Xem Nhiều 2/2023 #️ Các Xét Nghiệm Dùng Trong Bệnh Lý Gan Và Túi Mật # Top 8 Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Xem Nhiều 2/2023 # Các Xét Nghiệm Dùng Trong Bệnh Lý Gan Và Túi Mật # Top 8 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Các Xét Nghiệm Dùng Trong Bệnh Lý Gan Và Túi Mật mới nhất trên website 3mienmoloctrungvang.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bilirubin, sắc tố mật, được sản xuất từ sự thoái hóa protein heme, chủ yếu từ heme của hemoglobin trong hồng cầu. Bilirubin không liên hợp (tự do) không hòa tan trong nước và do đó không thể bài tiết qua nước tiểu; Hầu hết bilirubin không liên hợp gắn với albumin trong huyết tương. Bilirubin được kết hợp trong gan với axit glucuronic để hình thành nên bilirubin liên hợp dễ tan trong nước hơn. Bilirubin liên hợp sau đó được bài tiết qua đường mật vào tá tràng, tại đó được chuyển hóa thành urobilinogens (một số được hấp thu lại và tái phân bố vào đường mật), sau đó là urobilin có màu da cam (hầu hết được thải ra phân). Những sắc tố mật này làm cho phân có màu điển hình của nó.

Tăng bilirubin máu là kết quả của một hoặc nhiều trường hợp sau đây:

Tăng sản xuất bilirubin

Giảm hấp thu và kết hợp bilirubin trong gan

Giảm bài tiết mật (xem Vàng da)

Thông thường, phần lớn bilirubin dạng tự do với các giá trị < 1,2 mg/dL (< 20 μmol/L). Đo tỷ lệ bilirubin liên hợp (trực tiếp, gọi như vậy vì được đo trực tiếp mà không cần dung môi). Cách đo này hữu ích nhất trong đánh giá bệnh vàng da sơ sinh và đánh giá bilirubin tăng cao trong khi kết quả xét nghiệm gan bình thường – cho thấy bệnh lý gan mật không phải là nguyên nhân.

Bilirubin niệu phản ánh sự hiện diện của bilirubin liên hợp trong nước tiểu; bilirubin trong nước tiểu vì nồng độ trong máu tăng đáng kể, biểu hiện bệnh ở mức độ nặng. Bilirubin không liên hợp không tan trong nước và gắn vào albumin và do đó không thể bài tiết qua nước tiểu. Bilirubin niệu có thể được tự phát hiện với các que thử nước tiểu, gặp trong viêm gan vi rút cấp tính hoặc các rối loạn gan mật khác, ngay cả trước khi triệu chứng vàng da xuất hiện. Tuy nhiên, độ chính xác trong chẩn đoán dựa vào các xét nghiệm nước tiểu không cao. Kết quả có thể là âm tính giả khi mẫu nước tiểu được lưu trữ trong một thời gian dài, vitamin C đã bị tiêu hóa, hoặc nước tiểu có nitrat (ví dụ do nhiễm trùng đường tiểu). Tương tự, xét nghiệm tăng urobilinogen không đặc hiệu cũng không nhạy.

Xét Nghiệm Chức Năng Gan Gồm Những Gì? Hướng Dẫn Xem Các Chỉ Số Xét Nghiệm Gan

1. Xét nghiệm chức năng gan là gì?

Các xét nghiệm chức năng gan giúp bác sĩ kiểm tra chức năng của gan và phát hiện các tổn thương gan. Những xét nghiệm máu này đo nồng độ protein và enzyme trong máu của bạn.

Xét nghiệm chức năng gan thường được khuyến nghị trong các tình huống sau:

Kiểm tra thiệt hại do nhiễm trùng gan, như viêm gan B và viêm gan C

Theo dõi tác dụng phụ của một số loại thuốc được biết là ảnh hưởng đến gan

Tiền sử bệnh gan, để theo dõi bệnh và cách điều trị đặc biệt hiệu quả

Người bệnh gặp các triệu chứng rối loạn gan

Người bệnh có điều kiện y tế như triglyceride cao, tiểu đường , huyết áp cao hoặc thiếu máu

Uống rượu nhiều

2. Một số xét nghiệm chức năng gan phổ biến

Một số xét nghiệm chức năng gan thành các nhóm như sau:

Nhóm xét nghiệm đánh giá tình trạng hoại tử gan.

