Xem Nhiều 2/2023 #️ Cái Hay Của Thơ Mới (1932 # Top 3 Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Xem Nhiều 2/2023 # Cái Hay Của Thơ Mới (1932 # Top 3 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Cái Hay Của Thơ Mới (1932 mới nhất trên website 3mienmoloctrungvang.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Ngày Thơ Việt Nam được tổ chức tại Văn miếu Quốc Tử Giám

Ban biên tập xin giới thiệu bài viết của tác giả Bảo Châu về “Cái hay của Thơ mới”. Trong bài viết này, tác giả đã tập trung làm phân tích những nội dung như: sự khẳng định “cái tôi”, nỗi buồn cô đơn, cảm hứng thiên nhiên và tình yêu cũng như đề cập đến một số đặc sắc về nghệ thuật trong Thơ mới.

Ngày nay, khi nhắc đến hai từ “Thơ mới”, ngay lập tức người ta nghĩ ngay đến một thời kì trong tiến trình phát triển rực rỡ của lịch sử văn học dân tộc. Người ta lại biết đến Thơ mới qua các bài thơ tiêu biểu của các tác giả nổi danh như Xuân Diệu, Thế Lữ, Huy Cận, Chế Lan Viên, Đông Hồ, Nguyễn Nhược Pháp, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính… Nhưng ít ai biết được rằng, để có được một phong trào thơ với đúng như tên gọi của nó, thế hệ văn nghệ sĩ thời bấy giờ đã trải qua những bước thăng trầm như thế nào.

Thật vậy, phong trào Thơ mới (1932 – 1945) khi đang còn trong thời kì “trứng nước” đã phải đối mặt với không ít những ý kiến, quan điểm phản đối gay gắt , mạnh mẽ của “thơ cũ”. Xã hội truyền thống Việt Nam chưa “cho phép”, chưa “chuẩn bị” để làm một cuộc “cách mạng trong thi ca”. Vì vậy, vào một ngày nọ (10 – 3 – 1932) “Cuộc cách mạng trong thi ca đã nhóm dậy” (Hoài Thanh – Hoài Chân). Lần đầu tiên trong thành trì thơ cũ hiện ra một lỗ thủng với bài thơ “Tình già” của Phan Khôi trên tờ Phụ nữ Tân văn. Nói như Huy Cận trong bài phát biểu nhân kỉ niệm 60 năm phong trào Thơ mới (15 – 02 – 1992) “Bây giờ đây, Thơ mới đã nghiễm nhiên nằm trong văn mạch dân tộc và là một chương rất quan trọng trong lịch sử văn học nước nhà. Nhưng hồi đó (1932) Thơ mới là nỗi niềm, thái độ, là một cuộc ra trận của cả một thế hệ văn chương, một lực lượng trẻ văn hoá dân tộc quyết đổi mới cả một nền văn thơ, văn chương đã mỏi mòn, khô cứng, bạc màu”.

Tổng kết về Thơ mới, Hoài Thanh, Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam đã khẳng định: “Không lấy một người so sánh với một người, hãy lấy thời đại so sánh với thời đại. Tôi quyết rằng chưa có thời đại nào phong phú như thời đại này trong lịch sử thi ca Việt Nam. Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên và tha thiết, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu”.Thơ mới tạo lập và chứa đựng nhiều nỗi niềm, là một phong trào thơ, một nền thơ, các nhà Thơ mới có quan điểm thẩm mĩ, có những cách thể hiện riêng được định hình thông qua các nhà thơ tiêu biểu, từ đó chi phối cả nền thơ.

1. Sự khẳng định “cái tôi”

Trước hết, Thơ mới thể hiện “cái tôi” cá nhân (In-di-vi-du) một cách rõ rệt. “Cái tôi” trong Thơ mới có cái tinh tươm, tinh tường của nó và cái lớn muốn hòa vào đại dương, muốn đẩy xa không ngừng cả lớp sóng của cả trường giang. “Cái tôi” khi vừa mới phát hiện ra, nó đã đem lại cho ta nhiều giá trị mới. Nó thể hiện sự cách tân của thơ vì cuộc đời và lẽ sống. “Cái tôi” trong Thơ mới xuất hiện gắn liền với từng lớp thị dân, gắn với nền văn minh công nghiệp, đó vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của nền văn hoá mới. Các nhà Thơ mới đều có ý thức khẳng định mình như một thực thể duy nhất không lặp lại.

Nền văn học trung đại trong khuôn khổ chế độ phong kiến chủ yếu là một nền văn học phi ngã. Sự cựa quậy, bứt phá tìm đến bản ngã đã ít nhiều xuất hiện trong thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ,… Đến phong trào Thơ mới, “cái tôi” ra đời đòi được giải phóng cá nhân, thoát khỏi luân lí lễ giáo phong kiến chính là sự tiếp nối và đề cao cái bản ngã đã được khẳng định trước đó. Đó là một sự lựa chọn khuynh hướng thẩm mỹ và tư duy nghệ thuật mới của các nhà Thơ mới.Ý thức về “cái tôi” đã đem đến một sự đa dạng phong phú trong cách biểu hiện. “Cái tôi” với tư cách là một bản thể, một đối tượng nhận thức và phản ánh của thơ ca đã xuất hiện như một tất yếu văn học. Đó là con người cá tính, con người bản năng chứ không phải con người ý thức nghĩa vụ, giờ đây nó đàng hoàng bước ra “trình làng” (chữ dùng của Phan Khôi). Xuân Diệu – “nhà thơ mới nhất trong các nhà Thơ mới” (Hoài Thanh) lên tiếng trước:

“Tôi là con chim đến từ núi lạ,

Ngứa cổ hót chơi”

“Tôi là con nai bị chiều đánh lưới,

Không biết đi đâu, đứng sầu bóng tối”

Có khi đại từ nhân xưng “tôi” chuyển thành “anh”:

“Anh nhớ tiếng, anh nhớ hình, anh nhớ ảnh.

Anh nhớ em, anh nhớ lắm em ơi!”

Thảng hoặc có khi lại là “Ta”:

“Ta là Một, là Riêng là Thứ Nhất.

Không có chi bè bạn nổi cùng ta”

Thơ mới đề cao “cái tôi” như một sự cố gắng cuối cùng để khẳng định bản ngã của mình và mong được đóng góp vào “văn mạch dân tộc”, mở đường cho sự phát triển của thi ca Việt Nam hiện đại.

2 . Nỗi buồn cô đơn

Trong bài Về cái buồn trong Thơ mới, Hoài Chân cho rằng “Đúng là Thơ mới buồn, buồn nhiều”, “Cái buồn của Thơ mới không phải là cái buồn ủy mị, bạc nhược mà là cái buồn của những người có tâm huyết, đau buồn vì bị bế tắc chưa tìm thấy lối ra”.

“Cái tôi” trong Thơ mới trốn vào nhiều nẻo đường khác nhau, ở đâu cũng thấy buồn và cô đơn. Nỗi buồn cô đơn tràn ngập trong cảm thức về Tiếng thu với hình ảnh:

“Con nai vàng ngơ ngác

Đạp trên lá vàng khô”

Với Chế Lan Viên đó là Nỗi buồn thương nhớ tiếc dân Hời (dân Hời tức là dân Chàm):

“Đường về thu trước xa xăm lắm

Mà kẻ đi về chỉ một tôi”

Nghe một tiếng gà gáy bên sông, Lưu Trọng Lư cảm nhận được nỗi buồn “Xao xác gà trưa gáy não nùng” còn Xuân Diệu lại thấy “Tiếng gà gáy buồn nghe như máu ứa”. Về điều này, Hoài Chân cho rằng “Xuân Diệu phải là người buồn nhiều, đau buồn nhiều mới viết được những câu thơ nhức xương như: “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối. Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”.

Nỗi buồn cô đơn là cảm hứng của chủ nghĩa lãng mạn. Với các nhà Thơ mới, nỗi buồn ấy còn là cách giải thoát tâm hồn, là niềm mong ước được trải lòng với đời và với chính mình.

Lưu Trọng Lư đã “mỉm cười trong thú đau thương”. Đồng thời, các nhà Thơ mới quan niệm rằng cô đơn, buồn chính là cái đẹp. Huy Cận đã từng bảo rằng “Cái đẹp bao giờ cũng hơi buồn”. Những quan niệm ấy có lẽ được khởi nguồn từ phương Tây khi nhà thơ Mĩ Edgar Allan Poe đã từng nói: “Giọng điệu buồn là giọng điệu thích hợp với thơ ca”. Rõ ràng, khi quan niệm như vậy thì việc thể hiện thế giới tự nhiên cũng đồng thời cho việc bộc bạch tâm trạng. Huy Cận đã phải thốt lên:

“Hồn đơn chiếc như đảo rời dặm biển”

Cả một thiên cổ sầu ngìn năm dồn chất vào trong một tâm hồn thơ. Hoài Thanh đã nhận xét trong Thi nhân Việt Nam rằng: “Các cụ nhà ta khi nhìn thấy một cô gái xinh đẹp thì có cảm giác tội lỗi”. Nhưng xã hội đã đổi mới rồi, “Một xã hội mới hình thành thay thế cho xã hội truyền thống. Một ý thức hệ mới đang hình thành thay cho ý thức hệ cố hữu. Một con người mới – dầu chưa phải là đa số quốc dân đang muốn hướng cuộc sống theo ý của họ. Những con người “ở nhà Tây, đội mũ Tây, đi giày Tây, mặc áo Tây…”.

Các nhà Thơ mới say sưa viết về những mối tình dang dở. Họ quan niệm:

“Tình chỉ đẹp khi còn dang dở

Đời mất vui khi đã vẹn câu thề”

Vũ Hoàng Chương như mất hết cả niềm đam mê, khi:

“Em ơi lửa tắt bình khô cạn

Đời vắng em rồi say với ai?”

Hàn Mặc Tử cũng “hoá dại khờ”:

“Người đi một nửa hồn tôi mất

Một nửa hồn tôi hóa dại khờ”

Chủ nghĩa lãng mạn thường viết về những đề tài thiên nhiên và tình yêu, hay thiên nhiên và tình yêu là đề tài rất phù hợp với các nhà thơ. Bởi vậy, Hoài Thanh đã từng khen hai câu thơ hay nhất trong nền thơ ca viết về đề tài mùa thu của Bích Khê: Tôi đã gặp trong những câu thơ hay vào bậc nhất trong thơ Việt Nam: “Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng. Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông”.

Thơ mới nói chung thường thích những cảnh “sông dài trời rộng”, những cảnh gợi cho người ta cảm giác bâng khuâng, man mác, cô đơn… Các nhà Thơ mới thích những đêm trăng lạnh, những buổi chiều tà mà tiêu biểu là Huy Cận với bài Tràng giang:

“Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

3. Cảm hứng về thiên nhiên và tình yêu

Ngay từ khi ra đời, Thơ mới đã đổi mới cảm xúc, đã tạo ra một cảm xúc mới trước cuộc đời và trước thiên nhiên, vũ trụ. Cảm hứng về thiên nhiên và tình yêu đã tạo nên bộ mặt riêng cho Thơ mới. Đó là vẻ đẹp tươi mới, đầy hương sắc, âm thanh, tràn trề sự sống.

Đây là cảnh mưa xuân trong thơ Nguyễn Bính:

“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay

Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy”

Và đây là hình ảnh buổi trưa hè:

“Buổi trưa hè nhè nhẹ trong ca dao.

Có cu gáy và bướm vàng nữa chứ”

Trong thơ Chế Lan Viên có không ít những hình ảnh như:

“Bướm vàng nhè nhẹ bay ngang bóng

Những khóm tre cao rủ trước thành”

Tất cả gợi lên hình ảnh quê hương bình dị, thân thuộc với mỗi người Việt Nam. Những cung bậc của tình yêu đã làm thăng hoa cảm xúc các nhà Thơ mới.

“Ông hoàng của thơ tình” Xuân Diệu bộc bạch một cách hồn nhiên:

“Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá

Chỉ biết yêu thôi chẳng biết gì”

Khác với Xuân Diệu, nhà thơ Chế Lan Viên cảm nhận thân phận bằng nỗi cô đơn sầu não:

“Với tôi tất cả như vô nghĩa

Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau”

Nói chung, Thơ mới thể hiện nỗ lực sáng tạo hình thức thơ ca. Có thể nói trong Thơ mới, có nhiều câu thơ rất mới lạ so với thơ ca truyền thống. Cái mới ấy được biểu hiện trong cách thể hiện của các nhà thơ chịu ảnh hưởng bởi Baudelaire và trường phái tượng trưng Pháp, với những câu thơ đầy tính “nổi loạn” như:

“Ô kìa! Bóng nguyệt trần truồng tắm

Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe”

Và đây là những câu thơ hoàn toàn mới lạ của Xuân Diệu:

“Hơn một loài hoa đã rụng cành

Trong vườn sắc đỏ rủa màu xanh”

4. Một số đặc sắc về nghệ thuật

Thơ mới là một bước phát triển quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học nước nhà những năm đầu thế kỉ XX với những cuộc cách tân nghệ thuật sâu sắc.

Về thể loại, ban đầu Thơ mới phá phách một cách phóng túng nhưng dần dần trở về với các thể thơ truyền thống quen thuộc như thơ ngũ ngôn, thất ngôn, thơ lục bát. Các bài thơ ngũ ngôn có Tiếng thu (Lưu Trọng Lư), Ông đồ (Vũ Đình Liên), Em đi chùa Hương (Nguyễn Nhược Pháp)… Các nhà thơ Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, chúng tôi chủ yếu viết theo thể thơ thất ngôn, còn Nguyễn Bính, Thế Lữ lại dùng thể thơ lục bát v.v…

Cách hiệp vần trong Thơ mới rất phong phú, ít sử dụng một vần (độc vận) mà dùng nhiều vần như trong thơ cổ phong trường thiên: vần ôm, vần lưng, vần chân, vần liên tiếp, vần gián cách hoặc không theo một trật tự nhất định:

“Tiếng địch thổi đâu đây

Cớ sao nghe réo rắt

Lơ lửng cao đưa tận chân trời xanh ngắt

Mây bay… gió quyến, mây bay

Tiếng vi vút như khoan như dìu dặt

Như hắt hiu cùng hơi gió heo may”

Sự kết hợp giữa vần và thanh điệu tạo nên cho Thơ mới một nhạc điệu riêng.

