Xem Nhiều 2/2023 #️ Các Triệu Chứng Của Bệnh Trầm Cảm # Top 3 Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Xem Nhiều 2/2023 # Các Triệu Chứng Của Bệnh Trầm Cảm # Top 3 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Các Triệu Chứng Của Bệnh Trầm Cảm mới nhất trên website 3mienmoloctrungvang.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trầm cảm chủ yếu rất đa dạng và phong phú, thường có hai triệu chứng chính sau đây:

a. Khí sắc trầm cảm:

Khí sắc trầm cảm (khí sắc giảm) biểu hiện nét mặt đơn điệu, luôn buồn bã. Tình trạng khí sắc giảm rất bền vững do bệnh nhân luôn buồn rầu, bi quan, thất vọng. Ở một số bênh nhân, giai đoạn đầu buồn bã này có thể bị bênh nhân phủ nhận, tức là không thừa nhận mình buồn, nhưng vẫn có thể biểu hiện. Khi khám bệnh thấy hiện tượng sự chú ý của bệnh nhân giảm, bắt đầu có sự than phiền về một vấn đề gì đó.

Sự than phiền của bệnh nhân rất đa dạng, có bệnh nhân than phiền rằng họ không còn nhiệt tình, không còn cảm giác gì và luôn ở trong tâm trạng lo âu, có thể được biểu hiện trên nét mặt và trong hành vi của bệnh nhân.

Một số người bệnh lại than phiền các biểu hiện rối loạn cơ thể như thấy khó chịu trong người, cảm thấy đau đầu, đau xương khớp, đau cơ, đau cổ, đau thượng vị, đau bụng, đầy hơi hoặc rối loạn tiêu hóa đủ loại.

Có khi có bệnh nhân lại có trạng thái kích thích biểu hiện hay cáu gắt, dễ nổi khùng, ở trẻ em và vị thành niên hay gặp loại khí sắc bị kích thích hoặc thất thường mà hiếm gặp cảm xúc buồn do giảm khí sắc.

b. Mất hứng thú hoặc mất sở thích:

Bệnh nhân có hiện tượng mất hứng thú hoặc mất sở thích trong hầu hết các hoạt động hàng ngày của họ.

Bệnh nhân Trầm cảm cho rằng họ đã mất hết các sở thích vốn có (Thí dụ: bệnh nhân tâm sự rằng: tôi bây giờ không thích, không muốn một cái gì cả), tất cả các sở thích trước đây của bệnh nhân đều bị ảnh hưởng nặng nề, kể cả sự ham muốn tình dục – là một trong những hoạt động bản năng mạnh nhất của con người. Thí dụ, Một người trước đây rất thích bóng đá thì nay không còn thích “bóng bánh” nữa. Bệnh nhân nữ thì trước đây rất thích đi “chợ”, thích mua sắm, thích thời trang, “buôn dưa lê” thì nay không còn nữa. Còn vấn đề tình dục thì có “vấn đề”, họ thường xuyên không muốn và không thích, và viện ra đủ mọi lý do để chối từ “khéo” khi đối tượng: giờ đây tôi đang bị ốm, mệt mỏi khó ở, hoặc đang bận, “thôi để khi khác vậy”…

2. Ngoài hai triệu chứng chính ở trên, ở giai đoạn Trầm cảm chủ yếu còn có thể có các triệu chứng sau: a. Mất cảm giác ngon miệng:

Người bệnh ăn ít dẫn đến hậu quả là giảm sút trọng lượng cơ thể, gầy sút, bệnh nhân có cảm giác như bị ép phải ăn, bệnh nhân thường ăn rất ít, có trường hợp bệnh nhân Trầm cảm nặng sẽ nhịn ăn hoàn toàn. Bệnh nhân thường than phiền rằng bản thân bị mất cảm giác ngon miệng, không có cảm giác đói mặc dù bênh nhân không ăn gì cả. Trong nhiều trường hợp bữa ăn với họ là vô cùng khó khăn, có khi còn là một cực hình, mặc dù bản thân bệnh nhân biết về điều đó và đã rất cố gắng để “sửa chữa” nhưng cũng không được.

