tranh ở thành phố Hồ Chí Minh

Sàn Kính Cường Lực – Nét Phá Cách Độc Đáo Cho Nhà Bạn / 2023

Trong xu hướng thiết kế kiến trúc nhà ở ngày nay, xu hướng sàn kính cường lực đang dần được “khai phá” và ngày càng chiếm được ưu thế trong các công trình nhà phố hiện đại, nhất là những nhà có diện tích nhỏ hẹp, thiếu ánh sáng. Sàn kính cường lực là phương pháp tối ưu để đưa ánh sáng vào nhà bạn.

 

 

Như chúng ta đã biết các sàn nhà thông thường của chúng ta thường bằng bê tông cốt thép, bằng gỗ hay các vật liệu ngăn cách không gian…Nhưng với sàn kính các nhược điểm đó sẽ không còn nữa. Sàn kính cường lực có cấu tạo gồm khung đỡ và kính chịu lực.

– Khung đỡ: Thường được sử dụng bằng kim loại với thiết kế tùy từng không gian để có thể đỡ được các tấm kính sao cho an toàn nhất. Các vật liệu thường dùng là: sắt, Inox, nhôm…

– Kính: là loại kính cường lực có độ dày tiêu chuẩn 10mm, 12mm, 15mm, 19mm, chịu lực tốt và an toàn tuyệt đối cho người sử dụng. Nếu có điều kiện kinh tế chúng tôi khuyên khách hàng nên sử dụng kính cường lực dán an toàn với nhau bởi các lớp film chuyên dụng.

– Keo kết cấu dán và liên kết kính cường lực với phần khung sàn.

 

 

Sàn kính cường lực dễ lau chùi, làm vệ sinh, tối ưu hơn hẳn sàn nhà thông thường như sàn gỗ dễ cong vênh, ẩm mốc. Đây quả là tin mừng đối với các bà nội trợ khi có thể tiết kiệm được rất nhiều thời gian dọn dẹp. Sàn có tuổi thọ cao, ít phải bảo trì và sửa chữa như sàn gỗ hay sàn gạch.

Dù là sàn nhà ngăn cách các tầng nhưng nó lại có thể truyền ánh sáng qua lại giữa các tầng với nhau tạo cảm giác thông thoáng, không ngột ngạt bởi đặc tính trong suốt. Sản phẩm phù hợp với những không gian thiếu sáng, chật hẹp, không gian có ít cửa sổ,… Sàn kính cường lực không hạn chế tầm nhìn, gia chủ dễ dàng quan sát mọi thứ dù đang đứng ở tầng nào.

 

 

Lần đầu tiên đi trên kính có thể khiến bạn sợ hãi nhưng đừng lo lắng vì đúng như cái tên của mình, sàn kính cường lực còn có khả năng chịu lực cao, đảm bảo an toàn cho người sử dụng. Sàn kính sử dụng kính cường lực có thể chịu tác động cao gấp 5 lần so với những loại kính thường có cùng độ dày và kích thước. Loại kính này còn có khả năng chịu sốc nhiệt rất cao, khoảng 150 độ mà không lo bị vỡ, đảm bảo an toàn trong khi những loại kính khác chỉ là 50 độ.

Hơn hết chính là hiệu quả thẩm mỹ mà sàn kính cường lực mang lại cho căn nhà, sang trọng, độc đáo và hiện đại.

 

 

Sàn kính cường lực có thể được ứng dụng đa dạng trong kiến trúc:

– Sàn nhà bằng kính lắp đặt phía trên của phòng khách.

– Sàn kính lắp đặt tại khu vực hành lang.

– Sàn kính lắp đặt tại khu vực trưng bày hay vườn. Để phô bày một chi tiết hay hiệu quả nào đó dưới sàn như vườn cảnh, bể cảnh, hay các nền có trang trí phía dưới các nhà thiết kế thường sử dụng sàn bằng kính.