Đây là những câu thơ toàn thanh bằng:

“Sương nương theo trăng ngừng lưng trời

Tương tư nâng lòng lên chơi vơi” (Xuân Diệu)

“Ô hay! Buồn vương cây ngô đồng

Thu mênh mông” (Bích Khê)

Ngoài việc sử dụng âm nhạc, Thơ mới còn vận dụng cách ngắt nhịp một cách linh hoạt:

“Thu lạnh / càng thêm nguyệt tỏ ngời

Đàn ghê như nước / lạnh / trời ơi!” (Xuân Diệu)

Ở một phương diện khác, cuộc cách tân về ngôn ngữ Thơ mới diễn ra khá rầm rộ. Thoát khỏi tính quy phạm chặt chẽ và hệ thống ước lệ dày đặc của “Thơ cũ”, Thơ mới mang đến cho người đọc một thế giới nghệ thuật giàu giá trị tạo hình và gợi cảm sâu sắc:

“Con đường nhỏ nhỏ, gió xiêu xiêu

Lả lả cành hoang nắng trở chiều” (Xuân Diệu)

“Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng

Đò biếng lười nằm mặc dưới sông trôi” (Anh Thơ)

Sự phong phú về thể loại, vần và nhạc điệu cùng với tính hình tượng, cảm xúc của ngôn ngữ đã tạo nên một phong cách diễn đạt tinh tế, bằng cảm giác, bằng màu sắc hội họa của thơ mới. Đây là bức tranh “Mùa xuân chín” được Hàn Mặc Tử cảm nhận qua màu sắc và âm thanh:

“Trong làn nắng ửng, khói mơ tan

Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng

Sột soạt gió trêu tà áo biếc

Trên dàn thiên lý. Bóng xuân sang”

Thơ mới ảnh hưởng thơ Đường khá đậm nét. Sự gặp gỡ giữa thơ Đường và Thơ mới chủ yếu ở thi tài, thi đề. Các nhà thơ mới chỉ tiếp thu và giữ lại những mặt tích cực, tiến bộ của thơ Đường trong các sáng tác của Đỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch Cư Dị,… Trong bài Tràng giang, Huy Cận mượn tứ thơ của Thôi Hiệu để bày tỏ lòng yêu nước:

“Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

Nếu sự ảnh hưởng thơ Đường làm cho thơ tiếng Việt càng phong phú giàu có thêm, tinh tế hơn thì sự ảnh hưởng thơ ca lãng mạn Pháp góp phần cho Thơ mới sáng tạo về thi hứng, bút pháp và cách diễn đạt mới lạ, độc đáo. Một trong những nhà thơ đầu tiên chịu ảnh hưởng sâu sắc thơ Pháp là Thế Lữ, Huy Thông, về sau là Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử,…

Trong bài “Thơ mới – cuộc nổi loạn ngôn từ” Đỗ Đức Hiểu nêu nhận xét về hệ thống ngôn từ Thơ mới “Thơ mới là bản hòa âm của hai nền văn hóa xa nhau vời vợi, là bản giao hưởng cổ và hiện đại”. Đó là sự giao thoa tiếng Việt với thơ Đường và thơ ca lãng mạn Pháp thế kỷ XIX. Sự ảnh hưởng thơ Đường và thơ ca lãng mạn Pháp đối với phong trào Thơ mới không tách rời nhau. Điều này cho thấy tác động và ảnh hưởng từ nhiều phía đối với Thơ mới là một tất yếu trong quá trình hiện đại hóa thơ ca. Chính sự kết hợp Đông -Tây nói trên đã tạo nên bản sắc dân tộc và sức hấp dẫn riêng của Thơ mới.

Sau 85 năm, kể từ khi ra đời cho đến nay, Phong trào thơ mới đã có chỗ đứng vững chắc trong đời sống văn học dân tộc. Qua thời gian, những giá trị tốt đẹp của Phong trào Thơ mới Việt Nam 1932-1945 càng được thử thách và có sức sống lâu bền trong lòng các thế hệ người đọc.

Đặc Trưng Về Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Thơ Mới

Đặc trưng về nội dung:

Đặc sắc nhất của Thơ mới, những gì còn lại qua thời gian, là đã xây dựng được hình ảnh một cái tôi cá nhân – cá thể. Theo chúng tôi, cái tôi Thơ mới có hai đặc điểm lớn:

Một cái tôi ấp ủ tinh thần dân tộc:

Tuy các nhà thơ mới không đủ dũng khí đối diện với hiện thực để phản ánh như các nhà thơ hiện thực trào phúng, cũng không dám đấu tranh giành độc lập dân tộc như các nhà thơ cách mạng, họ tìm đến con đường thoát ly hiện thực như một giải pháp an toàn, nhưng không có nghĩa họ hoàn toàn toàn thờ ơ, quay lưng lại với dân tộc mình.

“Đời cũng đìu hiu như dặm khách”

(Xuân Diệu)

“Quê hương ơi trăm năm như giấc điệp Việc đổi thay không thể nói cho cùng Có vùng vẫy cũng không qua số kiếp Ta chỉ là phòng nhỏ của buồng chung

(Tế Hanh)

– “Mẹ ơi ! sao mẹ giống Đất nước sinh ra con Cùng một bầu khổ thống Cũng bấy nhiêu đau buồn”

(Huy Cận)

Mượn lời con hổ “nhớ rừng”, Thế Lữ cũng nói lên tình trạng “sa cơ, nhục nhằn, tù hãm” mất tự do và khao khát tự do của cả dân tộc ta lúc bấy giờ.

Trong Thơ mới, ta cũng bắt gặp hình ảnh những con người mang lý tưởng đẹp đẽ. Ở người khách chinh phu trong “Tiếng gọi bên sông” của Thế Lữ, dù chưa có được cái “hùng tâm tráng chí” của người cách mạng nhưng đã dám “dấn bước truân chuyên khắp hải hồ”, ra đi vì “ghét lũ vô nhân giận nỗi đời”, từ chối mọi hạnh phúc riêng, kể cả tình yêu để kiếm tìm, thực hiện lý tưởng. Trong bài “Con voi già”, Huy Thông đã ca ngợi hình ảnh của Phan Bội Châu, của người chí sĩ cách mạng nói chung, tuy chiến bại mà vẫn uy nghi lẫm liệt…

Cũng có nhà thơ, trước tình cảnh lầm than của đất nước đã tìm về quá khứ vàng son với một lòng hoài niệm xót đau. Chế Lan Viên là một nhà thơ như thế. Nhà thơ mượn chuyện dân tộc Chiêm Thành để thổ lộ nỗi đau thầm kín của một người dân Việt Nam mất nước. Chiêm Thành với những đổ nát tan tành hôm nay cũng giống như đất nước Việt Nam đang chìm đắm trong lầm than nô lệ, trở về quá khứ rực rỡ huy hoàng của Chiêm Thành trong quá khứ cũng là khao khát của thi sĩ về độc lập, tự do cho đất nước.

Bởi vậy không phải ngẫu nhiên có lúc, nhà thơ cách mạng Tố Hữu đã ít nhiều gặp gỡ Thế Lữ, Huy Thông, Chế Lan Viên. Tố Hữu nói: “Trong tâm hồn của các anh lúc đó, tôi tìm thấy những nỗi băn khoăn đau buồn của những người cùng thế hệ, đòi hỏi tự do, ước mơ hạnh phúc, tuy các anh chưa tìm thấy lối ra và nhiều khi rơi vào chán nản”.

Nhưng phải nói rằng, tinh thần dân tộc ở các nhà Thơ mới thể hiện rõ nhất trong việc ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên đất nước, ca ngợi những giá trị văn hoá cổ truyền, và đặc biệt là tình yêu đối với tiếng Việt. Mỗi nhà thơ có thể tìm đến một khung cảnh gắn với những ký ức, những kỷ niệm riêng tư.

Đây là hình ảnh một làng sơn cước thuộc Hương Sơn – Hà Tĩnh, ở tả ngạn sông Thâm, bên núi Mồng Gà trong thơ Huy Cận:

“Tới ngã ba sông nước bốn bề Nửa chiều gà lạ gáy trên đê”

Đây là hình ảnh đẹp và thơ của Vĩ Dạ trong thơ Hàn Mặc Tử:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

Đây là hình ảnh sông nước Quảng Ngãi trong thơ Tế Hanh:

“Làng tôi vốn làm nghề chài lưới Nước bao vây cách biển nửa ngày sông Khi trời trong, gió nhẹ sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá”

Và đây là hình ảnh mùa xuân ở Bình Định trong thơ Chế Lan Viên:

“Hàng dừa cao say sưa ôm bóng ngủ Vài quả xanh khảm bạc hớ hênh phô Xoan vườn cành khoèo mặt trời rực rỡ Bên bóng râm lơi lả nhẹ nhàng đu…”

Đặc biệt có một hình ảnh xuất hiện rất nhiều trong Thơ mới, đó là hình ảnh làng quê Việt Nam, vùng Bắc Bộ. Trong thơ Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ… ta thấy hiện lên không gian sống rất thân thuộc với mỗi người, những thôn Đoài, thôn Đông, bến đò, gốc đa, quán chợ, cổng làng, mái nhà tranh, giậu mùng tơi, rặng hoa xoan, hàng hoa phượng…

Các nhà thơ mới cũng có xu hướng tìm về những giá trị văn hoá cổ truyền. Đoàn Văn Cừ miêu tả “Chợ Tết”, Vũ Đình Liên viết về “Ông đồ” bằng tất cả những gì yêu thương, trìu mến nhất cùng sự nuối tiếc về những giá trị văn hoá đang dần bị mai một theo thời gian… Tấm lòng đó của các nhà thơ mới thật đáng trân trọng !

Có một tình yêu vừa tha thiết, vừa đằm sâu, vừa đau đáu trong Thơ mới. Tình yêu đó vừa bộc lộ ở dạng thức cảm xúc vừa thể hiện ra bằng hành động cụ thể, đó là tình yêu đối với tiếng mẹ đẻ. Thời kỳ đó, tiếng Pháp mới là ngôn ngữ chính thống còn tiếng Việt bị khinh rẻ như một nàng hầu. Trong khi có những nhà văn chuyên viết văn bằng tiếng Pháp thì các nhà Thơ mới đã hết lòng yêu thương và bảo vệ tiếng Việt. Huy Cận có một bài thơ hay ca ngợi ngôn ngữ của dân tộc:

“Nằm trong tiếng nói yêu thương Nằm trong tiếng Việt vấn vương một đời Sơ sinh lòng mẹ đưa nôi Hồn thiêng đất nước cũng ngồi bên con Tháng ngày con mẹ lớn khôn Yêu thơ, thơ kể lại hồn ông cha Đời bao tâm sự thiết tha Nói trong tiếng nói lòng ta thuở giờ…”

Nhưng phải nói, tình yêu tiếng Việt bộc lộ rõ nhất qua thực tiễn sáng tác. Nhiều nhà thơ không gọi thành tên thứ tình cảm đó nhưng trong sáng tác của họ, ta thấy họ miệt mài, chắt chiu, vun đắp, sáng tạo trong cách dùng từ, đặt câu góp phần làm phong phú kho từ vựng tiếng Việt và làm trong sáng, linh hoạt, hoàn thiện, uyển chuyển câu văn Việt, ngữ pháp Việt…

Một cái tôi buồn và cô đơn

Trước hết, cần khẳng định rằng: Thơ mới lãng mạn vẫn có nhiều bài thơ yêu đời, yêu cuộc sống, ca ngợi nét đẹp của tình yêu trong sáng hồn nhiên tuổi học trò, những kỷ niệm tươi thắm của một thời e ấp như “Xuân đầu”, “Tặng thơ” (Xuân Diệu), “Đi giữa đường thơm” (Huy Cận), “Chùa Hương” (Nguyễn Nhược Pháp), “Tương tư” (Nguyễn Bính)… Nhưng dựa vào đây để nói rằng cái tôi Thơ mới yêu đời thì không thỏa đáng. Có thể nói, sắc nét hơn cả ở thơ lãng mạn vẫn là cái tôi buồn bã và cô đơn. Thơ mới từ khi ra đời đã “buồn từ trong bản chất”. Nỗi buồn này xuất phát từ nguyên nhân chủ quan và khách quan.

Về nguyên nhân chủ quan: Nhiều nhà thơ mới phải trả qua cảnh ngộ éo le, cuộc đời nhiều chuyện đau buồn, thậm chí bất hạnh ngay từ “những ngày thơ ấu”. Xuân Diệu là con một bà vợ bé, phải sống với mẹ cả, chịu sự khinh miệt, bị đối xử lạnh lùng. Lưu Trọng Lư cũng là con một bà vợ bé, ngay từ nhỏ đã phải chứng kiến những giọt nước mắt buồn tủi của mẹ cho đến khi bà nhắm mắt. Huy Cận sinh ra trong một gia đình nhà nho phong kiến tàn tạ, có nhiều chuyện bất hòa, không vui. Tế Hanh là con một ông đồ từng tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, sau bị thực dân quản thúc. Hàn Mặc Tử mắc bệnh hiểm nghèo khi tuổi đời còn quá trẻ, tài năng đang ở độ chín… Tất cả những cái buồn trong cuộc đời thực đã biến thành những dòng lệ trong văn chương.