Ngược lại, có khoảng 5% số bệnh nhân Trầm cảm lại có cảm giác “rất ngon miệng” nên có xu hướng ăn nhiều nên gây hiện tượng tăng cân, béo phì.

b. Mất ngủ:

Thông thường bệnh nhân bị Trầm cảm thường mất ngủ, và mất ngủ vào giữa giấc (nên thường tỉnh giấc vào giữa đêm, cần phân biệt thiếu máu não cục bộ), sau đó lại khó dỗ ngủ để có thể tiếp tục, cũng có bệnh nhân mất ngủ đầu giấc (nên rất khó khó dỗ ngủ đầu giấc). Đây là triệu chứng gây rất “khổ” cho bệnh nhân, bệnh nhân cảm thấy đêm “rất dài”, rất khó chịu với chính bản thân mình. Nhiều bệnh nhân tìm cách tự điều trị chứng mất ngủ cho mình như tập Yoga, tập dưỡng sinh, đi bộ, dùng thuốc ngủ, an thần Tây y, Đông y… có bệnh nhân còn lạm dụng rượu, ma túy. Mất ngủ kéo dài chính là lý do chính làm bệnh nhân phải đi khám bệnh. Hiếm gặp lại có trường hợp trầm cảm lại biểu hiện bằng ngủ nhiều, có thể bệnh nhân ngủ liên miên 10 – 12 giờ/ngày, có khi còn nhiều hơn nữa. Ngủ nhiều này cũng ảnh hưởng lớn đến cuộc sống, lao động hoặc học tập của bệnh nhân loại này gặp khoảng 5% số người bệnh bị Trầm cảm và ngủ nhiều thường phối hợp với chứng ăn nhiều. Người ta thấy các trường hợp này lại đáp ứng tốt với thuốc chống Trầm cảm loại IMAO.

c. Rối loạn hoạt động tâm thần vận động cũng là 1 nhóm triệu chứng thường gặp:

Có nhiều loại rối loạn có thể là kích thích hoặc ức chế vận động.

Kích thích vận động biểu hiện bệnh nhân không thể nào ngồi yên, luôn luôn đi lại. Loại rối loạn này hay gặp ở bệnh nhân trẻ tuổi.

Ức chế vận động như bệnh nhân vận động chậm chạp (nói chậm, vận động cơ thể chậm, nhai uể oải), tăng khoảng nghỉ trước khi trả lời câu hỏi, giọng nói nhỏ, có khi biểu hiện nói ít, nội dung câu nói chuyện nghèo nàn, thậm chí có bệnh nhân không nói (câm). Loại rối loạn này hay gặp ở người cao tuổi, họ có thể nằm lỳ trên giường cả ngày mà không có hoạt động gì.

d. Giảm sút năng lượng hoạt động:

Kiệt sức và mệt mỏi là những triệu chứng hay gặp. Bệnh nhân Trầm cảm có thể có thể than phiền sự mệt mỏi mà không có một nguyên nhân cơ thể nào, có khi chỉ với một công việc rất nhẹ nhàng nhưng họ cũng cần phải một sự tập trung quá lớn, hiệu quả công việc bị giảm sút rõ rệt. Thí dụ: bệnh nhân có thể than phiền rằng rửa mặt hoặc mặc quần áo buổi sáng cũng làm cho họ bị kiệt sức và họ cần thời gian cho việc này gấp 2-3 lần người bình thường.

Phần lớn sự mệt mỏi của bệnh nhân thường tăng lên về buổi sáng và giảm đi về buổi chiều. Tuy nhiên một số ít bệnh nhân Trầm cảm lại theo chiều ngược lại.

