Xem Nhiều 11/2022 #️ Bảo Hiểm Thất Nghiệp: Chia Sẻ Kịp Thời Với Người Lao Động / 2023 # Top 16 Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Xem Nhiều 11/2022 # Bảo Hiểm Thất Nghiệp: Chia Sẻ Kịp Thời Với Người Lao Động / 2023 # Top 16 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Bảo Hiểm Thất Nghiệp: Chia Sẻ Kịp Thời Với Người Lao Động / 2023 mới nhất trên website 3mienmoloctrungvang.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Đi làm hơn 10 năm nay, với mức lương trên 3,5 triệu đồng/tháng, cuộc sống gia đình anh Hồ Hoàng Kiếm, ở xã Tân Tiến, thành phố Vị Thanh, tương đối ổn định. Tuy nhiên, do công ty làm ăn thua lỗ nên anh Kiếm xin nghỉ việc. Trong khoảng thời gian này, anh đã đến Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh để đăng ký nhận bảo hiểm thất nghiệp. Anh Kiếm chia sẻ: “Bình quân mỗi tháng tôi cũng nhận được gần 2 triệu đồng, số tiền này giúp gia đình chi tiêu hàng ngày trong những ngày chưa tìm được việc mới”.

Cũng được hưởng BHTN trong những tháng nghỉ việc, anh Nguyễn Thanh Tú, ở xã Thuận Hòa, huyện Long Mỹ, có một khoản thu nhập để trang trải chi phí sinh hoạt trong gia đình. Trước đây, anh đi làm công nhân cho một công ty ở tỉnh Đồng Nai, nhưng do công việc gia đình nên anh xin nghỉ việc. Về quê, anh đến Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh để làm thủ tục hưởng BHTN, mỗi tháng cũng lãnh trên 3,5 triệu đồng. “Số tiền này rất kịp thời, có ích và cần thiết với gia đình chúng tôi lúc này. Với lại, tôi còn được cán bộ, nhân viên Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh tư vấn, giới thiệu việc làm. Đây là sự hỗ trợ đắc lực, giúp tôi sớm tìm được việc làm mới, để ổn định cuộc sống”, anh Tú bày tỏ.

Để chính sách BHTN đi vào cuộc sống

Theo số liệu thống kê, từ năm 2010 đến nay, tổng số người lao động hưởng trợ cấp thất nghiệp trên 26.600 người. Nếu như năm 2010, số người được hưởng trợ cấp thất nghiệp là 818 người, với số tiền chi trả trên 2,1 tỉ đồng, thì đến năm 2018 số người hưởng đã tăng lên 4.894 người, với số tiền chi trả gần 53 tỉ đồng. Từ đầu năm đến nay là 2.262 người, với số tiền chi trả gần 27 tỉ đồng.

Sau thời gian thực hiện, chính sách BHTN đã đi vào cuộc sống, ngoài ra còn là cầu nối giúp cải thiện mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động. Theo ông Trần Minh Thiện, Giám đốc Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh, khi tham gia BHTN, hàng tháng người lao động đóng 1% tiền lương, tiền công, nhưng khi nghỉ việc được hưởng mức trợ cấp thất nghiệp hàng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp. Quyền lợi của người lao động đã được quan tâm rất nhiều. “Chính sách BHTN đã góp phần tích cực trong việc giải quyết an sinh xã hội cho người lao động trong thời gian qua. Khi tham gia BHTN, nếu lao động mất việc làm không chỉ được trợ cấp một khoản kinh phí để trang trải cho cuộc sống, mà còn được hỗ trợ đào tạo nghề, hỗ trợ thông tin việc làm miễn phí, để họ sớm trở lại thị trường lao động, góp phần ổn định đời sống”, ông Thiện cho biết.

Có thể nói, chính sách BHTN đã trở thành chỗ dựa vững chắc giúp người lao động phần nào vượt qua khó khăn trong thời gian mất việc. Trong thời gian tới, Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền để người lao động hiểu rõ hơn về lợi ích của BHTN, chủ động tham gia và hưởng quyền lợi nếu chẳng may bị mất việc. Ngoài ra, các đơn vị, doanh nghiệp cần thực hiện đầy đủ các thủ tục về BHTN, nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng, giảm bớt khó khăn cho người lao động khi mất việc. Từ đó, tạo sự gắn bó bền chặt giữa người lao động và người sử dụng lao động.