Về nguyên nhân khách quan (đây mới là nguyên nhân chủ yếu): Nỗi buồn riêng của họ lại bắt gặp một tiếng khóc dài trong văn học (nỗi buồn trong sáng tác của những bậc đàn anh). Cái đau buồn riêng đã gặp cái đau buồn của xã hội, cái tủi nhục mất nước. Thi sĩ lãng mạn vì không có sự gắn bó mật thiết với các phong trào đấu tranh lành mạnh chống thực dân phong kiến của nhân dân, của dân tộc, họ e sợ không dám tham gia vào cuộc đấu tranh đó nên tìm cách lẩn tránh bằng con đường thoát ly. Họ trốn vào vỏ bọc cá nhân tưởng là bình yên nhưng càng đào sâu vào cái tôi họ càng cảm giác buồn, bất an, bơ vơ, mất phương hướng. Hoài Thanh đã đúng khi nói về tình trạng cô đơn cùng cực của cái tôi Thơ mới: “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng ra đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh… Thực chưa bao giờ thơ Việt Nam buồn và nhất là xôn xao như thế. Cùng lòng tự tôn, ta mất luôn cả cái bình yên thuở trước” (“Thi nhân Việt Nam”)

Nỗi buồn của cái tôi Thơ mới thực ra có nhiều cung bậc biểu hiện đa dạng và phức tạp. Có cái buồn hắt hiu, cái buồn mưa gió, cái buồn “tràng giang”, cái buồn “điệp điệp”, cái buồn đứng, cái buồn ngồi, cái buồn tàn tạ, cái buồn đưa ma tiễn cảnh đời tàn vào cõi chết… Qua các chặng đường của Thơ mới, cái buồn như mỗi lúc một nhân lên. Ở thơ Thế Lữ thời kỳ đầu mới chỉ là cái buồn “xa vắng”, “mênh mông”, đến Lưu Trọng Lư và Xuân Diệu, cái buồn ấy đã trở nên thấm thía. Lưu Trọng Lư nghe thấy một tiếng gà trưa mà cảm thấy:

“Tiếng gà gáy buồn nghe như máu ứa, Chết không gian khô héo cả hồn cao”

Còn Xuân Diệu, một con người yêu đời, say đời là thế mà cũng không tránh khỏi cảm giác buồn, đổ vỡ:

“Vàng son đang lộng lẫy buổi chiều xanh Quay mặt lại cả lầu chiều đã vỡ”

Vũ Hoàng Chương thì nghe mưa rơi lá rụng mà thấy “đời hiu hiu xế tà”, thấy buồn suốt cả cuộc đời.

Nhưng phải nói cái buồn da diết ảo não nhất là trong thơ Huy Cận. Nó bàng bạc khắp không gian, kéo dài trong thời gian, đó là nỗi sầu nhân thế, nỗi sầu “vạn cổ” từ “Lửa thiêng” cho đến “Kinh cầu tự”…

Đi liền với nỗi buồn là sự cô đơn, nhưng cái cô đơn của cái tôi Thơ mới cũng thật đặc biệt. Nhà thơ xưa, chỉ có một mình uống rượu dưới trăng, đối diện với bóng của mình, cô đơn lẻ loi, đã đành. Nhà thơ mới sống giữa bao nhiêu người vẫn cảm thấy cô đơn:

“Trăng sáng, trăng xa, trăng lạnh quá Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ”

Phải chăng cô đơn của nhà thơ xưa là cô đơn hướng ngoại, còn cô đơn của nhà thơ mới hướng nội sâu sắc, trở thành một đặc điểm thường trực khi họ không tìm được một điểm tựa vững chắc trong đời, nơi nào cũng thấy chông chênh, mong manh,dễ đổi thay, dễ đổ vỡ…

Nhà thơ mới luôn có tâm trạng “ngơ ngác y như lạc giữa đời”. Thế Lữ như “một kẻ bộ hành ngơ ngác” trên con đường vắng, Lưu Trọng Lư như “con nai vàng ngơ ngác trong rừng thu”, còn Xuân Diệu thì tự ví mình:

“Tôi là con nai bị chiều đánh lưới Không biết đi đâu, đứng sầu bóng tối…”

Huy Cận thì thấy mình “lủi thủi”, “suốt cuộc đời như núi đứng riêng tây”. Vũ Hoàng Chương thì nhận thấy:

”Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ Một đôi người u uất nỗi chơ vơ…”

Cảm nhận về sự cô đơn thấm thía nhất phải nói đến Xuân Diệu. Càng yêu đời, khao khát giao cảm gắn bó với đời khi chỉ nhận được sự lạnh lùng thì càng cảm thấy cô đơn. Mượn “Lời kỹ nữ”, ông diễn tả cảm giác cô đơn đó:

“Em sợ lắm, giá băng tràn mọi nẻo Trời đầy trăng lạnh lẽo khắp xương da”

Vì buồn và cô đơn, cái tôi trong Thơ mới tìm cách thoát ly, trốn vào nhiều nẻo. Trở về quá khứ với hi vọng tìm lại ánh hào quang, huy hoàng rực rỡ là con đường mà nhiều nhà Thơ mới đã đi, điển hình là Huy Cận và Chế Lan Viên. Chế Lan Viên tìm lại quá khứ vàng son của nước Chiêm Thành nhưng quá khứ vàng son đối lập với hiện tại đổ vỡ, tan nát, càng làm cho hiện tại trở nên xám xịt, lầm than. Huy Cận cũng tìm về quá khứ xa xưa, nhưng trên con đường heo hút đó, không những không nguôi cảm giác buồn mà nhiều lúc nhà thơ thấy rợn ngợp trước cái xa vắng của thời gian, cái mênh mông vô cùng vô tận của không gian, cảm nhận mình chỉ là:

“Một chiếc linh hồn nhỏ Mang mang thiên cổ sầu”

Tìm về quá khứ không trốn được cô đơn, nhà thơ mới tìm đến cuộc sống ở một thế giới khác. Từ trước khi Thơ mới xuất hiện, cái tôi lãng tử Tản Đà đã xuất hiện hồi đầu thế kỷ giữa văn đàn với bao giấc mơ tiên, muốn được lên “hầu trời”; “muốn làm thằng Cuội”… để thỏa mãn cái tôi phóng túng, chán cảnh trần gian mà hướng về thượng giới. Đến Thơ mới, ta bắt gặp một Thế Lữ say sưa với “tiếng sáo Thiên thai”, Chế Lan Viên với khao khát:

“Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh Một vì sao trơ trọi cuối trời xa Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh Những ưu phiền, đau khổ với buồn lo”

Và đến Hàn Mặc Tử, những tác phẩm càng về cuối đời càng thấy ngự trị bao trùm là một cõi – “ngoài cõi người”: cõi “Thượng thanh khí”, nơi có những “Cẩm châu duyên”, “Duyên kỳ ngộ”, “Quần tiên hội”… Ở thi sĩ bất hạnh này, cõi siêu hình mà ông vươn tới còn chứa đựng một niềm tin tôn giáo mãnh liệt với hình ảnh thánh nữ đồng trinh, đức mẹ Maria – điểm tựa tinh thần duy nhất của nhà thơ những năm tháng cuối đời.

Trong tất cả những con đường thoát ly hòng trốn tránh sự cô đơn, con đường phổ biến nhất mà nhiều nhà thơ mới đã trải qua là con đường tình yêu. Thơ tình yêu tràn ngập trên báo chí, trong sách vở đương thời. Nhà thơ mới nào cũng có khoảng mươi bài thơ về tình yêu, đến nỗi chính Xuân Diệu – ông hoàng của thơ tình mà đã phải thốt lên: “những giọng anh em đầy rẫy trong văn chương, không khí trĩu nặng những chàng những nàng, không khéo thở thì đến chết ngạt mất”.

Trong Thơ mới, gương mặt tình yêu cũng thật đa dạng, có đủ sắc độ bảy thứ tình: cái tình non, cái tình già, cái tình mới hé, cái tình nở hoa, cái tình thấp thoáng, cái tình mặn mà, cái tình chia li… Và tình yêu của cái tôi Thơ mới cũng trải qua khá nhiều chặng đường. Ban đầu, tình yêu vẫn còn đầy khoảng cách, dường như yêu mới chỉ là một khái niệm, một cảm xúc chỉ ở trong lòng, chưa thể, chưa dám bày tỏ.

Cho nên, trong thơ tình Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, yêu mà chỉ “kính nhi viễn chi”; đứng xa mà ngắm “cô em” , chiêm ngưỡng vẻ đẹp của người yêu như ngắm một nhan sắc, một cái đẹp nghệ thuật hơn là một người tình bằng xương bằng thịt. Đến Huy Cận, khoảng cách tình yêu được rút ngắn, đó là tình yêu ban đầu “trong như suối”, phảng phất chút “thần tiên” thơ mộng. Với anh, “em” chính là ánh sáng, là hương thơm, là niềm vui, là cả trời đất đầy ý nghĩa, cả khi “em đến” và khi:

“Em nói, anh nghe tiếng lẫn lời Hồn em anh thở ở trong hơi Nắng thơ dệt sáng trên tà áo Lá nhỏ mừng vui phất cửa ngoài”

Trong thơ Nguyễn Bính, tình yêu cũng thật đẹp, thật duyên dáng. Đó là cái tình chất phác của một chàng trai chân quê, yêu say đắm mà cũng thật kín đáo, ý nhị, ngại tỏ bày nhưng nhiều lúc trách móc, giận hờn vu vơ, rồi nhiều khi khó nói, mượn cả những cỏ cây quê nhà mà gửi lời yêu thương trìu mến…

Đến Xuân Diệu, Thơ mới biết đến một tình yêu đúng nghĩa, nồng nàn, mãnh liệt:

”Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh Anh nhớ em, anh nhớ lắm em ơi !

Và những khát khao gần gũi “vô biên và tuyệt đích”: “Hãy sát đôi đầu ! Hãy kề đôi ngực !

Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài ! Những cánh tay ! Hãy quấn riết đôi vai ! Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt Hãy khăng khít những cặp môi gắn chặt Cho anh nghe đôi hàm ngọc của răng”

Nhưng tình yêu cuồng nhiệt trong thơ Xuân Diệu cũng đi liền với cảm giác “xa cách”, yêu cuồng nhiệt mà không được thỏa vì yêu không đơn thuần là sự gần gũi thể xác mà là sự gặp gỡ tâm hồn, nên trong gặp gỡ đã thấy chia li, trong khát vọng đã vội dâng lên thất vọng. Và Xuân Diệu cảm nhận rõ ràng về cảm giác “Cho rất nhiều song nhận chả bao nhiêu”, vì:

“Lòng anh là một cơn mưa lũ Đã gặp lòng em là lá khoai Mưa biếc tha hồ rơi giọt ngọc Lá xanh không ướt đến da ngoài…”

Cho nên mới nói trong tình yêu, Xuân Diệu vồ vập nhất, ham hố nhất mà cũng cô đơn thấm thía nhất. Hóa ra, đường tình đâu phải là con đường dễ đi, và càng không dễ với những ai có ý định trốn vào nó mà tìm sự bình yên !

Đến chặng đường cuối cùng, khi cái tôi Thơ mới rơi vào bế tắc, thì gương mặt tình yêu cũng biến dạng, méo mó khi Vũ Hoàng Chương tìm đến “Thơ say” mà ca ngợi tình yêu xác thịt:

“Hai xác thịt lẫn vào nhau mê mải Chút ngây thơ còn lại cũng vừa chôn”

Rõ ràng là từ những câu chuyện tình yêu với những kết cục buồn của cái tôi Thơ mới đã đặt ra một vấn đề: Tình yêu đâu phải đơn thuần chỉ là chuyện cá nhân, chuyện của hai người. Đó còn là vấn đề mối liên hệ vững chắc giữa cá nhân đó với tập thể, với môi trường xung quanh. Tình yêu đó nếu chỉ vì mình hoặc cùng lắm vì người mình yêu mà quên đi bao người khác thì đôi tình nhân dù có quấn quýt, yêu thương nhau tha thiết (chứ chưa nói đến chuyện hờ hững như trong thơ Xuân Diệu), thì hình ảnh họ trong thơ vẫn cô đơn, tội nghiệp. Mất đi căn cốt lành mạnh là điểm tựa xã hội, tình yêu của cái tôi trong Thơ mới cuối cùng chỉ thu hẹp lại trong quan niệm “xác thịt” âu cũng là điều dễ hiểu.

Nói tóm lại, cái tôi trong Thơ mới dù trốn vào nhiều nẻo, nhưng ở đâu nó cũng buồn và cô đơn. Mặt tích cực của tâm trạng này là nó thể hiện chân thật, thấm thía thái độ thù địch, không chấp nhận đối với trật tự xã hội đương thời – xã hội thực dân nửa phong kiến, bóp nghẹt tự do, kìm hãm sự phát triển và ngăn cản con người tìm đến hạnh phúc. Nhưng mặt khác, tác động tiêu cực của cái buồn, sự cô đơn trong Thơ mới là nó dễ làm cho người ta say sưa trong cái buồn vơ vẩn, cô đơn, chán nản, làm mất nhuệ khí đấu tranh, ít nhiều hạn chế việc tham gia các phong trào cách mạng của một bộ phận thanh niên trí thức đương thời.

Vả lại, cái đáng nói hơn nữa là ở quan niệm và cách ứng xử của nhà thơ mới trước cái buồn, cái cô đơn. Nếu coi cô độc là một căn bệnh của cái tôi lãng mạn thì vấn đề là: liệu người ta có muốn thoát khỏi tình trạng đó không, có muốn chữa khỏi căn bệnh đó không mới là điều quan trọng. Khi Lưu Trọng Lư viết: “Hãy lịm người trong thú đau thương” và Xuân Diệu viết: “Rồi bị thương người ta giữ gươm đao/ Không muốn chữa, không chịu lành thú độc”, khi “đau thương” mà trở thành cái “thú”, cô đơn trở thành niềm kiêu hãnh không muốn chữa lành thì cái tôi trong Thơ mới kia, ngàn đời vẫn như ngọn Hy Mã Lạp Sơn cao vút, sẵn sàng gánh chịu nỗi giá rét ngàn đời, tự hào kiêu hãnh trong cảm giác được “Là Một. Là Riêng. Là Thứ nhất” .