 

 

Nhằm “giải phóng” không gian trong kiến trúc hiện đại, sàn kính được sử dụng như một “giải pháp then chốt”. Khi được sử dụng đúng cách, sàn kính sẽ mang lại vẻ đẹp và sự hiện đại đặc biệt cho công trình kiến trúc.

Thongminhgroup là đơn vị hàng đầu chuyên phân phối và lắp ráp kính cường lực chất lượng cao tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh. Với hơn chục năm hoạt động, chúng tôi đã gây dựng được sự tin tưởng của khách hàng thông qua các sản phẩm có độ bền cao và dịch vụ hàng đầu. Với đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp và thợ lành nghề, chúng tôi cung cấp sản phẩm kinh cuong luc hoàn mỹ, bền đẹp cho mỗi công trình với mức giá cạnh tranh nhất. 

Đến với Thông Minh Group, quý khách hàng hoàn toàn có thể yên tâm giao phó cho chúng tôi sứ mệnh nâng cấp, trang hoàng không gian sống, không gian làm việc của mình.

 

Những Tác Dụng Độc Đáo Của Tinh Dầu Gừng / 2023

Gừng cũng là một gia vị quen thuộc trong các món ăn được tìm thấy nhiều ở các nước Châu Á, đặc biệt là ở Indonesia , Trung Quốc , Malaysia, Nhật Bản , Queensland và Florida. Thế nhưng, bạn có biết đến những tác dụng diệu kỳ của tinh dầu gừng trong thư giãn, cải thiện sức khỏe và hỗ trợ điều trị bệnh không?

Tinh dầu gừng được chiết xuất chủ yếu từ củ gừng (tên khoa học là Zingiber Officinale), có hương thơm dai không quá cay, nhưng hơi nồng. Tinh dầu này có màu vàng đậm hơi ngả sang màu nâu và phù hợp cho làn da thông thường, không nhạy cảm. Những tác dụng của tinh dầu gừng là tăng cường tuần hoàn huyết dịch, kích thích tiết dịch vị, hưng phấn ruột, xúc tiến tiêu hóa, chữa cảm lạnh, trấn tĩnh và cân bằng tinh thần, giữ ấm cho cơ thể. Một đặc tính đặc biệt của tinh dầu gừng là có tính cay ấm và tính thâm nhập rất cao nên ngay sau khi sử dụng, sẽ nhanh chóng phát huy tác dụng cải thiện, hỗ trợ và điều trị.

Tinh dầu gừng giúp giảm khó chịu và hỗ trợ mọc tóc

Đặc tính rõ ràng mà nhiều người đều biết đến đối với gừng đó là cay ấm, có tác dụng làm nóng và giảm nhẹ các cảm giác khó chịu cho cơ quan nội tạng, đặc biệt là hệ thống tiêu hóa. Vì vậy, sử dụng dầu nền phối hợp cùng tinh dầu gừng massage nhẹ xung quanh khu vực dạ dày giúp dễ tiêu hóa, làm giảm đầy hơi, khó tiêu, đồng thời, cũng có thể làm giảm những khó chịu do bệnh tiêu chảy gây ra. Ngoài ra, nếu cảm thấy buồn nôn do say tàu xe, hãy ngửi tinh dầu này ngay. Điều này sẽ giúp bạn cảm thấy thoải mái và dễ chịu hơn.

Đặc biệt, bạn cũng có thể sử dụng tinh dầu gừng phối hợp cùng một số dầu thực vật tốt cho tóc như dầu dừa, dầu oliu … xoa lên vùng da đầu để kích thích các nang lông, thúc đẩy quá trình mọc tóc và ngăn ngừa chứng hói đầu.

Ngửi tinh dầu gừng giúp tâm trạng thoải mái, trở nên tốt hơn

Khi tâm trạng đang sa sút, hay thiếu năng lượng, hoặc cảm thấy lạnh, bạn ngửi ngay một ít tinh dầu gừng để trấn an và cân bằng tinh thần. Gần như lập tức, bạn cảm thấy thoải mái hơn, cơ thể nóng lên, sinh lực dường như được kích thích và phục hồi lại. Ngoài ra, khi cần tập trung vào công việc quan trọng, hay phải nghiên cứu một dự án nào đó trong nhiều giờ liền, bạn hãy cho vài giọt tinh dầu tuyệt vời này vào đèn tinh dầu. Minh mẫn, tập trung và trí nhớ cải thiện là những tác dụng mà bạn sẽ cảm nhận ngay sau đó.