Từ năm 2010 đến nay có trên 26.600 người có quyết định nhận trợ cấp thất nghiệp, với tổng số tiền chi trả trên 210 tỉ đồng.

Bài, ảnh: BÍCH CHÂU

Lợi Ích Của Việc Tham Gia Bảo Hiểm Thất Nghiệp Đối Với Người Sử Dụng Lao Động Và Người Lao Động / 2023

Sau hơn 5 năm triển khai, chính sách bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) đã góp phần không nhỏ giúp người lao động (NLĐ) có thu nhập sau thất nghiệp, sớm tìm được việc làm mới. Thế nhưng, hầu hết NLĐ vẫn còn mù mờ nguyên tắc chi trả BHTN, chưa hiểu hết quyền lợi và trách nhiệm của bản thân trong việc thực hiện BHTN…

Ông Trần Tuấn Tú: Chính sách BHTN có quy định chuyển tiếp đối với thời gian NLĐ tham gia bảo hiểm trước khi tham gia BHTN. Theo quy định tại khoản 3 điều 39 nghị đinh 28 ngày 12/3/2015 của Chính phủ thì thời gian NLĐ thực tế làm việc theo các hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc với người sử dụng lao động mà không phải đóng BHTN được tính để xét hưởng trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định của pháp luật về lao động hoặc trợ cấp thôi việc theo quy định của luật viên chức.

Về mức hưởng trợ cấp thất nghiệp so với trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc làm thì qua số liệu, chúng ta có thể đánh giá được lợi ích giữa những người tham gia BHTN và những người không tham gia BHTN. Về trợ cấp thôi việc, người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả cho NLĐ khi NLĐ chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định là mỗi năm làm việc thì được trợ cấp 1 nửa tháng tiền lương, đối với trợ cấp mất việc làm thì người sử dụng lao động chi trả cho người lao động khi mất việc làm theo quy định là mỗi năm làm việc được trợ cấp 1 tháng tiền lương nhưng ít nhất là bằng 2 tháng tiền lương. Riêng về trợ cấp BHTN hiện nay quy định bằng 60% mức bình quân tiền lương của 6 tháng liền kề trước khi mất việc làm và thời gian hưởng BHTN tối thiểu là 3 tháng.

Như vậy mới mức bình quân những tháng cuối như nhau thì số hưởng BHTN 3 tháng là khoảng 180%. Tuy nhiên BHTN là 1 chính sách an sinh xã hội nhằm thay thế bù đắp 1 phần thu nhập của NLĐ, giúp NLĐ đảm bảo cuộc sống khi tạm thời mất thu nhập và quan trọng hơn là có các chế độ tích cực khác để hỗ trợ NLĐ là thông qua hỗ trợ học nghề, hỗ trợ tìm việc làm để nhanh chóng trợ lại thị trương lao động. Ngoài ra theo quy định của Luật Việc làm có hiệu lực từ ngày 1/1/2015, chính sách sách đối với NLĐ sau khi thất nghiệp còn bổ sung thêm chính sách hỗ trợ NLĐ bảo vệ vị trí việc làm thông qua hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề cho NLĐ khi NLĐ đang làm việc trong đơn vị. NLĐ đang trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp vẫn được hưởng chế độ bảo hiểm y tế. Như vậy, khi tham gia BHTN, NLĐ có nhiều quyền lợi hơn đối với các chế độ trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm trước đây.

PV:Anh Nguyễn Trọng Hậu có hỏi: Trước đây anh làm tại công ty Sông Đà ở Hải Phòng, từ năm 1985 đến năm 2010 sau đó anh chuyển sang công ty khác nhưng không được chuyển bảo hiểm nên năm 2011 anh lại xin chuyển về công ty Sông Đà. Năm 2012 công ty hết việc anh phải nghỉ, như vây anh có được hưởng BHTN hay không?

– Thứ nhất đã đăng ký thất nghiệp với Trung tâm dịch vụ việc làm (TTDVVL) thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội (LĐTB&XH)

– Thứ 2 anh có đóng từ đủ 12 tháng BHTN trở lên trong vòng 24 tháng lúc trước khi anh chấm dứt thỏa thuận lao động

– Thứ 3 anh phải không có việc làm sau trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày anh đăng ký thất nghiệp với TTDVVL

– Nếu đáp ứng đủ các điều kiện như vậy thì anh sẽ được hưởng chế độ BHTN.