Đặc trưng về nghệ thuật

Thực ra, đặc trưng quan trọng nhất của Thơ mới thể hiện ở phương diện nội dung, ở cái tôi cá thể, còn nghệ thuật biểu hiện có phần mờ nhạt hơn. Tuy vậy, nói gì thì nói, tác phẩm văn học bao giờ cũng phải là sự hài hòa giữa nội dung và nghệ thuật, nội dung sẽ không được thể hiện ra nếu không có hình thức nghệ thuật tương ứng. Với quan niệm đó, chúng tôi xin điểm qua một số nét thuộc về hình thức mà chúng tôi tạm cho là đặc trưng nghệ thuật của Thơ mới.

a) Thể thơ:

Cuộc đấu tranh giữa Thơ mới và thơ cũ không chỉ ở cách nhìn, quan điểm thẩm mỹ mà còn ở thể thơ. Không kể đến những bài thơ chạy theo hình thức, Thơ mới hầu hết đều được viết khá tự do. Tự do hiểu theo nghĩa là không bị ràng buộc khắt khe về niêm, luật như thơ cũ, nhà thơ mới có thể linh hoạt hơn trong cách gieo vần, hiệp vần, sử dụng thanh điệu, thay đổi nhịp… trong những bài thơ được viết theo thể thất ngôn, ngũ ngôn quen thuộc. Điều này khiến cho Thơ mới uyển chuyển, linh hoạt, mềm mại, dễ tiếp nhận hơn thơ cũ.

b) Tính nhạc trong thơ:

Ngôn ngữ tiếng Việt vốn đã giàu nhạc điệu, ngôn ngữ đó đi vào Thơ mới một lần nữa được gia tăng chất nhạc nhờ có sự sắp xếp, tổ chức ngôn từ, thanh điệu rất tài hoa. Nếu như trong thơ cũ, yêu cầu về sự phối kết các thanh điệu (bằng – trắc) rất nghiêm ngặt (nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh), thì Thơ mới sử dụng thanh điệu khá thoải mái, có câu hầu như thanh trắc, có câu toàn thanh bằng… Và thanh điệu trở thành một yếu tố hình thức mang tính nội dung rất rõ rệt, thanh điệu, nhạc điệu của câu thơ góp phần biểu đạt ý nghĩa tả thực và sắc thái cảm xúc của câu thơ, bài thơ.

Thơ mới là thơ buồn, dễ hiểu vì đó mà thanh bằng thường được sử dụng nhiều hơn thanh trắc để kiến trúc thơ. Chẳng hạn Bích Khê dùng thanh bằng tạo âm hưởng nhẹ nhàng, man mác cho câu thơ, gợi không gian mùa thu vàng mênh mang và gợi nỗi buồn xa vắng:

“Ô hay ! Buồn vương cây ngô đồng Vàng rơi ! Vàng rơi ! Thu mênh mông”

Hay trong thơ Hàn Mặc Tử, thanh bằng gợi tả khung cảnh đẹp đẽ, nên thơ, huyền ảo của đêm trăng và sự rung động nhẹ nhàng, bâng khuâng trong lòng thi sĩ:

“Tơ trăng buông rèm trên muôn cành Tơ trăng vàng rung như âm thanh”

Hoặc trong thơ Xuân Diệu, thanh bằng gợi một không gian vấn vương, với những hình ảnh quấn quýt, nương tựa nhau khiến cho lòng người cũng vấn vương nhung nhớ:

“Sương nương theo trăng ngừng lưng trời Tương tư nâng lòng lên chơi vơi …”

c) Ngôn từ trong thơ và cấu trúc câu thơ:

Thơ mới đã đem đến một khả năng kết hợp từ rất mới và nhiều khi rất táo bạo. Điều này đem đến cho cấu trúc câu thơ mới một diện mạo mới, giúp cho khả năng biểu đạt nội dung tinh tế hơn, phong phú hơn. Có những từ trong thực tế tưởng như không thể đi liền với nhau, nhưng đứng vào trong câu thơ lại khá xứng đôi:

– “Huy hoàng trăng rộng, nguy nga gió”

– “Long lanh tiếng sỏi vang vang hận”

Có rất nhiều hình dung ngữ mới xuất hiện, làm giàu thêm cho vốn ngôn ngữ dân tộc:

– “Còn đâu những giờ nhung lụa” – “Nắng nhỏ bâng khuâng chiều lỡ thì” – “Một chiều ong vàng đẹp sắc năm mây”…

Đặc biệt, kiểu cấu trúc câu thơ Pháp đã ảnh hưởng đến Thơ mới Việt Nam, tuy chưa thật sự nhuần nhị nhưng được ghi nhận là bước đầu phá cách, đổi mới:

– “Hơn một loài hoa đã rụng cành” – “Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ”…

d) Biện pháp tu từ:

Ngoài những biện pháp tu từ quen thuộc trong văn học dân tộc như so sánh, nhân hóa… Thơ mới sử dụng phổ biến nghệ thuật đối lập và ẩn dụ chuyển đổi cảm giác.

Đối lập là một nghệ thuật đặc thù của văn học lãng mạn, bởi vì cũng giống như văn học lãng mạn Pháp, đối lập xét trên bình diện rộng là tâm thế của nghệ sĩ lãng mạn trước thực tại xã hội. Họ luôn đối lập mình với thực tế đen tối, tù túng, muốn thoát ra khỏi hiện thực đó. Sự đối lập này biểu hiện trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm trên những khía cạnh cụ thể. Đó có thể là sự đối lập của những tâm trạng, cảm xúc: sung sướng – vội vàng, khát khao gần gũi – thực tế cô đơn trong sáng tác của Xuân Diệu.

Điển hình nhất trong Thơ mới có lẽ là đối lập giữa quá khứ và hiện tại. Đối lập này được khai thác trong nhiều tác phẩm của nhiều nhà thơ mới như Thế Lữ, Phạm Huy Thông, Vũ Đình Liên, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Huy Cận… Điều này có thể lý giải ở cơ sở sâu xa chính là sự ý thức về tồn tại của cái tôi cá nhân cá thể ở quan niệm động, mới mẻ về thời gian, ở nỗi đau xót trước hiện thực ngột ngạt đen tối muốn tìm lại thời vàng son đã mất… Như vậy, sự đối lập của các cặp phạm trù đã nói lên một cách chân thật tình yêu đối với cuộc sống của các nhà thơ mới.

Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác cũng là một biện pháp nghệ thuật quen thuộc trong Thơ mới. Đây là một nét đặc trưng của văn học lãng mạn Việt Nam, ảnh hưởng từ trường phái thơ tượng trưng của Pháp, với quan niệm về thuyết tương giao: ánh sáng – hương thơm – màu sắc tương giao với nhau, vì thế có thể dùng từ chỉ giác quan này để chỉ giác quan khác. Điều này đòi hỏi sự cảm nhận tinh tế của mọi giác quan cũng như cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ. Đây đúng là lĩnh vực để cái tôi cá nhân phát huy vai trò bản thể của mình.

Ví dụ:

– “Đã nghe rét mướt luồn trong gió”

– “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”…

Nhờ đó, những hình ảnh quen thuộc người ta vẫn bắt gặp hàng ngày tưởng như đã nhàm chán nay trở nên vô cùng mới lạ và hấp dẫn.

e) Hệ thống thi ảnh:

Hệ thống thi ảnh được hiểu là hệ thống những hình ảnh được miêu tả trong thơ. Thơ mới lãng mạn phát huy cao độ vai trò tưởng tượng của người nghệ sĩ, vì thế đã sáng tạo ra được một hệ thống thi ảnh vừa phong phú vừa mới mẻ, độc đáo. Mỗi bài thơ tạo ra được một hệ thống thi ảnh, mỗi nhà thơ cũng tạo ra một thế giới thi ảnh riêng, in đậm dấu ấn của phong cách cá nhân, góp phần thể hiện tâm trạng và những quan niệm riêng về cuộc đời.

Trong thơ Chế Lan Viên, ta hay bắt gặp hình ảnh đổ nát của tháp Chàm với những đầu lâu, xương sọ… Những hình ảnh đó thể hiện nỗi buồn chán, tuyệt vọng của Chế Lan Viên khi hiện tại chỉ còn là một đống hoang tàn của quá khứ và tương lai thì mịt mờ, vô định…

Trong thơ Nguyễn Bính, ta bắt gặp cả một thế giới hình ảnh của làng quê Việt Nam, từ cảnh vật cho đến con người đều mang nét hồn nhiên chất phác, mộc mạc, đáng yêu, hệ thống thi ảnh đó chở theo khát vọng về một cuộc sống bình dị gắn với những giá trị truyền thống của nhà thơ “chân quê”.

Trong thơ Xuân Diệu, hiện lên cả một thế giới những hình ảnh đầy màu sắc, đẫm xuân tình, với sự sinh động và sức sống chứa chan (của mùa xuân) bên cạnh những hình ảnh báo hiệu sự tàn phá, phôi phai (của mùa thu). Tất cả được gợi lên từ những đối lập của cùng một cái tôi yêu đời thiết tha, cuồng nhiệt Xuân Diệu.

Còn trong thơ Hàn Mặc Tử, rõ ràng có sự đan xen phức tạp của hai hệ thống thi ảnh: vừa trong sáng, hồn nhiên, thuần khiết vừa kì dị, ma quái, rùng rợn. Nguyên nhân sâu xa dẫn đến hiện tượng đó là do tình trạng bệnh tật của nhà thơ và quan niệm thẩm mỹ riêng về quá trình sáng tạo nghệ thuật. Qua hệ thống thi ảnh trong thơ Hàn Mặc Tử, ta hình dung ra một con người vừa ngoan cường, âm thầm bền bỉ vượt lên trên bệnh tật để sáng tác, vừa không tránh khỏi có lúc bị chế ngự bởi hoàn cảnh. Chính hệ thống thi ảnh là một tín hiệu nói cho ta về tâm trạng đau khổ bi kịch và về một tình yêu đời mãnh liệt, đầy uẩn khúc của Hàn Mặc Tử.

Thông Tin Đại Lý Xe Yamaha Cần Thơ Mới Nhất

14 Bài Thuyết Minh Về Cái Phích Nước Hay Nhất

14 bài Văn thuyết minh về chiếc phích nước lớp 8

Ngoài ra, chúng tôi đã thành lập group chia sẻ tài liệu học tập THCS miễn phí trên Facebook: Tài liệu học tập lớp 8. Mời các bạn học sinh tham gia nhóm, để có thể nhận được những tài liệu mới nhất.

Thuyết minh cái phích nước/bình thủy

Dàn ý Thuyết minh về cái phích nước lớp 8

a) Mở bài:

Giới thiệu chung: Trong cuộc sống thường ngày, phích nước là đồ vật quen thuộc mà chúng ta hay sử dụng để đựng nước nóng.

b) Thân bài:

1/ Tên gọi và xuất xứ: Ra đời từ rất lâu. Hiện nay có nhiều mẫu mã và nhiều thương hiệu. (Không biết loại vật dụng quen thuộc này đã ra đời tự bao giờ mà trải qua bao năm tháng tên gọi trang trọng bằng từ Hán Việt “bình thủy” đã trở nên thân thiết với mọi tầng lớp người dân. Bình thủy còn có tên gọi là “phích” theo phiên âm bằng tiếng Pháp. Hiện nay trên thị trường có rất nhiều thương hiệu khác nhau).

Các loại: Hiện nay có rất nhiều loại, nhiều kiểu dáng, không chỉ để giữ nóng mà còn giữ lạnh. Ngày nay trên thị trường có rất nhiều loại phích nước, phong phú về kích cỡ và đa dạng về chủng loại. Có loại to, loại nhỏ, loại cao, loại thấp. Loại to có thể chứa 2,5 lít nước, loại nhỏ có thể chứa 0,5 lít nước. Ngoài loại giữ nóng thông thường còn có loại giữ lạnh.

2/ Cấu tạo và chất liệu của các bộ phậ n:

a/ Vỏ: có cấu tạo bằng sắt hoặc bằng nhựa, thường có trang trí nhiều họa tiết trang trí đẹp mắt.

– Thân phích có chiều cao khoảng 50cm.

– Quai phích thường cùng chất liệu với vỏ.

– Tay cầm: Bên hông phích (cũng cùng chất liệu với phích) giúp cho việc sử dụng tiện dụng và an toàn.

– Nút phích (nắp đậy ruột phích): Thường làm bằng bấc hay bằng nhựa, nút này giữ rất chặt giúp giữ nhiệt và an toàn trong việc chứa nước sôi.

b/ Ruột phích: Bằng thủy tinh có tráng thủy để giữ nhiệt độ trong phích luôn nóng.

Cách chọn:

– Ruột phích là bộ phận quan trọng nhất của phích nước. Để chọn được phích tốt, khi mua phích nên mang phích ra ánh sáng, nhìn từ trên miệng xuống dưới đáy, ta có thể thấy điểm sáng màu tím ở van hút khí, nếu điểm sáng càng nhỏ thì chứng tỏ công nghệ sản xuất van hút khí cao và như vậy sẽ giữ nhiệt độ nước trong phích tốt. Ta cũng có thể áp tai vào miệng phích, nếu nghe thấy tiếng “o…o…” đều đều và quan sát thấy lòng phích có lớp bạc được tráng đều là phích tốt.

– Phích có thể giữ nước 100 o C sau 6 giờ còn 70C.

4/ Cách sử dụng:

– Phích mới mua về ta không nên đổ nước sôi vào ngay vì đang lạnh mà gặp nóng đột ngột như vậy, phích sẽ bị nứt, bể ngay.

– Ta nên cho nước ấm khoảng 50 0 – 60 0 vào ½ phích và để khoảng 30 phút, sau 30 phút ấy hãy đổ nước sôi vào.

5/ Cách bảo quản: “Của bền tại người” – biết cách sử dụng và bảo quản phích sẽ dùng được lâu hơn.

– Sử dụng một thời gian dài, bên trong phích sẽ bị cáu bẩn. Để làm sạch phích, ta có thể đổ vào phích một ít giấm nóng, đậy chặt nắp lại, lắc nhẹ rồi để khoảng 30 phút, sau đó dùng nước lạnh rửa sạch, chất cáu bẩn sẽ được tẩy hết.

– Nếu ta muốn giữ nước trong phích được lâu hơn, khi rót nước sôi vào phích, ta không nên rót đầy. Hãy để một khoảng cách giữa nước sôi và nút vì hệ số truyền nhiệt của nước lớn hơn không khí gấp bốn lần. Cho nên nếu rót nước sôi đầy, nhiệt dễ truyền ra vỏ phích nhờ nước môi giới. Nếu có một khoảng trống, không khí sẽ làm cho nhiệt truyền chậm hơn.

– Nên để phích xa tầm tay trẻ em để tránh gây tai nạn cho trẻ.

– Không làm rơi, để mạnh tay và sẽ làm vỡ ruột phích bằng thủy tinh bên trong.

c) Kết bài:

Chiếc phích nước quả thật rất tiện dụng, có ích và không thể thiếu cho mỗi gia đình.

Thuyết minh về cái phích nước ngắn gọn mẫu 1

Dù giàu hay nghèo thì mỗi gia đình cũng có một cái phích để đựng nước nóng. Phích nước là một đồ vật quen thuộc, rất tiện dụng cho cuộc sống hàng ngày.