Khi triệu chứng giảm sút năng lượng hoạt động đã rõ ràng thì bệnh nhân sẽ hầu như không thể làm được việc gì nữa, ngay cả vệ sinh cá nhân cũng có thể là quá mức đối với họ.

e. Cảm giác vô dụng và tội lỗi:

Triệu chứng này rất hay gặp, bệnh nhân cho rằng mình là người vô dụng, không làm nên trò trống gì, cho rằng mình đã làm hỏng mọi việc và là gánh nặng cho gia đình, có khi là cơ quan nơi công tác và xã hội nơi bệnh nhân sống, làm việc. Thậm chí có bệnh nhân cho rằng mình có tội (mặc cảm tội lỗi). Cảm giác vô dụng và tội lỗi có thể phát triển nặng lên thành hoang tưởng.

Triệu chứng vô dụng và tội lỗi chính là nguyên nhân dẫn đến ý tưởng và hành vi tự sát của bệnh nhân Trầm cảm.

f. Khó suy nghĩ, khó tập trung hoặc ra quyết định:

đây cũng là triệu chứng rất hay gặp, khiến cho bệnh nhân rất khó chịu và bắt buộc phải đi khám bệnh. Bệnh nhân than phiền rằng họ rất khó suy nghĩ, khó tập trung chú ý vào một việc gì đó, cũng đồng nghĩa khó khăn khi phải đưa ra quyết định. Thí dụ: một bệnh nhân nội trợ khi đi chợ rất khó quyết định mua thịt lợn hay là mua trứng, mua rau muống hay rau cải…

Ở mức độ nhẹ bệnh nhân có thể xuất hiện dưới dạng phân tán chú ý nhẹ hoặc chỉ là sự than phiền về trí nhớ giảm (như khó nhớ, hay quên). Sự khó tập trung chú ý của bệnh nhân thể hiện ở những việc rất đơn giản như không thể đọc xong một bài báo ngắn, không thể nghe hết một bài hát hoăc xem hết một chương trình vô tuyến mà trước đây bệnh nhân ưa thích. Rối loạn trí nhớ ở bệnh nhân Trầm cảm thường là giảm trí nhớ gần. Thí dụ: bệnh nhân có thể quên mình vừa làm cái gì đó (như đã ăn sáng chưa, đã khóa cửa nhà chưa?).Trong khi đó trí nhớ xa (như quê quán,ngày sinh, các sự việc xảy ra trong quá khứ vẫn tốt).

Ở trẻ em thường là giảm sút sự tập trung chú ý. Ở người cao tuổi thường là sự than phiền về sự khó nhớ, cho nên chúng ta rất dễ nhầm với mất trí ở người cao tuổi. Nhưng có một điểm để phân biệt là dựa vào điều trị để phân biệt: khi giai đoạn Trầm cảm chủ yếu được điều trị thành công thì vấn đề rối loạn trí nhớ này sẽ mất hoàn toàn, còn mất trí ở người cao tuổi thì không. Một vấn đề trở nên khó khăn hơn là một số người cao tuổi giai đoạn Trầm cảm chủ yếu cũng có thể là khởi đầu của một loại mất trí nào đó.

g. Ý tưởng và hành vi tự sát:

Lúc đầu bệnh nhân nghĩ là tình trạng bệnh nặng nề (mất ngủ, sút cân, mệt mỏi…) của mình tiến triển lâu dài và việc điều trị không mấy tốt đẹp… thế này thì có thể chết mất. Nhưng về sau bệnh nhân lại cho rằng bệnh nhân nên chết đi cho đỡ đau khổ về tình trạng bệnh tật hành hạ bệnh nhân. Các ý nghĩ này biến thành niềm tin, bệnh nhân cho rằng những người trong gia đình hoặc cơ quan… của bệnh nhân sẽ khá hơn nếu bệnh nhân chết đi. Từ ý nghĩ tự sát, bệnh nhân sẽ có hành vi tự sát. Người ta thấy rằng có 75% các trường hợp tự sát có nguyên nhân là Trầm cảm chủ yếu. Vì vậy chúng ta không bao giờ được xem thường triệu trứng này. Khi phát hiện bệnh nhân có triệu chứng này phải khẳng định là bệnh cấp cứu và bệnh nhân phải nằm điều trị nội trú tại bệnh viện.