Còn nếu trong trường hợp anh chấm dứt hợp đồng lao động sau ngày 1/1//2015 được thực hiện theo quy định của luật việc làm anh cũng phải đáp ứng đủ các điều kiện như sau:

– Thứ nhất: anh đã phải nộp hồ sơ đầy đủ theo quy định cho TTDVVL tỉnh thành phố trực thuộc Trung Ương

– Thứ 2: anh vẫn đáp ứng đủ, đóng đủ từ 12 tháng trở lên trong vòng 24 tháng trước khi anh chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc

– Đối với trường hợp hợp đồng lao động của anh mà ngắn hạn, mà dưới 12 tháng thì anh phải đáp ứng đủ cái điều kiện là đóng đủ 12 tháng trong vòng 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc

– Anh không có việc làm sau 15 ngày kể từ ngày anh nộp hồ sơ đối với TTDVVL.

– Thứ nhất là được nhận sổ BHXH có xác nhận đầy đủ về việc đóng BHTN khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

– Được hưởng các chế độ BHTN theo quy định.

– Được ủy quyền cho người khác nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp, và nhận các quyết định hưởng trợ cấp Thất nghiệp theo quy định

– Có quyền khiếu nại tố cáo về BHTN theo quy định của Pháp luật.

– Và một số các quyền khác.

– Thứ nhất phải chủ trì phối hợp với công đoàn cơ sở để thông tin tuyên truyền phổ biến chính sách Pháp luật về BHTN

– Thứ 2: xác định đối tượng tham gia BHTN thực hiện trình tự tham gia BHTN. Đóng BHTN đúng đủ và kịp thời theo quy định của Pháp luật.

– Thứ 3: bảo quản hồ sơ tham gia BHTN của NLĐ trong thời gian NLĐ làm việc tại đơn vị

– Thứ 5: cung cấp thông tin về đóng BHTN trong thời hạn 2 ngày làm việc kể từ ngày người LĐ yêu cầu

– Thứ 6: cung cấp hợp đồng lao động, bản sao hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, xác nhận về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc cho người lao động chậm nhất 2 ngày kể từ ngày NLĐ chấm dứt quan hệ lao động với Doanh nghiệp. Thực hiện các thủ tục xác nhận về đóng BHTN cho NLĐ đề người LĐ hoàn thiện hồ sơ hưởng BHTN.

– Thứ 7 thông báo với TTDVVL nơi đặt trụ sở làm việc của người sử dụng lao động khi có biến động lao động theo hướng dẫn của Bộ LĐTB&XH, trước ngày 15 tháng 1 hàng năm phải báo cáo sở LĐTBXH về tình hình tham gia BHTN tại đơn vị của năm trước

– Tổ chức triển khai việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho NLĐ theo đúng các phương án của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

– Sử dụng NLĐ đã được đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề và báo cáo kết quả thực hiện với sở LĐTB&XH trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày kết thúc khóa đào tạo.

– Thực hiện các trách nhiệm khác theo quy định của Pháp luật.

PV:Thưa quý vị khán thính giả, chúng tôi nhận được rất nhiều câu hỏi và ông Trần Minh Thắng ở HN có hỏi:Trong trường hợp người sử dụng lao động không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ với NLĐ trong lĩnh vực BHXH và BHTN sẽ phải chịu xử lý như thế nào?

– Thứ nhất phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500 đến 1tr đồng đối với NLĐ có hành vi thỏa thuận với người sử dụng lao động không tham gia đóng BHTN

– Phạt tiền từ 12 đến 15% tổng số tiền phải đóng BHTN tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75 triệu đối với người sử dụng lao động có 1 trong các hành vi sau: Chậm đóng BHTN, đóng BHTN không đúng mức quy đinh, đóng BHTN không đủ số người thuộc diện tham gia BHTN

– Phạt tiền từ mức 18 đến 20% tổng số tiền phải đóng BHTN tại thời điểm lập biên bản vi phạm nhưng không quá 75 triệu đối với người sử dụng lao động không đóng BHTN cho toàn bộ NLĐ thuộc diện tham gia BHXH, BHTN

– Phạt cảnh cáo, phạt tiền đối với người sử dụng lao động trong các hành vi không cung cấp tài liệu thông tin BHTN theo yêu cầu của cơ quan nhà nước, không cung cấp thông tin về đóng BHTN cho người LĐ khi người LĐ hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu.