Phích có nhiều loại và có nhiều kích cỡ khác nhau. Loại nhỏ chứa được khoảng nửa lít, loại lớn chứa được hai lít hoặc hai lít rưỡi. Các thương hiệu được nhiều người ưa dùng là phích Rạng Đông của Việt Nam hay phích Trung Quốc, vừa tốt vừa bền, giá cả lại hợp lí.

Vỏ phích gồm quai xách, nắp, thân và đáy thường được làm bằng sắt, nhôm, trang trí đẹp mắt, có tác dụng bảo quản ruột phích. Nút nhựa hoặc sắt, hoặc tráng men, in hoa hay bình chim, hình thú rất đẹp. Nút phích bằng gỗ xốp nhẹ, bọc vải thun màu trắng được làm bằng chất dẻo, quai xách bằng nhôm hoặc bằng nhựa. Tuy nhiên bộ phận quan trọng nhất là ruột phích. Ruột phích được cấu tạo bằng hai lớp thủy tinh mỏng cách nhau khoảng chân không. Lòng phích tráng bạc. Đáy phích có van hút khí và núm thủy ngân. Phích tốt có thể giữ được nước nóng trong một ngày.

Quan trọng, là bạn phải biết cách chọn phích. Đầu tiên, mở nắp phích ra , nhìn từ miệng phích xuống dưới đáy, lớp bạc tráng phải đều. Điểm màu sẫm ở chỗ van hút khí càng nhỏ càng tốt thì sẽ giữ nhiệt được lâu. Áp miệng phích vào tai, nghe có tiếng o o đều đều là tốt. Bạn nên cẩn thận khi tháo đáy phích để xem núm thủy ngân có còn nguyên vẹn hay không. khi phích mới mua về, không được rót nước sôi ngay mà chỉ rót nước nóng khoảng 50 đến 60 độ, để khoảng nửa tiếng rồi đổ nước đó đi, rót nước sôi vào. Làm như vậy phích sẽ không bị vỡ.

Đổ nước cũ ra, tráng qua một lượt cho sạch cặn đọng trong lòng phích, rồi mới rót nước sôi vào và vặn nắp thật chặt. Và quan trọng là phải để tránh tầm tay của trẻ em.

Phích là vật dụng quen thuộc trong đời sống. Nó có thể giữ được nước sôi ở khoảng 80 đến 90 độ. Và nó trở thành một vật dụng không thể thiếu của mỗi gia đình.

Thuyết Minh Về Phích Nước mẫu 2

Trước đây và cả bây giờ, trong mỗi gia đình đều có những vật dụng cần thiết nhất để phục vụ cho đời sống. Nhu cầu của mỗi gia đình là khác nhau nhưng có một vật dụng mà tất cả mọi nhà đều cần đó chính là cái phích nước. Cái phích nước là một trong những vật dụng vô cùng quen thuộc và không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi gia đình.

Năm 1892 nhà vật lý học Sir James Dewar đã phát minh ra cái phích nước nhờ cải tiến từ thùng nhiệt lượng kế của Newton. Cấu tạo của phích nước gồm có 2 phần và phần vỏ và phần ruột. Vỏ của cái phích nước có hình trụ, chiều cao của nó tùy thuộc và hình dạng cũng như kích thước của cái phích. Chất liệu để làm nên cái phích nước có thể là nhựa hoặc kim loại nhưng dù là gì cũng luôn đi kèm với các loại nắp. Những chiếc phích nhựa thì thường dùng nắp nhựa có ren trong khi đó những chiếc phích kim loại thì thường dùng nắp gỗ.

Phần vỏ phích không chỉ có công dụng bảo vệ ruột phích bên trong mà nó còn giúp cách nhiệt để người sử dụng không bị bỏng khi chạm vào phích nước nóng. Do nhu cầu về thẩm mỹ của con người ngày một tăng cao nên vỏ phích cũng được thiết kế với những họa tiết vô cùng độc đáo, đẹp mắt. Phần nắp phích giúp cản hiện tượng truyền nhiệt của phích và đồng thời giúp nước bên trong phích không bị tràn ra ngoài. Ở đầu phích có một cái quai cầm được trang trí hoa văn cũng như đề tên thương hiệu. Đáy phích được thiết kế giúp cho người sử dụng có thể gỡ ra lắp vào. Phía bên trong đáy phích có 1 lớp đệm nhỏ bằng cao su dùng để cố định ruột phích.

Ruột phích thực chất là một bình 2 vỏ được nối với nhau ở miệng. Chúng được làm bằng thuỷ tinh tráng bạc để bức xạ các tia nhiệt trở lại nước trong phích. Ở giữa 2 lớp thuỷ tinh là chân không nhằm giúp cho nhiệt không truyền ra được bên ngoài. Phía đáy của ruột phích cũng có chuôi hút chân không là nơi hút khí giữa 2 lớp ruột phích nhằm ngăn chặn sự truyền nhiệt giữa nước trong phích với môi trường bên ngoài. Nước sôi sau khi đổ vào phích thì độ nóng sẽ giữ được rất lâu. Sau khoảng 4 tiếng đồng hồ nhiệt độ chỉ giảm từ 100 độ C xuống còn 70 độ C.

Nhờ có phích nước con người có thể giữ nước ấm trong một thời gian khá dài, có thể lên tới 30 tiếng. Có sẵn phích nước nóng trong nhà thì bạn dễ dàng pha trà, pha cà phê,… mà không lo phải đi đun hay để khách phải ngồi đợi quá lâu. Nếu nhà có trẻ nhỏ thì có một cái phích nước nóng càng trở nên tiện lợi hơn bởi trẻ nhỏ rất cần có nước ấm để vệ sinh.

Phích nước tiện dụng nhưng nếu không biết sử dụng và bảo quản thì chúng sẽ rất nhanh hỏng. Bạn cần đổ nước nhiệt độ 50-60 độ C vào phích nước khi mới mua về. Bên cạnh đó khi mua phích bạn cũng cần phải lựa chọn ruột phích thật kĩ. Kiểm tra bằng cách đứng ở ngoài sáng, mở nắp phích ra sau đó nhìn từ trên miệng xuống đáy. Bạn sẽ thấy có điểm màu sẫm ở chỗ van hút khí. Nếu điểm này càng nhỏ có nghĩa là van hút khí càng tốt và phích sẽ giữ nhiệt lâu hơn. Sau đó hãy thử áp miệng phích vào tai nếu nghe có tiếng o o là phích tốt vì không khí sẽ không thể bức xạ nhiệt ra ngoài môi trường được.

Tiếp đến bạn tháo đáy phích xem núm thuỷ ngân có còn nguyên vẹn hay không. Sau một thời gian sử dụng đáy phích sẽ có cặn vàng vì vậy bạn nên thường xuyên vệ sinh phích với nước giấm. Ruột phích rất dễ vỡ nên bạn cũng cần đặt phích ở nơi kín đáo tránh làm đổ vỡ không chỉ hỏng phích mà còn dễ bị bỏng, nhất là với gia đình có trẻ nhỏ.

Phát minh về cái phích nước đã mang lại nhiều lợi ích cho đời sống của con người và dù xã hội có phát triển và có bao nhiêu sản phẩm tương tự cái phích nước đi chăng nữa thì đây cũng là vật dụng không thể thiếu của con người.

Thuyết Minh Về Phích Nước mẫu 3

Vào mùa đông giá lạnh, để bảo vệ cho họng cũng như sức khỏe của mình, con người có nhu cầu sử dụng nước ấm. Nhưng nhiệt độ ngoài trời mùa đông rất thấp, làm thế nào để người ta có thể giữ nước luôn ấm? Câu trả lời đó chính là phích nước. Đây được coi như một vật thần kì có tác dụng lớn đối với đời sống của con người nhất, là trong những ngày nhiệt độ thấp.

Phích nước từ lâu đã rất quen thuộc đối với đời sống con người, đó là một dụng cụ có công dụng để đựng nước nóng. Hiện nay, có nhiều loại nước với thương hiệu và dung tích khác nhau, tuy nhiên phổ biến là phích nước có dung tích 1,5 L và thương hiệu nổi tiếng nhất người ta thường biết đến là phích nước Rạng Đông. Nhiệt độ phích nước giữ được cho nước là từ 70 – 90 độ C tùy vào thời gian chế nước vào phích.

Phích nước không phải là một vật dụng của cấu tạo quá phức tạp. Phích bao gồm vỏ bên ngoài. Trước đây, vỏ phích phổ biến được làm bằng nhôm. Điều này sẽ khiến bảo vệ phần ruột phích dễ hơn và bền hơn. Tuy nhiên, để giảm giá thành cũng như giúp việc sử dụng phích tiện lợi hơn, người ta còn sản xuất phích với vỏ bằng nhựa. Vỏ phích có nhiều màu khác nhau như màu xanh màu, đỏ, tím có in thêm các họa tiết hoa rất bắt mắt. Bên cạnh của vỏ phích thường sẽ có quai phích. Mỗi phích thường gồm hai quai, một quay cầm phía bên cạnh và một quai sách bên trên. Phần đáy của lớp vỏ được thiết kế chắc chắn và cân đối để có thể đặt phích đứng một cách dễ dàng. Phích bên trên thường có nắp đậy, nắp của phích thường sẽ được thiết kế hình tròn với bán kính khoảng 10 cm. Trước đây nắp phích thường sẽ được thiết kế là một nút đậy bằng gỗ, hình trụ. Tuy nhiên hiện nay phổ biến nhất là các loại nắp phích xoáy. Sẽ có một cốc nhựa úp bên trên nắp phích. Bộ phận bên trong quan trọng nhất của phích đó chính là ruột phích. Ruột phích được cấu tạo bởi hai lớp thủy tinh trong và giữa hai lớp thủy tinh này có một khoảng chân không. Phần ruột phích được tráng bạc bóng để nhằm giảm sự chuyển nhiệt của nước ra bên ngoài. Chính bởi vậy, khi đổ nước vào phích, nhiệt độ ấm luôn được đảm bảo. Vì ruột phích được cấu tạo bởi hai lớp thủy tinh nên rất dễ vỡ.

Như chúng ta đã biết, công dụng lớn nhất của các nước đó chính là dùng để để giữ nhiệt cho nước. Thời gian giữ nhiệt sẽ phụ thuộc vào từng loại phích khác nhau. Tuy nhiên thời gian trung bình mà phích có thể giữ được nhiệt độ cho nước đó chính là là từ 4 tới 6 tiếng.

Phích là một loại vật dụng cần thiết nên khi chọn phích chúng ta cần chọn một cách kỹ lưỡng và cẩn thận, đặc biệt cần để ý đến phần ruột phích. Bởi nếu như chọn không kỹ, phần ruột phích thiết kế mỏng hay quá kém sẽ khiến chúng ta khi chế nước vào sẽ rất dễ xảy ra tình trạng nổ gây nguy hiểm rất lớn đối với tính mạng của con người. Trong quá trình sử dụng, chúng ta cũng nên bảo quản phích một cách cẩn thận, khi đổ nước không nên đổ đầy mà nên để một khoảng không để phích có thể giữ nhiệt được lâu hơn. Ngoài ra, với đặc tính tính giữ nước nóng nên cần để phích tránh xa tầm tay của trẻ nhỏ để tránh gây tình trạng bỏng. Nên để phích ở một vị trí bằng phẳng và trong các góc khuất để tránh phích bị đổ hoặc va chạm gây vỡ phích. Phần quai xách hay quai cầm cũng luôn luôn cần phải được kiểm tra độ chắc chắn để khi xách không lỏng lẻo. Phần vỏ trải qua một thời gian sử dụng thường việc bảo vệ cho phần ruột phích sẽ kém đi, vì vậy chúng ta cần phải kiểm tra để thay vỏ phích kịp thời.

Cùng với sự phát triển của thị trường, hiện nay người ta còn sản xuất ra các loại phích điện bên cạnh phích truyền thống và độ phổ biến của loại phích này ngày càng cao vì đây là một loại phích ngoài việc giữ nhiệt người ta có thể sử dụng để cắm nước được. Tuy nhiên, khi sử dụng người dùng cần hết sức cân nhắc vì nếu không cẩn thận sẽ rất dễ gây ra tình trạng điện giật.

Có thể nói, phích là một loại vật dụng quan trọng và cần thiết đối với đời sống của mỗi con người, đặc biệt là vào trong mùa đông giá lạnh. Bởi thế, mỗi gia đình cần có cho mình ít nhất một chiếc phích nước để chứa nước và giữ nước ấm nhằm bảo vệ sức khỏe của mình.

Thuyết Minh Về Phích Nước mẫu 4

Trong mỗi gia đình, không nhà ai mà không có chiếc bình thủy, nó là đồ dùng để bổ trợ cho việc sinh hoạt của gia đình. Với nó mọi thành viên trong gia đình không lo khi không nhăng nữa được hay về khát nước và nó còn có thể dùng để đựng nước đem đi mà không sợ nguội hay cầm bị nóng gì.

Bình thủy hay còn gọi là cái phích nước, nó được ra đời và có từ rất lâu. Nó có nhiều kích cỡ khác nhau và có nhiều loại. Về nguyên tắc cấu tạo, tác dụng như nhau nhưng nguyên liệu để cấu thành nó thì bằng nhiều loại khác nhau. Về kích cỡ của nó, loại nhỏ chứa được khoảng nửa lít , loại lớn chứa được hai lít hoặc hai lít rưỡi. Phích có thể giữ nước ở nhiệt độ từ 80 đến 90 trong khoảng một ngày.

Phích nước được chia làm các bộ phận sau: Vỏ có cấu tạo bằng sắt hoặc bằng nhựa, thường có trang trí nhiều họa tiết trang trí đẹp mắt. Thân phích có chiều cao khoảng 50 cm. Quai phích thường cùng chất liệu với vỏ. Tay cầm: bên hông phích giúp cho việc sử dụng tiện dụng và an toàn. Nút phích thường làm bằng bấc hay bằng nhựa, nút này giữ rất chặt giúp giữ nhiệt và an toàn trong việc chứa nước sôi. Bên trong là ruột phích: bằng thủy tinh có tráng thủy để giữ nhiệt độ trong phích luôn nóng.