Môt điểm cần dặc biệt chú ý là: Tự sát có thể gặp trong mọi thể của Trầm cảm như có thể gặp cả thể nhẹ, vừa và nặng. Cho nên chúng ta không được cho là thể Trầm cảm nhẹ không có tự sát nên chủ quan bệnh nhân ở thể này.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng không thể biết hoặc dự đoán chắc chắn và chính xác bệnh nhân Trầm cảm có ý định tự sát hay không và khi nào thì bệnh nhân tự sát. Nên trong quá trình theo dõi và điều trị chúng ta nên chú ý điều này.

Động cơ của tự sát của bệnh nhân là nhằm chấm dứt một trạng thái cảm xúc đau khổ, một sự tra tấn đang hành hạ bệnh nhân bị bệnh Trầm cảm.

Về mặt triệu chứng học lâm sàng, bệnh nhân Trầm cảm chủ yếu có hành vi tự sát và không có hành vi tự sát là không có khác biệt về triệu chứng và điểm để phân biệt hai nhóm bệnh nhân này lại chủ yếu dựa vào tiền sử lâm sàng của bệnh nhân (đã có hành vi tự sát hay chưa?).

Ngô Quang Trúc Ts.Bs Cao cấp chuyên ngành Thần Kinh Doctor SAMAN

10 Biểu Hiện Của Bệnh Nhân Trầm Cảm

1. Khí sắc buồn

Đây là biểu hiện tiêu biểu của chứng trầm cảm. Người mắc bệnh thường có khí sắc buồn trầm, nét mặt ủ rũ, buồn bã chán chường và bi quan.

Thường bệnh nhân trầm cảm sẽ không tỏ rõ cảm xúc chỉ có 1 nét mặt trầm buồn và tách biệt mình với mọi người, lảng tránh các nơi chỗ tập thể.

2. Mệt mỏi, lo âu, stress kéo dài

Người mắc chứng trầm cảm, cơ thể của họ dường như luôn ở trạng thái căng thẳng liên tục dẫn đến mệt mỏi lo âu, stress kéo dài.

Chứng trầm cảm khiến cho người bệnh luôn than phiền rằng họ mệt mỏi cộng thêm việc rối loạn giấc ngủ khiến cho tình trạng mệt mỏi lo âu càng ngày càng trầm trọng hơn. Một số trường hợp sự mệt mỏi còn thể hiện bằng nói lắp, lười hoạt động, đi lại làm việc chậm chạp.

3. Những triệu chứng bất thường trên hệ tiêu hóa

Giữa não bộ và đường ruột tồn tại một mối liên kết chặt chẽ với nhau thông qua 400-600 triệu tế bào thần kinh. Chính vì vậy, khi bị lo âu, trầm cảm thì chức năng đường ruột có thể bị ảnh hưởng dẫn tới các triệu chứng như đau bụng, táo bón, tiêu chảy, khó tiêu, chán ăn hoặc ăn nhiều không kiểm soát…Ngược lại, chức năng đường ruột không tốt có thể tác động xấu lên não bộ, gây ra rối loạn lo âu, trầm cảm. Giữa trầm cảm với những rối loạn tiêu hóa, cái nào có trước, cái nào có sau vẫn là một câu hỏi chưa được giải đáp, tựa như “Con gà hay quả trứng có trước?”. Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ ra hai bệnh lý này rất thường đi kèm với nhau. Có tới 50-90% bệnh nhân IBS (hội chứng ruột kích thích), 34% bệnh nhân loét đại tràng và 52% bệnh nhân khó tiêu chức năng bị mắc kèm ít nhất 1 rối loạn tâm thần như lo âu hoặc trầm cảm.