– Và một số hành vi cụ thể khác.

Trong thời gian tới, Bộ LĐTB&XH cũng sẽ trình Chính phủ để ban hành nghị định sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định 95. Trong đó cũng sẽ có điều chỉnh bổ sung một số hành vi, một số các mức xử phạt, hình thức xử phạt bổ sung để thực hiện.

Xin cảm ơn ông Trần Tuấn Tú trưởng phòng BHTN – Cục Việc làm, Bộ LĐTB&XH đã tham gia chương trình chúng tôi ngày hôm nay./.

Quyền Và Lợi Ích Của Người Lao Động Khi Tham Gia Bảo Hiểm Thất Nghiệp / 2023

Thất nghiệp hay không có việc làm là hiện tượng thường thấy trong các nền kinh tế thị trường ở các quốc gia. Thất nghiệp kéo theo nhiều hệ lụy cho nền kinh tế, xã hội nói chung và cá nhân người lao động nói riêng.

Ở khía cạnh kinh tế, thất nghiệp không tạo được sự gắn kết giữa sức sản xuất với đối tượng lao động, với tư liệu sản xuất, tức là cơ sở để phát huy sức sản xuất. Thất nghiệp gắn liền với giảm sản xuất, giảm sức phát triển của nền kinh tế và sẽ là yếu tố kìm hãm tăng trưởng kinh tế. Thất nghiệp có nghĩa là có một bộ phận nguồn nhân lực không được sử dụng, đang bị nhàn rỗi, lãng phí và gây những tác động tiêu cực, thậm chí triệt tiêu tăng trưởng kinh tế.

Về mặt xã hội, thất nghiệp sẽ góp phần tăng chi nguồn lực của xã hội để hỗ trợ cho đối tượng thất nghiệp. Không có việc làm sẽ là nguyên nhân, nguồn gốc của sự nghèo đói, chậm phát triển, tiêu cực và các tệ nạn xã hội. Ở khía cạnh này, thất nghiệp còn gián tiếp phản ánh mức độ lành mạnh, sự ổn định và sự phát triển bền vững của xã hội.

Đối với người lao động, thất nghiệp hay không có việc làm sẽ khiến họ mất nguồn thu nhập đảm bảo cuộc sống của bản thân và gia đình, điều này đồng nghĩa với việc về lâu dài họ sẽ rơi vào tình trạng dưới mức sống tối thiểu chung. Bên cạnh đó, người lao động thất nghiệp cũng khiến họ mất khả năng nâng cao kinh nghiệm, kỹ năng nghề nghiệp, cản trở cơ hội thăng tiến nghề nghiệp, nâng cao mức thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của bản thân cũng như sự đóng góp cho sự phát triển văn hóa, y tế, giáo dục, bảo hiểm…

Với mặt trái của hiện tượng thất nghiệp như trên nên các quốc gia rất coi trọng và sớm tìm hướng giải quyết. Quy định pháp luật sơ khởi về bảo hiểm thất nghiệp có thể thấy ở Na Uy, Đan Mạch từ những năm đầu của thế kỷ 20. Các quy định pháp luật đã tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành các quỹ bảo hiểm thất nghiệp với nguyên tắc sự tham gia tự nguyện và hỗ trợ tài chính của Nhà nước. Các quy định này được phổ biến và áp dụng ở các nước khác ở Châu Âu cả trong và sau thời gian Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Bên cạnh hình thức bảo hiểm thất nghiệp tự nguyện, một số quốc gia khác ở Châu Âu như Anh, Italya… lại áp dụng hình thức bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc. Từ hai hình thức bảo hiểm thất nghiệp này, dần dần nhiều quốc gia khác trên thế giới đã lựa chọn, phát triển, hoàn thiện và áp dụng hình thức bảo hiểm thất nghiệp phù hợp ở quốc gia mình.