Và lưu ý khi chọn phích ta nên chọn những loại có độ bền cao, để tránh những trường hợp không đáng xảy ra. Nhiều khi phích lâu ngày ta đựng nước xách đi không để ý nó vỡ thì nước nóng và thủy tinh bên trong để chạm vào người. Nên chú ý đến vấn đề này.

Phích nước có rất nhiều công dụng, thường người ta dùng nó để đựng nước sôi hay nước trà khi chế xong để tạo độ nóng cho nước. nhiều người dùng nó để đựng nước sôi pha sữa, bột cho trẻ hay để tắm cho trẻ… nói về lợi ích của nó thì có rất nhiều.

Thông thường, khi ta sử dụng một thời gian dài, bên trong phích sẽ bị cáu bẩn. Để làm sạch phích, ta có thể đổ vào phích một ít giấm nóng, đậy chặt nắp lại, lắc nhẹ rồi để khoảng 30 phút, sau đó dùng nước lạnh rửa sạch, chất cáu bẩn sẽ được tẩy hết.

Để đảm bảo được độ nóng của nước lâu hơn, khi rót nước sôi vào phích, ta không nên rót đầy. Hãy để một khoảng cách giữa nước sôi và nút vì hệ số truyền nhiệt của nước lớn hơn không khí gấp bốn lần. Cho nên nếu rót nước sôi đầy, nhiệt dễ truyền ra vỏ phích nhờ nước môi giới. Nếu có một khoảng trống, không khí sẽ làm cho nhiệt truyền chậm hơn.

Như vậy cần đảm bảo nhiều vấn đề không lường trước với phích nước. Như vậy nhưng nó vẫn là một vật dụng tốt cho các bạn và nó mang rất nhiều lợi ích và tiện lợi cho gia đình.

Thuyết Minh Về Phích Nước mẫu 5

Khoảng chục năm về trước khi việc đun nấu còn gặp nhiều trở ngại, bếp ga, bếp điện, đặc biệt là ấm siêu tốc dùng để đun nước chưa ra đời và có giả cả phải chăng, thì phích nước chính là một trong những vật dụng tối cần của mỗi gia đình để trữ nước nóng. Đặc biệt là trong mùa đông giá lạnh, trong các gia đình có thói quen pha trà, pha cà phê, hoặc những người có thói quen uống nước ấm. Ngày nay tuy rằng phích đã không còn quá phổ biến như xưa, thế nhưng nó vẫn giữ một vị trí khá quan trọng trong đời sống sinh hoạt của mỗi gia đình bởi tính hữu dụng của nó.

Ban đầu chiếc phích nước ra đời không phải vì mục đích dân dụng như hiện nay mà nó được chế tạo ra bởi mục đích nghiên cứu khoa học. Năm 1982, nhà vật lý học, hóa học người Scotland, Sir James Dewar (1842-1923), vì phục vụ cho công trình nghiên cứu khoa học của mình, với yêu cầu cách li nhiệt độ giữa bên ngoài và bên trong thiết bị một cách hiệu quả nhất. Thế nên ông đã nghĩ cách cải tiến nhiệt kế lượng của Newton, thành một loại bình tương tự như chiếc phích ngày nay. Và phát minh này của ông đã giữ nhiệt một cách hiệu quả, đóng góp rất lớn cho các công trình nghiên cứu của Dewar. Tuy nhiên chiếc bình thú vị này chỉ thực sự trở thành một sản phẩm gia dụng có tính thương mại khi vào tay hai người thợ thủy tinh người Đức là Reinhold Burger và Albert Aschenbrenner. Chiếc phích nước đã nhanh chóng được phổ biến trong suốt thế kỷ XX, với khả năng giữ nhiệt, sự thuận tiện của nó đặc biệt là ở các quốc gia có mùa đông kéo dài, việc đun nấu không phải lúc nào cũng thuận tiện.

Cấu tạo của phích nước khá đơn giản, gồm hai phần chính là ruột phích và vỏ phích. Bao bên ngoài là phần vỏ phích có hình trụ sau đó bóp lại ở phần miệng, hiện nay phổ biến nhất là loại phích có đường kính đáy 15cm, chiều cao phích khoảng 40cm. Vỏ phích làm chủ yếu bằng hai chất liệu chính là kim loại và nhựa. Với loại phích vỏ kim loại, phổ biến vào khoảng chục năm về trước thì đi kèm với một cái nút bằng gỗ, để đóng vào miệng phích, bên ngoài có thêm một chiếc nắp bằng nhôm úp lên, bao trùm cả phần miệng phích để tránh cho nút gỗ bị bung ra và đảm bảo vệ sinh. Ngày nay người ta ưa dùng loại phích có vỏ nhựa bởi nó nhẹ nhàng, và có phần nắp nhựa có ren, chắc chắn, ngăn cản sự thoát nhiệt tốt, bền và rẻ hơn. Bên hông phích còn thiết kế một tay cầm chắc chắn, để thuận tiện cho việc rót nước ra khỏi phích một cách chính xác, tránh đổ vỡ gây nguy hiểm. Ngoài ra các kiểu phích lớn còn có thêm một quai xách, để tiện lợi cho việc di chuyển. Bề ngoài vỏ phích có thể trang trí nhiều loại họa tiết trong đó phổ biến là cách hình hoa lá, phong cảnh, gợi tạo cảm giác dân dã, thông dụng. Ngoài ra các nhà sản xuất còn đánh dấu thương hiệu bằng cách in lên trên vỏ phích lô-gô của công ty mình.

Phần ruột phích là một kiểu bình được cấu tạo bằng hai lớp thủy tinh ngăn cách nhau bằng một khoảng trống ở giữa, nối với nhau ở miệng. Khoảng trống giữa hai lớp thủy tinh này là khoảng chân không giúp ngăn cản sự truyền nhiệt, để gia tăng khả năng giữ nhiệt thì mặt đối diện nhau của hai lớp thủy tinh này được tráng một lớp bạc mỏng, có chức năng bức xạ lại các tia nhiệt có xu hướng tiến ra ngoài vỏ phích. Chính vì vậy khả năng giữ nhiệt của phích là khá tốt, sau 24 giờ nước từ 100 độ C còn khoảng từ 65-70 độ C phụ thuộc vào nhiệt độ của môi trường.

Về việc chọn mua phích cũng có nhiều điều cần lưu ý để chọn được một chiếc phích tốt, giữ nhiệt lâu. Khi đi mua, nên quan sát tỉ mỉ phần vỏ và phần ruột phích, mở nắp ra kiểm phần ruột bên trong xem có còn nguyên vẹn hay không, áp tai vào miệng bình, nếu khi có tiếng “ro ro” là phích tốt, bởi khi phích kín, khả năng bức xạ tốt thì mới có kiểu âm thanh này. Ngoài ra còn cần kiểm tra cả nắp phích để chắc chắn rằng nắp phích kín, van ăn khớp vào nhau, trành làm rò rỉ nước hoặc thoát nhiệt ra ngoài môi trường. Phần quai xách và quai cầm cũng cần phải thực sự chắc chắn, để đảm bảo không bị rớt vỡ phích gây nguy hiểm khi sử dụng.

Về việc sử dụng phích thì khá đơn giản, để giữ nhiệt được lâu, tốt nhất là sau khi sử dụng thì đóng ngay nắp phích lại, khi rót nước vào phích cũng không nên rót đầy, mà nên để lại một khoảng trống gần miệng để tạo một lớp cách nhiệt bằng không khí, bởi so với nước thì không khí truyền nhiệt kém hơn rất nhiều. Đặc biệt trong lần đầu tiên sử dụng, không nên lập tức rót hẳn nước đang sôi vào phích, vì như thế sẽ gây sự giãn nở một cách nhanh chóng và không đồng đều của thủy tinh gây nứt, vỡ lớp ruột phích. Thay vào đó ta chỉ nên rót nước ấm tầm 50-60 độ, để cho lớp thủy tinh giãn nở từ từ, lần sau mới nên rót nước sôi. Thêm vào đó trong quá trình sử dụng việc bảo quản, cọ rửa phích cũng rất cần thiết, đơn giản nhất để tẩy sạch lớp cặn dưới đáy phích chính là dùng giấm cho vào phích ngâm vài giờ rồi súc sạch. Phích nước là đồ dễ vỡ và thường xuyên trữ nước nóng thế nên tốt nhất là nên để xa tầm tay trẻ em, giáo dục trẻ nhỏ không được đụng vào. Hiện nay giá của một chiếc phích dao động trên dưới hai trăm ngàn đồng và có hạn dụng sử khá dài tầm 3-5 năm đối với các gia đình biết bảo quản.

Phích là một trong những đồ gia dụng phổ biến nhất trong mọi gia đình, phổ biến với việc trữ nước nóng, thế nhưng ngày nay người ta còn chế tạo thành các loại bình có tên gọi khác là bình giữ nhiệt, nguyên lý hoạt động tương tự dùng để trữ các dạng thức ăn lỏng nóng hoặc lạnh, thuận tiện cho việc mang đi làm, đi chơi, thăm bệnh,… Có thể nói rằng tuy cấu tạo đơn giản, nhưng phích đã có vai trò nâng cao chất lượng cuộc sống của con người trên thế giới này

Thuyết Minh Về Phích Nước mẫu 6

Trong gian bếp của mỗi gia đình đều có các vật dụng, đồ dùng cần thiết. Nào là li tách, chén đũa, xoong nồi,…và không thể thiếu một chiếc phích nước, bởi đây là một vật dụng hỗ trợ đắc lực trong việc giữ nhiệt cho nước.

Phích nước được phát minh bởi nhà vật lý học Sir James Dewar vào năm 1892 nhờ cải tiến từ thùng nhiệt lượng kế của Newton. Thiết kế của Dewar đã nhanh chóng trở thành một mặt hàng thương mại vào năm 1904 do hai người thợ khắc thủy tinh của Đức, Reinhold Burger và Albert Aschenbrenner, phát hiện ra rằng nó có thể được sử dụng để giữ nhiệt độ cho đồ uống lạnh và đồ uống nóng. Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại phích khác nhau của nhiều thương hiệu khác nhau, phong phú về kích cỡ, đa dạng về chủng loại: to, nhỏ, cao, thấp. Loại to có thể chứa từ 2,5 đến 3 lít nước. Loại nhỏ có thể chứa 0,5 lít. Ngoài loại giữ nóng như tất cả các gia đình vẫn sử dụng thì còn loại giữ lạnh.

Một chiếc phích thông thường có hình trụ, chiều cao khoảng 50cm, đường kính từ 15 đến 17 cm. Càng gần miệng phích, đường kính càng thu hẹp lại một cách hài hoà, cân đối. Phích nước được cấu tạo từ 2 phần: ruột và vỏ. Phần vỏ hình trụ, chiều cao tùy hình dạng và kích thước của phích. Vỏ có thể làm bằng nhựa hoặc bằng kim loại như sắt để đảm bảo độ bền, tránh va đập mạnh với xung quanh. Vỏ phích thường có thêm nút, nắp phích tay cầm và quai phích. Phích nhựa dùng nắp nhựa có ren, phích kim loại dùng nắp gỗ. Nắp phích dùng để ngăn cản hiện tượng truyền nhiệt của phích bằng đối lưu và giúp nước không tràn ra khỏi phích.

Bên ngoài nút phích là nắp đậy, phù hợp với chất liệu vỏ phích, giúp giữ nhiệt và có tác dụng như một chiếc cốc. Phần đầu phích còn có quai cầm để tiện cho việc vận chuyển và được trang trí hoa văn cùng tên thương hiệu hoặc trang trí khung cảnh. Tay cầm bên hông giúp cho việc rót nước từ phích ra dễ dàng hơn. Phần đáy có thể gỡ ra lắp vào, bên trong có 1 lớp đệm nhỏ bằng cao su dùng để cố định ruột phích. Màu sắc vỏ phích rất đa dạng: xanh, đỏ, tím, vàng, cam…và trang trí các hoa văn đẹp mắt. Có phích có hình những cô gái Huế trong tà áo dài thướt tha bên con sông Hương thơ mộng. Có phích in hình những danh lam thắng cảnh nổi tiếng của Việt Nam. Có phích lại cách điệu với những hình thù độc đáo. Dù là loại phích nào thì cũng không quên in thêm lô gô của nhà sản xuất.

Ở Việt Nam, hãng sản xuất phích uy tín và được nhiều người ưa chuộng nhất là Rạng Đông. Ngày nay, có nhiều hãng phích từ các nước như Nhật, Hàn, Đức cũng đã từng bước du nhập vào Việt Nam. Ruột phích là bộ phận quan trọng nhất. Phích tốt hay không là nhờ bộ phận này. Phần ruột phích thực chất là một bình 2 vỏ, được nối với nhau ở miệng, làm bằng thủy tinh tráng bạc để bức xạ các tia nhiệt trở lại nước trong phích. Giữa 2 lớp thủy tinh là chân không giúp nhiệt không truyền được ra bên ngoài. Đáy ruột phích có chuôi hút chân không là nơi hút khí giữa 2 lớp ruột phích nhằm ngăn chặn sự truyền nhiệt giữa nước trong phích và môi trường bên ngoài. Vì vậy, trong vòng 6 tiếng đồng hồ, nước từ 100°C còn giữ được 70°C.

Phích để giữ nhiệt luôn nóng hoặc lạnh nên phích đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống mỗi gia đình. Gia đình nào cũng có từ một đến hai chiếc phích. Phích để ông bà, bố mẹ pha trà tiếp khách, để mỗi em bé có một bình sữa ngon. Mùa đông đến, một cốc nước còn nóng sẽ tiếp thêm năng lượng cho một ngày mới. Buổi sáng học sinh chúng ta cũng phải cảm ơn chiếc phích vì nó giúp chúng ta có một bát mì nóng hay một cốc sữa thơm ngon.

Khi mua phích phải chọn thật kĩ, mang ra chỗ sáng mở nắp ra xem lớp tráng bạc có đều không. Nhìn từ trên miệng xuống đáy có điểm màu sẫm chính là van nút khí. Điểm đó càng nhỏ thì phích càng giữ nhiệt lâu. Áp tai cạnh phích nghe thấy tiếng o…o…o là phích tốt. Ngoài ra tháo đáy phích ra xem ngấn thủy ngân có còn nguyên vẹn hay không. Khi sử dụng phích nước thì mở nắp rót nước vào và khi dùng xong, đậy nắp lại. Muốn phích giữ được nước nóng lâu hơn, không nên rót đầy, chừa một khoảng trống giữa nước sôi và nắp phích để cách nhiệt. Mới mua về thì không nên rót nước sôi vào ngay sẽ làm vỡ phích, chỉ nên rót nước có nhiệt độ từ 50-60°C.