Dựa trên những hiểu biết ngày càng rõ hơn về mối tương tác giữa não bộ và đường ruột mà hiện nay các nhà khoa học đã phát triển được phương pháp điều trị trầm cảm, lo âu bằng cách sử dụng những chủng Psychobiotics – tức là những chủng lợi khuẩn đường ruột đặc biệt có khả năng cải thiện trạng thái tâm lý thông qua tương tác của trục Não – Ruột. Hiện nay, việc sử dụng Psychobiotics trong hỗ trợ cho các bệnh nhân bị trầm cảm đã được nhiều chuyên gia khuyến cáo sử dụng, một trong những sản phẩm thuộc nhóm này bạn có thể tham khảo là Ecologic Barrier.

Tìm hiểu thêm về sản phẩm Ecologic Barrier TẠI ĐÂY.

4. Rối loạn giấc ngủ

Nghiên cứu năm 2008, đăng trên tạp chí Dialogues in Clinical Neuroscience năm 2008 chỉ ra rằng khoảng ¾ người bị trầm cảm sẽ mắc chứng rối loạn giấc ngủ. Người trầm cảm khó có thể ngủ được; việc đi vào giấc ngủ gặp nhiêu khó khăn; tỉnh dậy nửa đêm…. Sự mệt mỏi, lo lắng, stress liên tục càng kéo theo việc khó ngủ, mất ngủ. Rồi khó ngủ mất ngủ lại khiến cho tâm trạng mệt mỏi càng trở nên trầm trọng hơn.

Một số trường hợp còn gặp các vấn đề về giấc ngủ như ác mộng, mộng du. Rối loạn giấc ngủ là một trong số những biểu hiện sớm và phổ biến ở người trầm cảm.

5. Mất khả năng tập trung và ghi nhớ

Nếu trước đây, người bệnh có trí nhớ rất tốt khả năng tập trung cao thì khi mắc trầm cảm người bệnh sẽ bắt đầu quên đi những điều cơ bản, tự dưng không thể nào nhớ được tên, số điện thoại của người nhà. Hay trong liên tục quên deadline công việc, quên đón con, không thể đưa ra được quyết định và lựa chọn của bản thân… Sự mất tập trung, khó ghi nhớ này sẽ ảnh hưởng lớn đến công việc và cuộc sống của người bệnh. Nó là tiền đề của những hành vi hành động không kiểm soát được.

6. Không giữ được cảm xúc dễ mất kiểm soát bản thân cáu gắt, nổi nóng

7. Giảm hứng thú với sở thích của mình và tình dục

Trước đây có thể bạn rất thích nấu ăn nhưng bỗng dưng bạn không còn hứng thú với sở thích này đối với người trầm cảm là dễ hiểu. Người trầm cảm có thể mất hứng thú với những thứ trước đây họ vô cùng yêu thích chính điều này khiến cho họ dễ bị cảm giác cô độc, chỉ muốn thu mình lại và chúng sẽ khiến trầm cảm thêm trầm trọng.

Ngoài ra giảm hứng thú với tình dục cũng là một biểu hiện của người trầm cảm. Các nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng có tới 75% bệnh nhân trầm cảm giảm hoặc mất hứng thú trong tình dục, đây được xem là một trong những dấu hiệu sớm của người bị bệnh.

8. Tự ti tuyệt vọng với bản thân

Nội tâm của bệnh nhân trầm cảm luôn trong tình trạng phê bình, tự phê bình một cách ghê gớm thậm chí chúng hủy hoại tâm trạng của bệnh nhân. Việc đấu tranh tư tưởng, tự trách và hạ thấp bản thân là dấu hiệu cảnh báo trầm cảm nặng.