Ở Việt Nam, bước vào giai đoạn phát triển nền kinh tế theo định hướng thị trường từ năm 1986, hiện tượng thất nghiệp đã phổ biến và trở thành vấn đề bức xúc trong xã hội. Khắc phục tình trạng trên, thời gian đầu, Nhà nước đã ban hành các chính sách như chính sách trợ cấp thôi việc, tạm ngừng việc theo các quyết định của Hội đồng Bộ trưởng, chế độ trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc theo Bộ luật Lao động, trợ cấp cho lao động dôi dư khi sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước… Đây là các chính sách sơ khởi trong việc giải quyết vấn đề thất nghiệp ở nước ta.

Nghị quyết Đại hội Đảng lần VIII năm 1996 nêu rõ “Từng bước hình thành quỹ bảo trợ thất nghiệp ở thành thị, đảm bảo công ăn việc làm cho dân là mục tiêu hàng đầu, không để thất nghiệp trở thành căn bệnh kinh niên…”. Đây là tư tưởng tiếp tục được khẳng định trong nhiều văn kiện Đảng và là cơ sở quan trọng cho việc xây dựng và triển khai chính sách bảo hiểm thất nghiệp.

Luật Bảo hiểm xã hội được ban hành năm 2016, trong đó chính sách bảo hiểm thất nghiệp có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2009. Đây là văn bản pháp lý đầu tiên đánh dấu sự ra đời của chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam. Sau một thời gian thực hiện, chính sách bảo hiểm thất nghiệp được sửa đổi, bổ sung hoàn thiện trong Luật Việc làm ban hành ngày 16/11/2013 và có hiệu lực thi hành ngày 1/1/2015. Tư tưởng xuyên suốt chính sách bảo hiểm thất nghiệp chính là các quy định về quyền và lợi ích của người lao động khi tham gia bảo hiểm thất nghiệp, cụ thể như sau:

Thứ nhất, người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp thì được Nhà nước đảm bảo cho hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp khi đáp ứng đủ điều kiện do luật định, các quy định để bảo đảm quyền này như Điều 41 Luật Việc làm nêu nguyên tắc những người tham gia bảo hiểm thất nghiệp mới được quyền hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp trên cơ sở chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia và mức hưởng bảo hiểm thất nghiệp dựa trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp. Bên cạnh đó, người lao động cũng được hưởng lợi từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp khi luật quy định nghĩa vụ của người sử dụng lao động phải đóng góp vào Quỹ này bằng 1% quỹ tiền lương tháng của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

Để đảm bảo an toàn Quỹ bảo hiểm thất nghiệp, Luật cũng quy định trách nhiệm của Nhà nước hỗ trợ tối đa 1% quỹ tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp và do ngân sách Trung ương đảm bảo, tức Quỹ bảo hiểm thất nghiệp được Nhà nước đảm bảo hỗ trợ. Đây chính là quy định thể hiện tính nhân văn trong chính sách bảo hiểm thất nghiệp của Đảng, Nhà nước nhằm bảo vệ tối ưu quyền, lợi ích cho người lao động và thể hiện tính ưu việt của hình thức bảo hiểm này so với các hình thức bảo hiểm khác trong xã hội không có sự bảo lãnh của Nhà nước.

Thứ hai, người thất nghiệp được quyền hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí. Điều 54 Luật Việc làm quy định người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp bị chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc mà có nhu cầu tìm kiếm việc làm thì được tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí thông qua hệ thống 63 trung tâm giới thiệu việc làm thuộc Sở lao động – Thương binh và Xã hội ở các tỉnh, thành phố trên toàn quốc. Người thất nghiệp thông qua hệ thống các trung tâm dịch vụ việc làm sẽ tăng khả năng có được việc làm nhanh hơn so với việc tự kiếm việc.

Thứ ba, người thất nghiệp được quyền hỗ trợ học nghề. Việc hỗ trợ học nghề giúp người thất nghiệp được đào tạo lại hoặc đào tạo mới để trang bị thêm kiến thức, kỹ năng, tăng cơ hội cho họ quay lại thị trường lao động, sớm có việc làm.

Thứ tư, người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp còn được doanh nghiệp tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm theo quy định tại Điều 47 và Điều 48 Luật Việc làm. Theo quy định này thì ngay cả khi người lao động vẫn đang làm việc tại doanh nghiệp, nhưng doanh nghiệp gặp khó khăn dẫn đến người đang làm việc có nguy cơ mất việc làm thì Quỹ bảo hiểm thất nghiệp sẽ chi trả kinh phí cho người đang làm việc để họ được đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề nhằm duy trì việc làm.