Nhóm xét nghiệm khảo sát chức năng bài tiết và khử độc.

Nhóm xét nghiệm khảo sát chức năng tổng hợp.

2.1 Nhóm xét nghiệm đánh giá tình trạng hoại tử tế bào gan

AST (Aspartate aminotransferase) hiện diện ở cơ tim và cơ vân nhiều hơn ở gan. Ngoài ra, AST còn có ở thận, não, tụy, phổi, bạch cầu và hồng cầu. Bình thường AST < 40 UI/L.

ALT (Alanine aminotransferase) hiện diện chủ yếu ở bào tương của tế bào gan cho nên sự tăng ALT nhạy và đặc hiệu hơn AST trong các bệnh gan. Bình thường ALT < 40 UI/L.

Các transaminase tăng trong hầu hết các bệnh về gan nhưng không hoàn toàn đặc hiệu cho gan vì còn tăng trong các bệnh khác như nhồi máu cơ tim, tổn thương cơ vân (viêm cơ, loạn dưỡng cơ), cường giáp hoặc nhược giáp, bệnh celiac… Ngược lại, các enzyme này có thể bị giảm giả tạo khi có tăng urê máu.

Tăng vừa (< 300 UI/L) gặp trong viêm gan do rượu. Transaminase tăng chủ yếu là AST nhưng trị số không quá 2-10 lần giới hạn trên mức bình thường.

Tăng nhẹ (< 100 UI/L) có thể gặp trong viêm gan virus cấp, nhẹ và bệnh gan mạn tính khu trú hay lan tỏa (xơ gan, viêm gan mạn, di căn gan), tình trạng tắc mật hoặc gan nhiễm mỡ. Đối với vàng da tắc mật, đặc biệt là sỏi ống mật chủ, ALT thường tăng < 500 UI/l.

Lactate dehydrogenase (LDH) Là xét nghiệm không chuyên biệt cho gan vì men này có ở khắp các mô trong cơ thể (tim, cơ, xương, thận, hồng cầu, tiểu cầu, hạch bạch huyết). LDH tăng cao và thoáng qua gặp trong hoại tử tế bào gan, sốc gan. Tăng LDH kéo dài kèm tăng ALP gợi ý đến các tổn thương thâm nhiễm ác tính ở gan.

Ferritin: là một loại protein dự trữ sắt ở trong tế bào, giữ nhiệm vụ điều chỉnh sự hấp thu sắt ở đường tiêu hóa tùy theo nhu cầu của cơ thể.

Bình thường, ferritin ở nam 100-300 mg/L, ở nữ 50-200 mg/L. Giảm ferritin gặp trong ăn thiếu chất sắt, thiếu máu thiếu sắt, ăn chay trường, xuất huyết rỉ rả, thiếu máu tán huyết mạn, người cho máu thường xuyên, chạy thận nhân tạo. Tăng ferritin còn gặp trong bệnh ứ sắt mô, bệnh ung thư (gan, phổi, tụy, vú, thận), bệnh huyết học (bệnh Hodgkin, bạch cầu cấp), hội chứng viêm và nhiễm trùng, bệnh thể keo (collagenosis), ngộ độc rượu, thiếu máu tán huyết, thalassemia…

2.2 Nhóm xét nghiệm khảo sát chức năng bài tiết và khử độc

Bilirubin huyết thanh

Tăng bilirubin GT (thuờng < 15 mg/dL): có thể do tăng sản xuất bilirubin (tán huyết, tạo hồng cầu không hiệu quả, tái hấp thu từ khối máu tụ) hoặc do giảm sự bắt giữ bilirubin tại tế bào gan (hội chứng Gilbert).

Bilirubin niệu

Chỉ hiện diện ở dạng bilirubin TT. Khi có bilirubin niệu, chắc chắn có vấn đề về gan mật. Bilirubin niệu được phát hiện nhanh chóng nhờ que nhúng. Kết quả có thể dương tính trước khi có vàng da rõ trên lâm sàng nhưng đến khi bệnh nhân hết vàng da, bilirubin niệu trở về âm tính trước khi giảm bilirubin huyết.