Cũng cần phải bảo quản phích đúng cách để phích được bền lâu. Cần tráng rửa sạch phích trước lần sử dụng đầu tiên. Khi mua phích mới về nên rót nước ấm vào phích trước khoảng 30 phút sau đó mới đổ nước sôi để tránh vỡ phích. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là, nếu ruột phích bị nứt vỡ thì nước có thể tiếp xúc với lớp bạc, ảnh hưởng tới độ tinh khiết và không tốt với sức khỏe. Trong trường hợp này, cần thay ngay ruột phích. Nếu dùng lâu phích bị cáu bẩn bám vào ta phải đổ vào ít giấm nóng, đậy chặt nắp lại lắc nhẹ rồi ngâm trong khoảng 30 phút. sau đó đổ ra và rửa sạch bằng nước. Khi dùng, nên tránh các khu vực có nhiều trẻ em. Nếu buộc phải sử dụng ở khu vực đó, nên để phích trong các giá hoặc nơi cao để tránh tai nạn.

Giữa bao nhiêu đồ dùng khác, chiếc phích là vật dụng không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi gia đình trong mọi thời đại. Bên cạnh đó chiếc phích cũng được coi là một ngọn lửa để giữ ấm nóng cuộc sống gia đình vì thế trong mỗi gia đình luôn cần phải có chiếc phích nước.

Thuyết Minh Về Phích Nước mẫu 7

Trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, có rất nhiều các loại đồ dùng, vật dụng được con người sử dụng trong gia đình. Đó là những vật dụng hữu ích, phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của con người. Có công dụng như một loại bình để chứa nước, đặc biệt là giữ cho nước luôn ấm để mọi người trong gia đình có thể sử dụng bất kì lúc nào, mà không cần tốn công hâm nóng hay đi đun lại nước. Vật dụng thần kì này mang lại cho con người rất nhiều tiện ích. Đó là chiếc phích nước.

Phích nước là một trong những vật dụng được sử dụng phổ biến trong các gia đình. Công dụng lớn nhất của chiếc phích nước chính là giữ nước nóng ở nhiệt độ ổn định. Phục vụ kịp thời nhu cầu sử dụng nước của con người mà không mất thêm nhiều công sức đun nóng. Với thiết kế đặc biệt, chiếc phích nước có thể duy trì độ nóng của nước trong một thời gian khá dài, khoảng bảy đến mười ngày. Chiếc phích nước được cấu tạo bởi các bộ phận chính như: vỏ phích- đây là bộ phận bảo vệ ruột phích, thường được làm bằng nhựa. Vỏ phích cũng là bộ phận cách nhiệt với ruột phích, người sử dụng có thể thoải mái sử dụng, va chạm với lớp vỏ bày mà không sợ bị phỏng, nóng. Ngày nay, do nhu cầu sử dụng đi kèm với nhu cầu thẩm mĩ nên con người nên những chiếc phích được trang trí bởi họa tiết hoa văn, những hình vẽ ở vỏ phích vô cùng độc đáo và đa dạng.

Bộ phận thứ hai của chiếc phích mà ta có thể kể đến, đó chính là ruột phích. Trong cấu tạo của phích, ruột phích được xem là bộ phận quan trọng nhất, nó có vai trò giữ nhiệt độ của nước nóng. Do ruột phích được làm bằng một lớp thủy tinh mỏng, sau đó được tráng trên bề mặt một lớp bạc nên phích nước có thể duy trì nhiệt độ của nước trong một thời gian dài. Bộ phận thứ ba của chiếc phích nước là chiếc lắp phích, bộ phận này cũng vô cùng quan trọng bởi nó là bộ phận dùng để che kín miệng phích, cách li được nước nóng trong phích tiếp xúc với không khí bên ngoài. Chiếc lắp phích thường được làm bằng nhựa, gồm hai lớp. Lớp ở trong có những đường xoáy để tạo độ khít với phích nước, lớp bên ngoài có hình dạng như một chiếc cốc nhỏ, đậy ở trên cùng.

Phích nước thường có dạng hình trụ dài, kích thước ở thân đều nhau, miệng tương đối nhỏ. Với kích thước này chỉ thích hợp dùng siêu đổ nước trực tiếp hoặc dùng những chiếc ca có miệng để rót nước vào phích. Màu sắc, hình dạng, kích thước của những chiếc phích cũng khá đa dạng. Ngày nay, người ta sản xuất phích nước với rất nhiều mẫu mã, màu sắc khác nhau, đáp ứng được nhu cầu sử dụng cũng như sở thích của mỗi người, mỗi gia đình. Nếu như hình dáng bên ngoài của chiếc phích có hình trụ dài thì ruột phích lại có hình trứng, thon tròn ở dưới đáy, thuôn dài ở phần thân.

Về kích thước của những chiếc phích phụ thuộc hoàn toàn vào dung lượng nước mà nó có thể chứa. Thể tích thông thường nhất của những chiếc phích là khoảng 300ml, nhưng cũng có những loại phích có kích thước lớn hơn 500ml để phục vụ cho những gia đình đông người, cho những gia đình có nhu cầu sử dụng nước nóng nhiều. Phích nước có công dụng có thể đáp ứng nhu cầu sử dụng của con người, song giá thành của nó cũng rất rẻ, giá dao động từ một trăm nghìn đồng đến hai trăm năm mươi nghìn đồng, tùy thuộc vào thể tích, mẫu mã, nhãn hiệu… nhờ những chiếc phích nước mà con người luôn có nước nóng để phục vụ các nhu cầu sinh hoạt như: pha trà, pha mì tôm, hòa cà phê….

Những chiếc phích mang lại nhiều tiện ích cho con người, trong đó quan trọng nhất là tiết kiệm được thời gian, công sức. Con người có thể sử dụng nước nóng bất kì lúc nào, nhiệt độ trong phích luôn được đảm bảo, nhu cầu sử dụng cũng được đáp ứng tốt hơn. Như vậy, phích nước là một vật dụng không thể thiếu trong sinh hoạt của mỗi người, mỗi gia đình.

Thuyết Minh Về Phích Nước mẫu 8

Phích nước là đồ dùng để giữ nhiệt cho nước nóng, rất thông dụng và thường có trong mọi gia đình.

Phích nước có rất nhiều loại được làm từ những vật liệu khác nhau, có cấu tạo và hình dáng khác nhau, về hình dáng phích nước thường có hình trụ, cao khoảng 35 – 40cm, giúp cho phích có thể đứng thắng mà không bị đổ.

Về cấu tạo: Phích nước được làm theo nguyên lý chống sự truyền nhiệt của nước, gồm hai bộ phận: Ruột phích và vỏ phích. Ruột phích là bộ phận quan trọng nhất. Nó được làm bằng hai lớp thuỷ tinh. Ở giữa là môi trường chân không làm mất khả năng truyền nhiệt của nước ra ngoài, ở phía trong lòng và ngoài của ruột phích là lớp thuỷ tinh được tráng bạc có tác dụng hắt nhiệt trở lại để giữ nhiệt. Càng lên trên cao đầu phích, miệng phích càng nhỏ lại để giảm khả năng truyền nhiệt của nước. Gắn với chiếc miệng nhỏ nhắn là cái nút có thể làm bằng gỗ hoặc bằng nhựa cứng luôn vừa khớp với miệng phích để cản trở sự thoát hơi nước và sự đối lưu truyền nhiệt của nước.

Ruột phích có hiệu quả giữ nhiệt cho nước rất tốt, trong vòng 6 tiếng đồng hồ, nước từ 100°c còn giữ được 70°c sẽ đảm bảo dùng nước được lâu và nước đủ nhiệt để pha chế trà, cà phê… tạo nên một nét đẹp văn hoá vừa mang tính chất cổ truyền của dân tộc vừa mang một phong cách hiện đại còn gọi là nét văn hoá “cafe” đậm đà bản sắc dân tộc. Chính vì ruột phích được làm bằng hai lớp thuỷ tinh nên rất dễ vỡ. Vì vậy vỏ phích là lớp để bảo quản ruột phích như là một tấm bình phong, vỏ phích ngày xưa có thể làm bằng tre, mây, sắt, nhôm… Ngày nay công nghiệp nhựa phát triển, vỏ phích cũng được thay thế dần bằng nhựa cứng vừa nhẹ, đẹp lại vừa bền và tốt. Gắn trên vỏ phích là một chiếc quai bằng nhựa, sắt… tuỳ theo từng loại phích, chiếc quai đó có thể quay đi quay lại một cách dễ dàng giúp chúng ta có thể xách di chuyển đi chỗ khác mà không phải bưng bê. Trên chiếc nút phích là nắp phích, nó có chức năng năng bảo vệ nút phích không cho trò em nghịch ngợm gây bỏng nước nóng. Nút phích băng các lớp ren xoáy chặt với miệng phích. Chiếc nắp phích đó có thể lấy làm cốc đựng nước cũng được.

Để bảo quản phích lâu hỏng ta nên làm một chiếc khung bằng gỗ để đặt phích và giữ chặt lấy phích. Đặt khuôn giữ phích ở nơi khô ráo, sạch sẽ, tránh nóng và xa tầm tay của trẻ em. Nếu để phích không đúng quy cách có thể gây tai nạn bỏng nặng vì phích giữ nhiệt cho nước sôi khá lâu.

Điều quan trọng nhất nhất là ta phải giữ gìn chiếc nút phích, vì nút phích để giữ khoảng chân không góp phần làm giảm khả năng truyền nhiệt của nước. Chúng ta nên lưu ý khi rót nước nóng vào phích phải rót từ từ để ruột phích dễ thích nghi với nhiệt độ cao thì phích sẽ lâu hỏng hơn khi chúng ta không làm như vậy. Khi rót nước xong phải đậy nút phích cẩn thận. Đối với nút phích bằng nhựa thì phải xoáy đúng ren, xoáy thật chặt, còn với nút phích bằng gỗ ta cũng phải đậy cho vừa khít để nước nóng được lâu. Nếu chúng ta không làm đúng cách thì ruột phích sẽ chóng hỏng vì không khí bên ngoài xâm nhập vào ruột phích.

Phích nước là một đồ dùng rất tiện lợi cho cuộc sống hàng ngày trong mỗi gia đình. Nó như người bạn thân trong mỗi gia đình. Sáng sớm bác nông dân mang phích nước nóng ra đồng thông buổi pha ấm trà nóng rít điếu thuốc lào khi đã cày xong thửa ruộng thì sảng khoái biết bao. Khách đến chơi nhà không phải “đốt than quạt nước” vì đã có phích ủ sẵn nước nóng pha trà mời khách rồi… Như vậy có thể nói: Phích nước đã góp phần tạo nên một nét đẹp văn hoá ở Việt Nam.

Thuyết Minh Về Phích Nước mẫu 9

Phích nước được phát minh bởi nhà vật lý học Sir James Dewar vào năm 1892 nhờ cải tiến từ thùng nhiệt lượng kế của Newton. Phích nước được cấu tạo từ 2 phần: ruột và vỏ. Phần vỏ hình trụ, chiều cao tùy hình dạng và kích thước của phích. Vỏ có thể làm bằng nhựa hoặc bằng kim loại và đi kèm với mỗi loại vỏ là các loại nắp (phích nhựa dùng nắp nhựa có ren, phích kim loại dùng nắp gỗ). Vỏ phích cũng là bộ phận cách nhiệt với ruột phích, người sử dụng có thể thoải mái sử dụng, va chạm với lớp vỏ bày mà không sợ bị phỏng, nóng. Ngày nay, do nhu cầu sử dụng đi kèm với nhu cầu thẩm mĩ nên con người nên những chiếc phích được trang trí bởi họa tiết hoa văn, những hình vẽ ở vỏ phích vô cùng độc đáo và đa dạng. Nắp phích dùng để ngăn cản hiện tượng truyền nhiệt của phích bằng đối lưu và giúp nước không tràn ra khỏi phích. Phần đầu phích còn có quai cầm và được trang trí hoa văn cùng tên thương hiệu. Phần đáy có thể gỡ ra lắp vào, bên trong có 1 lớp đệm nhỏ bằng cao su dùng để cố định ruột phích. Phần ruột phích thực chất là một bình 2 vỏ, được nối với nhau ở miệng, làm bằng thủy tinh tráng bạc để bức xạ các tia nhiệt trở lại nước trong phích. Giữa 2 lớp thủy tinh là chân không giúp nhiệt không truyền được ra bên ngoài. Đáy ruột phích có chuôi hút chân không là nơi hút khí giữa 2 lớp ruột phích nhằm ngăn chặn sự truyền nhiệt giữa nước trong phích và môi trường bên ngoài. Vì vậy, trong vòng 6 tiếng đồng hồ, nước từ 100°C còn giữ được 70°C.

Phích nước là đồ dùng thiết yếu trong gia đình tiện lợi cho việc giữ nước ấm trong một thời gian tương đối dài khoảng 24-30 tiếng. Đặc biệt mỗi khi có khách đến nhà thì chiếc phích nước dự trữ nguồn nước ấm sẽ giúp ta pha trà nhanh hơn, tấm lòng thảo thơm của ta như sóng sánh ra cùng hương thơm và sự ấm áp của li trà. Tuy không hiện đại cao và đáp ứng tuyệt đối hoàn hảo nhu cầu sử dụng của con người nhưng chiếc phích nước phần nào đảm bảo về việc giữ nhiệt và sự nhanh gọn. Có thể nói chiếc phích đã trở thành một trong những người bạn da dụng không thể thiếu trong gia đình chúng ta.