Người bệnh thường tự trách bản thân với những câu hỏi ngỏ như: mình thật vô tích sự, lẽ ra mình phải làm thế này, mình thật chẳng ra sao,… lối suy nghĩ ngày đã tự làm tổn thương người bệnh khiến người bệnh càng thêm buồn rầu chán nản và dẫn đến tuyệt vọng.

Sự tuyệt vọng đeo bán người bệnh khiến họ cảm thấy tuyệt vọng với bản thân, không còn mong muốn tìm cách điều trị trầm cảm. Sự tuyệt vọng sẽ lớn dần lên theo tình trạng phát triển xấu đi của chứng trầm cảm.

9. Các cơn đau

Không chỉ tâm lý, tâm trạng bị ảnh hưởng do trầm cảm gây ra. Không ít bệnh nhân than phiền về tình trạng đau nhức xương khớp hay rối loạn tiêu hóa.

Người trầm cảm thường có những suy nghĩ tiêu cực và họ tự nghĩ ra những cơn đau rồi khuếch đại chúng. Sẽ không có loại thuốc giảm đau nào có thể giải quyết cơn đau do trầm cảm. Bởi bản thân người bệnh chứa nội tâm quá nhiều nỗi buồn phiền nên những cơn đau vô căn tìm đến để giúp nội tâm bộc lộ. Chỉ khi được điều trị đúng nguyên nhân trầm cảm thì những triệu chứng đau mới biến mất.

Khi gặp các cơn đau, mệt mỏi mãn tính mà không tìm ra được nguyên nhân và hướng giải quyết hãy đến gặp chuyên gia, bác sĩ tâm thần vì đó có thể là biểu hiện trầm cảm.

10. Có suy nghĩ hoặc hành vi tự sát

Suy nghĩ tiêu cực muốn chấm dứt cuộc đời hoặc lên những kế hoạch tự sát rất hay có ở người trầm cảm. Nếu chú ý, chúng ta có thể nhận thấy các dấu hiệu ở người trầm cảm muốn tự sát như có kế hoạch tự sát (chuẩn bị thuốc ngủ, dây thừng, xăng, thường nhìn vô định từ một vị trí cao…), tự gây tổn thương cho mình (cào, tự cắt vào da thịt…), hoặc đã từng tự tử trước đây. Khi có những dấu hiệu này thì đây là một tình trạng báo động khẩn cấp và người bệnh cần phải được hỗ trợ, giám sát ngay lập tức để tránh những hậu quả đáng tiếc.

chúng tôi

Thuốc, Sức Khỏe, Các Bệnh, Tra Cứu Thuốc, Triệu Chứng, Điều Trị

Sung (vả) là loài cây có lịch sử hàng ngàn năm với phạm vi sinh sống trải rộng khắp nơi trên trái đất. Trái sung không phải là thực phẩm được sử dụng phổ biến nhưng từ lâu sung là một thành phần quan trọng trong nhiều bài thuốc nhờ tác dụng trị bệnh của nó.

Trái sung có tác dụng phòng ngừa táo bón vì trong sung có nhiều chất xơ. Nhờ đó, ăn sung cũng giúp ngừa đau bụng và chứng khó tiêu. Những người từng đau đầu vì muốn giảm cân hãy tìm đến trái sung. Chất xơ trong trái sung giúp bạn giảm cân nếu sử dụng thường xuyên.

Pectin là một loại chất xơ phổ biến trong thành phần trái sung. Chất này có khả năng hấp thụ cholesterol từ hệ tiêu hóa và đưa chúng ra ngoài cơ thể.

Trái sung cũng giàu phenol, a-xit béo omega 3 và omega 6, những vi chất tốt cho hệ tim mạch. Nhiều người tin rằng chất xơ trong trái sung có thể giảm nguy cơ mắc một số bệnh ung thư, đặc biệt là ung thư ruột kết và ung thư vú.