Urobilinogen

Là chất chuyển hóa của bilirubin tại ruột, được tái hấp thu vào máu theo chu trình ruột – gan và sau đó cũng được bài tiết qua nước tiểu. Trong trường hợp tắc mật hoàn toàn, sẽ không có urobilinogen trong nước tiểu. Urobilinogen tăng trong nước tiểu gặp trong trường hợp tán huyết (tăng sản xuất), xuất huyết tiêu hóa hoặc bệnh lý gan. Bình thường urobilinogen 0,2 – 1,2 đơn vị (phương pháp Watson).

Phosphatase kiềm (alkaline phosphatase, ALP)

ALP là enzym thủy phân các ester phosphat trong môi trường kiềm (pH = 9). Nguồn gốc chủ yếu của ALP là ở gan và xương. Ở ruột, thận và nhau thai thì ít hơn. Bình thường ALP 25 – 85 U/L hoặc 1,4 – 4,5 đơn vị Bodansky.

ALP tăng nhẹ và vừa (hai lần bình thường) có thể gặp trong viêm gan, xơ gan, di căn hoặc thâm nhiễm ở gan (bệnh bạch cầu, lymphoma, sarcoidosis). ALP tăng cao (3-10 lần bình thường) thường do tắc mật trong hoặc ngoài gan.

5′ Nucleotidase (5NT)

Đây là một ALP tương đối chuyên biệt cho gan, giúp xác định tình trạng tăng ALP là do gan hay do xương hoặc do các trạng thái sinh lý như trẻ em đang tuổi tăng trưởng hoặc phụ nữ có thai. Sự tăng 5NT có tương quan với mức tăng ALP. Bình thường 5NT 0,3 – 2,6 đơn vị Bodansky/dL

-g-glutamyl transferase , g-glutamyl transpeptidase (GGT, g-GT)

Bình thường GGT # 30 U/L ở nữ và # 50 U/L ở nam. Nguyên nhân thường gặp nhất là tình trạng nghiện rượu mạn tính, tắc mật, sau uống một số thuốc gây cảm ứng enzym ở gan (acetaminophen, phenytoin) và một số trường hợp gan nhiễm mỡ không do rượu. Ngoài ra còn tăng trong suy thận, nhồi máu cơ tim, viêm tụy cấp, đái tháo đường, cường giáp, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

Amoniac máu (NH3)

NH3 được sản xuất từ chuyển hóa bình thường của protein trong cơ thể và do vi khuẩn sống ở đại tràng. Gan giữ nhiệm vụ khử độc NH3 bằng cách chuyển thành urê để thải qua thận.

Bình thường NH3 máu 5-69 mg/dL. NH3 tăng trong các bệnh gan cấp và mạn tính. NH3 máu không phải là xét nghiệm đáng tin cậy để chẩn đoán bệnh não do gan. NH3 có thể trở về bình thường khoảng 48 – 72 giờ trước khi có cải thiện tình trạng thần kinh.

2.3 Nhóm xét nghiệm chức năng tổng hợp

Phần lớn các protein huyết tương được tổng hợp từ gan.

Albumin huyết thanh

Gan là nơi duy nhất tổng hợp albumin cho cơ thể. Albumin duy trì áp lực keo trong lòng mạch và là chất vận chuyển các chất trong máu đặc biệt là thuốc. Bình thường albumin 35 -55 g/L. Lượng albumin máu chỉ giảm trong các bệnh gan mạn tính (xơ gan) hoặc khi tổn thương gan rất nặng. Ở bệnh nhân xơ gan cổ trướng, lượng albumin giảm còn do bị thoát vào trong dịch báng. Ngoài ra còn gặp trong suy dinh dưỡng hoặc bị mất albumin bất thường qua đường tiểu (hội chứng thận hư) hoặc qua đường tiêu hóa (viêm đại tràng mạn).

Globulin huyết thanh

Được sản xuất từ nhiều nơi khác nhau trong cơ thể, bao gồm nhiều loại protein vận chuyển các chất trong máu và các kháng thể tham gia hệ thống miễn dịch thể dịch. Bình thường globulin 20 – 35 g/L.

Trong xơ gan globulin tăng cao. Ngoài ra, kiểu tăng của các loại globulin cũng có thể gợi ý đến một số bệnh gan đặc biệt, ví dụ IgG tăng trong viêm gan tự miễn, IgM tăng trong xơ gan ứ mật nguyên phát.

Thời gian Prothrombin (PT)

Là thời gian chuyển prothrombin thành thrombin khi có sự hiện diện của thromboplastin và Ca++ cùng các yếu tố đông máu. Để chuẩn hóa kết quả PT, người ta thường chuyển đổi thành INR (International Normalized Ratio). Bình thường INR = 0,8-1,2.