Thứ năm, người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp được quyền hưởng trợ cấp thất nghiệp. Chế độ trợ cấp thất nghiệp chính là một khoản tiền mà người thất nghiệp được hưởng trong thời gian mất việc và do Quỹ bảo hiểm thất nghiệp trả.

Luật cũng quy định các hình thức đảm bảo cho người thất nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận các quyền hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp như người thất nghiệp có thể ủy quyền cho người khác tiến hành các thủ tục hưởng trợ cấp thất nghiệp, có thể chuyển địa điểm nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp để thuận tiện cho người thất nghiệp nhận tiền trợ cấp…

Thứ sáu, người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp còn được quyền hưởng chế độ bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế. Khi người lao động đang có việc làm, đang tham gia bảo hiểm y tế thì đương nhiên sẽ được hưởng chế độ bảo hiểm y tế. Tuy nhiên, theo Điều 51 Luật Việc làm quy định kể cả khi người lao động mất việc làm, mặc dù họ không tham gia bảo hiểm y tế, không đóng bảo hiểm y tế nhưng Quỹ bảo hiểm thất nghiệp sẽ phải chi trả phí đóng bảo hiểm y tế để người thất nghiệp được quyền hưởng bảo hiểm y tế trong thời gian thất nghiệp.

Thứ bảy, người thất nghiệp được quyền khiếu nại, tố cáo khi họ thấy quyền và lợi ích không được đảm bảo. Luật quy định cụ thể các quyền mà người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp được hưởng. Tuy nhiên, khi người lao động thấy một trong các quyền trên bị xâm hại thì họ có quyền yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền giải quyết để đảm bảo cho họ được hưởng đầy đủ các quyền trên.

VĂN PHÒNG CỤC VIỆC LÀM

Những Lợi Ích Không Ngờ Của Bảo Hiểm Thất Nghiệp / 2023

Đến nay đã có trên 180.000 người thất nghiệp được hỗ trợ học nghề. Nhiều người thất nghiệp sau khi tham gia các khóa học nghề đã có việc làm ổn định.

Đây là thông tin tại Hội nghị đánh giá 10 năm thực hiện chính sách bảo hiểm tự nguyện (BHTN) và định hướng do Cục Việc làm (Bộ LĐ-TB&XH) tổ chức mới đây tại TP. Thanh Hoá. Theo đó, được biết số người tham gia và đóng BHTN liên tục tăng qua các năm và đảm bảo chỉ tiêu kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao.

Công tác tư vấn, giới thiệu việc làm được đặc biệt quan tâm. Các trung tâm dịch vụ việc làm đã tập trung triển khai thực hiện, đa dạng hóa các hình thức và cải tiến quy trình thực hiện; số lượng và hiệu quả người được tư vấn, giới thiệu việc làm tăng theo từng năm và chiếm tỉ lệ khá cao so với số người có quyết định.

Thứ trưởng bộ LĐ-TB&XH Doãn Mậu Diệp nhấn mạnh, chính sách BHTN đóng vai trò quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội, là công cụ quản trị thị trường lao động, là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm. Song quan trọng hơn vẫn là tư vấn, giới thiệu việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm.

Theo đại diện Bộ LĐ-TB&XH, thời gian tới, việc thực hiện chính sách BHTN cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp quan trọng. Trong đó, tiếp tục nghiên cứu, bổ sung chính sách BHTN tại Luật Việc làm theo hướng hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động duy trì việc làm; đảm bảo quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp, người lao động; khắc phục tình trạng gian lận, trục lợi BHTN, phát huy đầy đủ các chức năng của BHTN, bảo đảm BHTN thực sự là công cụ quản trị thị trường lao động.

Bạn đang đọc bài viết Những lợi ích không ngờ của bảo hiểm thất nghiệp tại chuyên mục Y tế sức khỏe của báo Đời sống Pháp luật. Mọi thông tin góp ý phản hồi xin gửi về hòm thư [email protected] hoặc Hotline: 098.310.8812

Bạn đang xem bài viết Bảo Hiểm Thất Nghiệp: Chia Sẻ Kịp Thời Với Người Lao Động / 2023 trên website 3mienmoloctrungvang.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!