Những người bị tiểu đường nên áp dụng chế độ ăn giàu chất xơ, vì vậy trái và lá sung là lựa chọn không ngoan. Loại trái cây này giàu kali, vi chất giúp ổn định đường huyết. Chứng tăng huyết áp cũng được ổn định hơn với vi chất có trong trái sung. Tuổi cao sẽ khiến bạn có nguy cơ bị thoái hóa hoàng điểm dẫn đến giảm khả năng nhìn. Chế độ ăn có trái sung sẽ phòng ngừa được chứng bệnh này.

Đau họng cũng có thể được điều trị hiệu quả với trái sung nhờ hàm lượng chất nhầy cao. Trái sung được biết là có tác dụng củng cố hoạt động của gan. Trái này còn có khả năng điều trị một số bệnh về hô hấp như hen, ho gà. Chúng cũng tốt cho việc trị bệnh đau tai, mụn và bệnh đường sinh dục. Bạn có thể thưởng thức những món ăn ngon và lạ miệng với sung như: gỏi trái sung, trái sung non muối chua, dùng lá sung gói cuốn, đọt sung non luộc chấm kho quẹt…

Nguyên Nhân Triệu Chứng Và Cách Phòng Bệnh Giun Đũa

Nguyên Nhân Triệu Chứng Và Cách Phòng Bệnh Giun Đũa

Ở xứ nhiệt đới như Việt Nam, môi trường sinh sống và ăn uống vô cùng đa dạng, vấn đề lây nhiễm bởi các loại ký sinh trùng là khó tránh khỏi. Trong đó, nhiễm giun đũa khá phổ biến, đặc biệt là ở trẻ nhỏ. Triệu chứng bệnh giun đũa rất đa dạng, dễ nhầm lẫn với các bệnh lý khác. Vậy nên những hiểu biết về bệnh này là vô cùng cần thiết để bảo vệ sức khỏe cho chính bản thân và cả gia đình.

1. Nguyên nhân gây bệnh giun đũa:

Bệnh giun đũa có tên khoa học là Ascaris lumbricoides. Khác với các loài ký sinh trùng khác, đây là loại giun có kích thước khá lớn, như một con giun cái trưởng thành có chiều dài từ 20 đến 25 cm, giun đực là từ 15 đến 17cm. Giun có màu sắc trắng hay hồng, phần thân tròn còn phần đầu và phần đuôi thì thon nhọn. Vị trí ký sinh của giun đũa là ở ruột non của người.

Khi giun đũa cái đẻ trứng, nếu rơi vào trong đất, sau khoảng hai tuần, trứng giun sẽ phát triển thành ấu trùng giun. Nhiệt độ môi trường bình thường là vô cùng thuận lợi để ấu trùng giun tiếp tục vòng tuần hoàn. Trứng giun chỉ bị tiêu diệt với nhiệt độ từ trên 60 độ. Chính thói quen đi chân đất, tiếp xúc môi trường bên ngoài mà không có dụng cụ, phương tiện bảo vệ, không vệ sinh tay sạch sẽ,… là nguyên nhân gây bệnh giun đũa.

Ngoài ra, trẻ em cũng thường dễ bị nhiễm giun hơn người lớn, trẻ ở nông thôn cũng có tỷ lệ nhiễm giun cao hơn trẻ ở thành thị. Do trẻ nhỏ thường chưa có ý thức vệ sinh cá nhân, hay đi chân trần, cho tay vào miệng, nuôi dưỡng trong môi trường nhà trẻ,… nên đây là điều kiện dễ lây truyền.

Ở các vùng nông thôn, mặc dù đã có nhiều khuyến cáo, tập quán ăn rau sống, dùng phân tươi bón rau vẫn còn tồn tại. Trứng giun thải ra trong phân không được loại trừ dù cho có rửa rau kỹ lưỡng nhiều lần. Con đường lây nhiễm tạo thành vòng luẩn quẩn.

2. Triệu chứng bệnh giun đũa như thế nào?

Biểu hiện của nhiễm bệnh giun đũa không đặc trưng, dễ nhầm lẫn vào các bệnh lý khác.