Khi PT kéo dài thường là dấu hiệu tiên lượng nặng. Thiếu vitamin K do tắc mật kéo dài hay rối loạn hấp thu mỡ (tiêu chảy mỡ, viêm tụy mạn) cũng làm PT kéo dài nhưng khi tiêm 10 mg vitamin K, PT sẽ trở về ít nhất 30% mức bình thường trong vòng 24 giờ (nghiệm pháp Kohler). Trước khi phẫu thuật hoặc làm sinh thiết gan, phải kiểm tra chức năng đông máu.

Hiện nay Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec có các gói Sàng lọc Gan mật, giúp phát hiện Virus viêm gan ở giai đoạn sớm ngay cả khi chưa có triệu chứng. Ngoài ra, Gói sàng lọc gan mật toàn diện giúp khách hàng:

Đánh giá khả năng làm việc của gan thông qua các xét nghiệm men gan;

Đánh giá chức năng mật; dinh dưỡng lòng mạch;

Tầm soát sớm ung thư gan;

Thực hiện các xét nghiệm như Tổng phân tích tế bào máu, khả năng đông máu, sàng lọc viêm gan B,C

Đánh giá trạng thái gan mật qua hình ảnh siêu âm và các bệnh có nguy cơ ảnh hưởng gây ra bệnh gan/làm bệnh gan nặng hơn

Phân tích sâu các thông số đánh giá chức năng gan mật thông qua xét nghiệm, cận lâm sàng; các nguy cơ ảnh hưởng đến gan và tầm soát sớm ung thư gan mật

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

Tham khảo từ nguồn: Viện Pauster

Xét Nghiệm Ggt Đánh Giá Chỉ Số Men Gan

GGT là 1 xét nghiệm chức năng gan quan trọng cùng với GPT (ALT) và GOT (AST). Khi cả 3 chỉ số này đều tăng thì tức là gan bị tổn thương, thường gặp nhất là viêm gan, nhất là do bia, rượu.

Chỉ số GGT mức bình thường ở nam là 11-50 UI/L, nữ là 07-32 UI/L. Một số người có GGT tăng cao thì đó còn là tình trạng viêm gan, u bướu ở gan, ống dẫn mật, xơ gan… Bên cạnh đó, xét nghiệm GGT tăng ở những bệnh nhân bị suy tim hoặc dùng các loại thuốc kháng sinh, thuốc chống nấm, thuốc giảm đau chống viêm như Voltaren, Naproxen, Ibuprofen, thuốc trị động kinh…

Xét nghiệm chỉ số GGT thường làm với các xét nghiệm khác để đánh giá chức năng gan như GPT, GOT. Đây là 3 xét nghiệm chính về gan. Nếu cả 3 men gan đều bình thường và các chỉ số mật cũng bình thường thì có thể ống dẫn mật và gan đều bình thường. Tuy vậy, cũng không trừ khả năng men gan đều bình thương nhưng vẫn có bệnh về gan. Ở những người uống rượu nhiều thì đây chính là nguyên nhân dẫn đến GGT tăng cao.

2. Nguyên nhân khiến chỉ số GGT tăng cao Có rất nhiều lý do khiến chỉ số GGT tăng cao nhanh chóng như:

Sử dụng một số loại thuốc không rõ nguồn gốc gây tổn hại chức năng gan.

3. Xét nghiệm GGT tăng cao cần phải làm gì? Khi xét nghiệm GGT tăng cao cần thực hiện một số biện pháp sau để giúp xác định rõ tình trạng cũng như có phác đồ điều trị kịp thời :

Có chế độ ăn uống và nghỉ ngơi hợp lý, tránh căng thẳng và stress.

Tác giả: Dr.Peeng

Xét nghiệm GGT là một xét nghiệm quan trọng trong việc đánh giá và chẩn đoán các bệnh về gan, đặc biệt là viêm gan B. Khi có những triệu chứng như đau tức hạ sườn phải, mệt mỏi chán ăn, vàng da, vàng mắt,… giúp xác định để sớm có phương pháp điều trị bệnh hiệu quả nhất, giảm thiểu các biến chứng như: xơ gan, u gan, ung thư gan, viêm gan tắc mật, nhồi máu cơ tim,…Vì vậy, định kì nên có kế hoạch thực hiện xét nghiệm kiểm tra lượng GGT theo hướng dẫn của bác sĩ.