Sử dụng tinh dầu gừng giúp giảm đau hiệu quả

Hơn thế nữa, tinh dầu gừng còn có khả năng chống oxy hóa, chống lão hóa rất tốt, không chỉ tác dụng trên bề mặt của da mà còn có thể thâm nhập sâu vào xương khớp. Vì vậy, tinh dầu này có thể hỗ trợ điều trị hiệu quả các bệnh cơ xương, thấp khớp, giảm đau khớp, đau cơ, chuột rút, đau lưng và bong gân.

Để tránh tình trạng sử dụng quá mức trong quá trình trị liệu, bạn cần pha loãng tinh dầu gừng với dầu dẫn. Sau đó, hãy nhẹ nhàng chà xát kết hợp với một số động tác massage phù hợp trên vùng da bị đau nhức hoặc sưng tấy khoảng 5 – 10 phút. Bạn từng biết đến bệnh gout, do ảnh hưởng của axit uric, gây nên cảm giác đau nhức ở các ngón chân khi phát bệnh. Kinh nghiệm cho thấy, hãy sử dụng dầu massage có chứa tinh dầu gừng với liều lượng cao, thoa vào ngón chân bị đau. Chỉ sau một đêm, cơn đau cũng như chỗ sưng tấy sẽ biến mất một cách kỳ diệu.

Giữ ấm, tăng cường sức đề kháng cùng tinh dầu gừng trong những ngày đông

Bên cạnh đó, gừng có tính cay ấm, giúp kích thích điều tiết mồ hôi. Vì vậy, bạn cũng có thể sử dụng loại tinh dầu này để giữ ấm cơ thể trong những ngày giá rét. Ví dụ, khi mùa đông đến, bạn cảm thấy lạnh bàn chân, hãy nhỏ vài giọt tinh dầu gừng cùng với tinh dầu phong lữ (geranium oil) vào một xô nước ấm, sau đó, thực hiện ngâm chân. Cách này có tác dụng thúc đẩy quá trình lưu thông máu và làm ấm cơ thể.

Hơn nữa, sử dụng dầu massage có chứa tinh dầu gừng để xoa bóp trong những đêm đông, bạn cũng có thể cảm nhận được mức năng lượng dâng tràn và làm ấm cơ thể suốt đêm.

Hãy mua tinh dầu gừng để sử dụng tại Spa hoặc cho gia đình

Những tác dụng tinh dầu gừng được nêu trên thật tuyệt vời đúng không bạn? Vậy bạn hãy sử dụng tinh dầu này tại Spa hoặc ngay trong gia đình để nhận được những hiệu quả đáng kinh ngạc. Tuy nhiên, bạn cần nhớ rằng những tác dụng độc đáo trên chỉ có thể đạt được đối với tinh dầu thiên nhiên, được chiết xuất hoàn toàn từ củ gừng.

Bạn đang phân vân không biết chọn mua tinh dầu gừng ở đâu để đảm bảo 100% thiên nhiên, hãy liên hệ ngay Công ty Viên Mỹ, là doanh nghiệp chuyên cung cấp các loại tinh dầu nguyên chất cho các Spa, Hotel, Resort hàng đầu tại Việt Nam.

Nhà phân phối hàng đầu thiết bị – sản phẩm Spa, thẩm mỹ, sức khỏe

**** Hiệu quả có thể khác nhau tùy thuộc vào cơ địa, liệu trình và cách thực hiện ***

Bạn đang xem bài viết Băng Huyền :Nét Độc Đáo Của Đàn Kìm Trong Đờn Ca Tài Tử (Kỳ 1) / 2023 trên website 3mienmoloctrungvang.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!