Ở trẻ em, triệu chứng có thể là trẻ bị rối loạn tiêu hóa kéo dài, suy dinh dưỡng, còi cọc, cân nặng chậm phát triển.

Nếu có quá nhiều giun trong ruột, trẻ sẽ có biểu hiện của tắc ruột. Cụ thể là trẻ bị đau bụng quặn từng cơn kèm chướng bụng, táo bón. Nếu giun từ ruột non đi qua ống mật sẽ gây tắc mật, giun xuống ruột thừa gây viêm ruột thừa cấp.

Trẻ bị rối loạn tiêu hóa kéo dài, suy dinh dưỡng, còi cọc và trẻ bị đau bụng quặn từng cơn kèm chướng bụng là những biểu hiện của bệnh giun đũa.

Nếu giun đi lạc chỗ lên phổi, người bệnh có thể đến khám vì lý do khò khè, khó thở mạn tính hay biểu hiện cấp tính như đau ngực dữ dội, ho khan, sốt cao.

Một số trường hợp hiếm gặp là thấy được giun sống chui ra từ phân khi trẻ đi tiêu hay bắt gặp giun chui ra từ miệng, mũi khi trẻ ngủ hay ho, sặc.

3. Cách nào để phòng chống nhiễm giun đũa?

Để phòng chống nhiễm bệnh giun đũa cũng như các loại ký sinh trùng khác nói chung, không có biện pháp nào hiệu quả hơn là thực hành vệ sinh sạch sẽ.

– Vệ sinh tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh, lau dọn nhà cửa, vật dụng, đồ chơi của trẻ thường xuyên với nước sát trùng.

-  Luôn ăn thức ăn đã nấu chín, nước đun sôi để nguội.

– Hạn chế ăn rau sống; nếu cần, nên rửa rau kỹ lưỡng nhiều lần với nước rửa rau chuyên dụng.

– Không đi chân trần; nếu làm vườn, dọn rác, cây cỏ, cần đi ủng, mang khẩu trang, găng tay. Không được dùng phân tươi để bón rau, bón cây.

– Đối với nhà vệ sinh, cống rãnh thoát nước, cần thường xuyên quét dọn, xử lý hóa chất diệt trùng thân thiện môi trường.

-  Đồng thời, cần có thói quen uống thuốc tẩy giun định kì mỗi sáu tháng cho cả gia đình. Thuốc có tác dụng không chỉ trên giun đũa và còn giúp diệt trừ các loại giun sán khác.

Tuy điều kiện sống ngày nay đã phát triển, nhưng nguy cơ lây nhiễm giun vẫn chưa loại trừ hoàn toàn. Giữ vệ sinh sạch sẽ, ăn chín uống sôi là việc đơn giản nhất để phòng tránh nhiễm giun, bảo vệ sức khỏe của bạn.

Liên hệ khám bệnh ký sinh trùng tại Phòng khám Chuyên khoa Ký sinh trùng 76 Trần Tuấn Khải, phường 5, quận 5, TP. HCM. Phòng khám mở của từ 7 giờ sáng đến 5 giờ chiều, hoạt động từ thứ 2 đến thứ 7, nghỉ ngày CN. Do các bác sĩ Chuyên khoa Ký sinh trùng giàu kinh nghiệm trực tiếp khám và điều trị./.

PHÒNG KHÁM KÝ SINH TRÙNG

76 TRẦN TUẤN KHẢI, TP.HCM

TRỊ MẨN NGỨA DA DO GIUN SÁN

 ĐC: 76 Trần Tuấn Khải, P.5, Q.5, TP. HCM

Bác sĩ của bạn: 0877688286 

Làm việc từ thứ 2 – 7, Nghỉ ngày CN

Bạn đang xem bài viết Các Triệu Chứng Của Bệnh Trầm Cảm trên website 3mienmoloctrungvang.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!