Được thành lập năm 1998, trong suốt quá trình hình thành và phát triển Phòng khám Binh Minh được sự quan tâm, cộng tác, giúp đỡ của nhiều Giáo sư, Tiến sĩ, Chuyên viên đầu ngành, Bác sĩ tại các bệnh viện lớn của trung ương và Hà Nội.

Phòng khám đã phát triển vượt bậc với nhiều chuyên khoa sâu như: Tim mạch, Thần kinh, Tiêu hoá, Gan mật, Nội tiết -Tiểu đường, Thận tiết niệu, Nam khoa, Phụ sản, Cơ xương khớp, Tai mũi họng…

Xét Nghiệm Transaminase (Alt Hay Alat Và Asat Hay Ast) Trong Đánh Giá Chức Năng Gan

(Transaminases sériques: ALAT [GPT], ASAT [GOT] / Alanine Aminotransferase [ALT], Serum Glutamic Pyruvic Transaminase [SGPT], Aspartate Aminotransferase [AST], Serum Glutamic Oxaloacetic transaminase [SGOT])

Transaminase là gì ?

Transaminase là các enzym được phân bố rộng trong tế bào có vai trò cơ bản là chuyển nhóm NH2 của một acid amin (alanin hay acid aspartic) tới một acid cetonic (acid alpha – cetoglutaric). Vì vậy, người ta tách biệt:

AST được giải phóng vào vòng tuần hoàn sau khi xẩy ra tình trạng tổn thương hay chết của các tế bào chứa enzym này. Các AST có thời gian bán huỷ trong máu là 17h.

Cần nhắc lại là xác định hoạt độ CPK và các gamma GT thường cho phép định hướng chẩn đoán phân biệt nguồn gốc tăng transaminase máu:

Tăng CPK: Nguồn gốc cơ tim hay cơ vân.

Tăng gamma GT: Nguồn gốc gan mật hay tụy.

Mục đích và chỉ định xét nghiệm

Xét nghiệm giúp xác định có tình trạng phân hủy tế bào (cytolyse) nhất là do nguồn gốc gan, cơ tim hay cơ vân. Vĩ vậy, xét nghiệm đo hoạt độ các transaminase thường được chỉ định để:

1. Đánh giá tình trạng tổn thương gan.

2. Theo dõi tác động độc trên tế bào gan của các thuốc sử dụng có nguy cơ gây độc cho gan.

3. Đánh giá tình trạng tổn thương cơ tim trong NMCT (hiện nay ít được sử dụng).

Ghì chú: 1. Hoạt độ các transaminase huyết thanh tương đối ổn định trong một thời gian, vì vậy huyết thanh có thể được bảo quản 24h ở nhiệt độ phòng hay 48h ở 4°c. Nửa đời sống của AST là 18 giờ và nửa đời sống của ALT là 48 giờ.

2. Tách hồng cầu phải được tiến hành nhanh do vỡ hồng cầu làm XÉT NGHIỆM không chính xác.

3. Khi muốn đánh giá tình trạng nhồi máu cơ tim, XÉT NGHIỆM hoạt độ AST (hay GOT) thường được tiến hành trong vòng 3 ngày liên tiếp và sau đó 1 tuần.

– AST (hay GOT)

■ Nam: < 25UI/L.

■ Nữ: < 21 UI/L.

■ Người già: Tãng nhẹ so với giá trị bình thường.

■ Trẻ sơ sinh: Tăng 2 – 3 lần giá trị bình thường. –

ALT (hay GPT)

■ Nam: < 22 UI/L.

■ Nữ: < 17 UI/L.

Tăng hoạt độ ALT

Các nguyên nhân chính thường gặp là:

1. Bệnh lý gan:

– AST/ALT < 1

■ Viêm gan do virus (viêm gan A, viêm gan B, viêm gan không phải A – không phải B, tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng, viêm gan do cytomegalovirus).

■ Viêm gan do thuốc (riíampicin, INH, salicylat, heparin).

■ Viêm gan nhiễm độc (CC14, amanit phalloid).

■ Tắc mật do các nguyên nhân không phải là ung thư.

■ Viêm gan do rượu (alcohol – induced hepatitis).

■ Xâm nhiễm gan (Vd: do di căn ung thư, nhiễm sarcoid, lao, u lympho, luput ban đỏ).

3. Suy giáp với phù niêm.

4. Suy tim mất bù (gan xung huyết).

5. Sốc (thiếu máu cục bộ gan).

6. Các nguyên nhân khác:

Nhiễm độc thai nghén hay tiền sản giật (Hội chứng HELLP).

Viêm tụy.

Nhồi máu phổi.

Hội chứng Reye.

Chấn thương.

Thiếu hụt camitin tiên phát.

Nhồi máu cơ tim.

Viêm cơ tim.

Bóp tim ngoài lồng ngực.

Phẫu thuật tim, sau thông tim

Suy tim mất bù (gan xung huyết).

2. Các bệnh lý gan:

AST/ALT < 1

■ Viêm gan do virus (viêm gan A, viêm gan B, viêm gan không phải A – không phải B, tăng bạch càu đơn nhân nhiễm trùng, viêm gan do cytomegalovirus).

■ Viêm gan do thuốc (rifampicin, INH, salicylat, heparin).

■ Viêm gan nhiễm độc (CC14, amanit phalloid).

■ Tắc mật do các nguyên nhân không phải là ung thư.

■ Viêm gan do rượu (alcohol – induced hepatitis).

■ Xâm nhiễm gan (do di căn ung thư, nhiễm sarcoid, lao, u lympho, luput ban đỏ).

Viêm tụy cấp do mật.

Viêm tụy cấp do rượu.

3. Các bệnh lý tụy tạng:

Hội chứng vùi lấp.

Viêm đa cơ.

Viêm da và cơ.

Tăng thân nhiệt ác tính.

Bệnh loạn dưỡng cơ của Duchenne.

4. Các bệnh lý cơ:

5. Suy giáp với phù niêm.

Chấn thương não.

Di căn xương.

Ung thư tuyến tiền liệt.

Nhiễm độc thai nghén, tiền sản giật và sản giật (Vd: hội chứng HELLP).

Nhồi máu phổi.

Hội chứng Reye.

Bỏng nặng.

Thiếu hụt camitin tiên phát.

6. Các nguyên nhân khác:

Các nguyên nhân chính thường gặp là:

1. Bệnh Beriberi (thiếu vitamin B1).

2. Tình trạng thiếu hụt pyridoxal phosphat (Vd: suy dinh dưỡng, bệnh gan do rượu).

3. Nhiễm toan cetôn do đái tháo đường.

4. Lọc máu mạn.

5. Có thai.

6. Hội chứng urê máu cao.

Mầu bệnh phẩm bị vỡ hồng cầu có thể làm thay đổi kết quả XÉT NGHIỆM.

Có rất nhiều thuốc có thê làm tăng hoạt độ AL T như: Thuốc ức chế men chuyển angiotensin, acetaminophen, thuốc chống co giật, một số loại kháng sinh, thuốc điều trị tâm than, benzodiazepin, estrogen, sulfat sat, heparin, interferon, thuốc làm giảm mỡ máu, thuốc chống viêm không phải steroid, salicylat, thuốc lợi tiểu loại thiazid. Các thuốc có thể làm tăng hoạt độ AST là: Acetaminophen, allopurinol, một số loại kháng sinh, acid ascorbic, chlpropamid, cholestyramin, cholinergic, clofibrat, codein, statin, hydralazin, isoniazid, meperidin, methyldopa, morphin, thuốc ngừa thai uống, phenothiazin, procainamid, pyridoxin, salicylat, sufonamid, verapamil, vitamin A.

Các thuốc có the làm giảm hoạt độ AST là: Metronidazol, trifluoperazin.

Các yếu tố góp phần làm thay đổi kết quả xét nghiệm

Lợi ích của xét nghiệm đo hoạt độ transaminase

1. Xét nghiệm hữu ích trong bệnh lý tim để phát hiện nhồi máu cơ tim hay viêm cơ tim (khi phối hợp với định lượng CPK và/hoặc troponin).

3. Xét nghiệm không thế thiếu để tiếp tục theo dõi các Bệnh nhân nghiện rượu được điều trị thuốc kháng lao (nguy cơ viêm gan do thuốc).

Các hướng dẫn thực hành lâm sàng dựa trên y học bằng chứng

Bạn đang xem bài viết Các Xét Nghiệm Dùng Trong Bệnh Lý Gan Và Túi Mật trên website 3mienmoloctrungvang.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!