Để chọn được loại phích tốt thì bạn cần có một số mẹo sau đây. Mới mua về thì không nên rót nước sôi vào ngay sẽ làm vỡ phích, chỉ nên rót nước có nhiệt độ từ 50-60℃. Ruột phích là phần quan trọng nhất nên khi mua phích cần lựa chọn thật kĩ. Mang ra chỗ sáng, mở nắp phích ra, nhìn từ trên miệng xuống đáy thấy có điểm màu sẫm ở chỗ van hút khí. Điểm đó càng nhỏ thì van hút khí càng tốt, sẽ giữ được nhiệt độ lâu hơn. Áp miệng phích vào tai nghe có tiếng o o là tốt bởi vì không khí sẽ không thể bức xạ nhiệt ra ngoài môi trường được Tháo đáy phích xem núm thủy ngân có còn nguyên vẹn hay không. Khi bạn dùng lâu thì dưới đáy phích sẽ có bám những lớp váng màu vàng, vì thể càn vệ sinh thường xuyên bằng nước giấm. Ruột phích là đồ thủy tinh dễ vỡ vậy nên bạn cần để chúng ở nơi tránh va đập và có trẻ con nghịch ngợm.

Hi vọng rằng chiếc phích nước sẽ là người bạn giữ nhiệt đáng yêu và tiện ích của bạn. Ngày nay có thể có rất nhiều phát minh mới, hiện đại về các loại bình giữ nhiệt khác nhưng chắc chắn chiếc phích nước là một vât dụng không thể thiếu trong cuộc sống gia đình của mỗi người.

Thuyết minh về phích nước mẫu 10

Chiếc phích nước đã đi vào đời sống và trở thành một vật dụng quen thuộc và hữu ích của mỗi gia đình Việt Nam. Hầu như gia đình nào cũng sở hữu ít nhất là một chiếc phích nước.

Phích nước hay còn gọi là bình thủy hình trụ, chiều cao tùy vào kích thước của phích. Chiếc phích gồm có 2 phần là ruột phích và vỏ phích. Bộ phận vỏ phích gồm quai xách, nắp, cổ, thân, đáy làm bằng nhôm hoặc tre đan và hiện nay được làm nhiều bằng nhựa. Quai phích gồm hai quai: một quai gắn ở hai bên cổ phích vòng lên phía trên nắp phích để xách đi xách lại cho dễ, một quai được gắn ở thân phích để thuận lợi khi rót nước. Nắp phích gồm nút bên trong làm bằng xốp nhẹ bọc vải màu trắng hoặc làm bằng nhựa và nắp bên ngoài. Nhiệm vụ của nắp phích là giữ cho hơi nước không tỏa ra bên ngoài. Thân phích hình ống có in họa tiết, tranh trí hoa văn. Nhiệm vụ của thân là bảo vệ cho ruột phích khỏi vỡ. Đế phích hình tròn, là bộ phận cuối cùng của phích giữ cho phích đứng trụ trên mặt đất và bảo vệ phía dưới ruột phích. Ruột phích được cấu tạo bởi hai lớp thủy tinh, ở giữa là khoảng chân không. Bên thành trong của hai lớp thủy tinh còn được tráng bạc để phản chiếu bức xạ nhiệt, giúp ngăn sự truyền nhiệt ra bên ngoài. Ruột phích làm bằng thủy tinh nên rất mỏng và dễ vỡ. Ruột là phần quan trọng nhất nên khi mua cần lựa chọn thật kĩ: mang ra chỗ sáng mở nắp phích, nhìn từ trên miệng xuống đáy phích thấy có điểm màu sẫm ở chỗ van hút khí. Điểm đó càng nhỏ thì van hút khí càng tốt. Áp miệng phích vào tai nghe tiếng o…o là tốt. Tháo đáy phích kiểm tra xem núm thủy ngân có còn nguyên vẹn hay không. Tuy nhiên ruột phích truyền nhiệt kém, sự thay đổi nhiệt đột ngột như đổ nhanh nước nóng vào khi bình đang nguội lạnh, hay đổ nước lạnh vào khi bình đang nóng đều có thể làm bình bị nổ.

Từ đó ta nên bảo quản bằng cách: Khi mới mua về, rửa sạch để ráo nước rồi mới đổ nước nóng vào. Phích mới hay phích đã lâu không sử dụng ra phải từ từ đổ nước nóng vào, tốt nhất là chỉ đổ một ít rồi đậy nắp lại vài phút xong mới đổ tiếp. Khi đổ nước mới vào phích cần đổ hết nước cũ trong phích ra, lắc nhẹ tráng ruột phích cho sạch cặn. Muốn phích giữ được nước nóng lâu hơn ta không nên rót đầy chừa lại một khoảng trống giữa mực nước và nút phích để cách nhiệt. Nên để phích xa tầm tay trẻ nhỏ hoặc để trong các giá đựng phích tránh để phích bị đổ gây nguy hiểm. Ruột phích cũng có tuổi thọ nhất định. Khi thấy ruột không giữ được nhiệt nước lâu cầm mua và thay bằng ruột mới. Ruột phích khi sử dụng lâu có cặn bám ở đáy, muốn rửa sạch ta có thể đổ vào ruột một ít dấm, đậy chặt nắp lại, lắc nhẹ quanh ruột phích rồi để khoảng 30 phút sau đó dùng nước rửa sạch.

Phích nước có hiệu quả giữ nhiệt cho nước trong vòng 6 tiếng từ 100 độ C xuống 60 độ C. Chiếc phích là một vật dụng quen thuộc có ích và cần thiết cho mọi gia đình, nó đặc biệt có ích cho những người bán trà vỉa hè. Phích có nhiều loại và nhiều kích cỡ khác nhau có loại chứa khoảng nửa lít, loại lớn chứa khoảng 2 đến 3,2 lít. Các thương hiệu sản xuất được nhiều người ưa chuộng là phích Rạng Đông.

Ngày nay trên thị trường có nhiều những vật dụng có thể giữ ấm cho nước nhưng chiếc phích vẫn là một vật dụng quen thuộc, gần gũi giá cả phù hợp cho mọi gia đình người Việt.

Thuyết minh về phích nước mẫu 11

Trong gia đình chúng ta có vô vàn những vật dụng, vật dụng nào cũng hữu ích. Mỗi dụng cụ mang một chức năng riêng như cái bàn cái ghế để ngồi nói chuyện để ăn cơm chiếc phích nước dùng để giữ nước sôi khỏi nguội. Chiếc phích nước từ lâu đã trở thành một thứ đồ vật không thể thiếu của tất cả các gia đình từ xưa đến nay.

Bình thủy (phích nước) thông dụng rộng rãi hiện nay là một bình thủy tinh 2 lớp. Giữa hai lớp thủy tinh này là chân không để ngăn cản sự dẫn nhiệt. Hai mặt đối diện của 2 lớp thủy tinh được tráng bạc để phản xạ các tia nhiệt trở lại nước đựng trong phích. Phích được đậy nút kín để ngăn cản sự truyền nhiệt bằng đối lưu ra bên ngoài. Nhờ đó mà phích giữ được nước nóng lâu dài. Loại ruột bình thủy (phích nước) thông dụng nhất ở Việt Nam cũng được làm bằng thủy tinh. Ruột phích thủy tinh còn được tráng một lớp bạc mỏng ở mặt có lớp chân không kín. Lớp bạc này cũng góp phần làm giảm quá trình tỏa nhiệt của nước trong bình thủy.

Mỗi sáng ta nên đổ nước thừa ra, tráng qua một lượt cho sạch cặn còn đọng lại trong lòng phích, rồi mới rót nước sôi vào và vặn nắp thật chặt. Vì biết cách sử dụng và giữ gìn cẩn thận nên chiếc phích nhà em sau mấy năm vẫn tốt. Chúng ta nên để phích nước trong một chiếc thùng bằng bìa hoặc bằng gỗ. Tuy phích nước có rất nhiều công dụng nhưng nó cũng rất nguy hiểm đối với tất cả mọi lứa tuổi và nhất là trẻ em. Chúng ta nên để xa chỗ chơi của trẻ để tránh các em va đập vào rất nguy hiểm.

Giữa bao nhiêu đồ dùng khác, chiếc phích là vật dụng không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi gia đình trong mọi thời đại. Bên cạnh đó chiếc phích cũng được coi là một ngọn lửa để giữ ấm nóng cuộc sống gia đình vì thế trong mỗi gia đình luôn cần phải có chiếc phích nước.

Thuyết minh về phích nước mẫu 12

Phích được thiết kế khá là đơn giản bao gồm 2 phần: ruột phích và vỏ phích. Như chúng ta có thể quan sát thấy, phần vỏ được làm từ nhựa hoặc bằng kim loại. Với mỗi loại vỏ khác nhau người ta lại sử dụng loại nắp phích khác nhau. Nếu là phích nhựa, người ta sẽ sử dụng nắp nhựa có ren, còn nếu là phích kim loại thì người ta sẽ sử dụng nắp gỗ. Nắp phích có công dụng ngăn cản sự truyền nhiệt của phích bằng đối lưu và giữ cho nước không tràn ra ngoài. Phần đầu và phần lưng của phích có quai cầm để tiện cho việc vận chuyển. Để giúp cho phích nước trở nên bắt mắt trong mắt người tiêu dùng, các nhà sản xuất trang trí lên thân phích hình hoa văn kèm theo đó là tên thương hiệu. Tiếp theo là phần đáy của phích, đáy phích có thể gỡ ra hoặc nắp vào, bên trong còn có thêm một lớp đệm nhỏ bằng cao su giúp cho ruột phích được cố định.

Phần ruột phích được đặt nằm ở bên trong vỏ phích, làm bằng thủy tinh tráng bạc có tác dụng bức xạ các tia nhiệt trở lại nước trong phích. Để có thể giúp cho nhiệt đỡ bị truyền ra ngoài, người ta đã thiết kế “chân không” nằm ở giữa 2 lớp thủy tinh. Ở đáy ruột phích có chuôi hút chân không, nó có khả năng hút không khí giữa 2 lớp ruột phích hỗ trợ cho việc giữ nhiệt hiệu quả hơn.

Phích là đồ dùng thiết yếu trong mỗi gia đình, vì phích có khả năng giữ nước ấm trong khoảng thời gian khá là dài như 24 – 30 tiếng, nước sẽ vẫn còn ấm. Đặc biệt, mỗi khi nhà bạn có khách, bạn sẽ không phải lo lắng về việc không có nước nóng để pha trà, pha cà phê,… khả năng chứa nước của mỗi loại phích là khác nhau, loại nhỏ có thể chứa khoảng nửa lít, loại lớn có thể chứa đến khoảng 1,5 lít nước.

Để có thể chọn được một loại phích tốt, bạn có thể thử các mẹo sau đây. Ruột phích chính là phần quan trọng nhất chính vì thế khi mua phích bạn cần phải xem xét thật kỹ. Bạn có thể mang phích ra chỗ có ánh sáng và quan sát phần đáy của ruột phích, thấy xuất hiện một điểm màu sẫm. Điểm màu sẫm ấy càng nhỏ thì hút khí càng tốt và giữ nhiệt lâu hơn. Hoặc bạn có thể áp tai vào miệng phích nếu có tiếng o o thì phích đó là phích tốt. Khi sử dụng phích, muốn giữ nước ấm lâu hơn bạn nên đậy nắp lại ngay khi rót vào phích, và bạn nên nhớ không nên rót đầy phích, hãy chừa một khoảng trống giữa nước sôi và nắp phích để tránh việc nhiệt dễ bị truyền ra vỏ phích nhờ môi giới của nước. Khi mới mua phích về bạn cũng không nên rót nước sôi trực tiếp vào phích ngay, chỉ nên rót nước có nhiệt khoảng từ 50 đến 60 độ C, tránh tình trạng nước nóng quá làm vỡ phích.

Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều các đồ dùng sinh hoạt gia đình có thể giữ nhiệt được thiết kế rất hiện đại, thế nhưng chúng vẫn không thể làm lu mờ đi tác dụng, vai trò quan trọng của phích nước đối với cuộc sống con người.

Thuyết minh về phích nước mẫu 13

Trên thị trường hiện nay có rất nhiều đồ dùng sinh hoạt hằng ngày được thiết kế hiện đại, nhưng chúng ta vẫn không thể nào phủ định được tầm quan trọng của chiếc phích đối với cuộc sống con người.

Nếu bạn muốn bảo quản phích một cách tốt nhất, bạn nên thử những cách sau. Khi mới mua phích về, bạn không nên cho nước sôi vào sử dụng luôn. Trước tiên bạn nên rửa qua bằng nước sạch, sau đó bạn nên cho nước ấm khoảng 50 – 60 độ ngâm trong bình thủy khoảng 30 phút. Ngâm nước ấm như vậy sẽ giúp cho bình thủy của bạn sạch hơn và không bị vỡ khi đổ nước sôi vào. Sau khi làm sạch xong bạn có thể cho nước sôi vào và sử dụng bình thường. Muốn giữ cho nước ấm lâu, bạn không nên rót đầy phích, hãy giữ cho mực nước và nắp phích một khoảng cách. Mỗi sáng, khi thấy nước còn thừa, bạn nên đổ nước thừa đó đi để đảm bảo sức khỏe cho cả nhà, sau đó bạn lại rót nước sôi, đậy kín và sử dụng bình thường. Vì phích chứa nước nóng, phích cũng rất dễ vỡ, chính vì thế nó rất nguy hiểm cho tất cả mọi người, nhất là trẻ em. Các bạn nên đặt phích ở những nơi an toàn tuyệt đối.

Có thể thấy phích nước giống như người bạn thân trong mỗi gia đình. Khách đến chơi nhà không phải lo không có nước nóng pha trà vì đã có phích nước nóng ủ sẵn pha trà mời khách rồi… Như vậy, có thể thấy vai trò của phích là vô cùng quan trọng đối với cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của con người.

Thuyết minh về phích nước mẫu 14

Phích nước là một trong những vật dụng mà gia đình nào cũng có, công dụng chính của phích là giữ cho nước nóng trong thời gian dài. Có thể phục vụ kịp thời các trường hợp cần đến nước nóng mà không cần mất công đun. Cấu tạo của phích bao gồm 2 phần chính đó là: vỏ phích và ruột phích. Vỏ phích có thể được làm bằng nhựa hoặc kim loại, dùng để bảo vệ ruột phích. Ngoài ra, nhờ có lớp vỏ này mà khi bạn chạm vào phích sẽ không bị bỏng, nóng. Với nhu cầu thẩm mỹ hiện nay của người tiêu dùng, phích được thiết kế và trang trí bởi nhiều họa tiết, hoa văn kèm với đó là thương hiệu vô cùng độc đáo và đa dạng. Ruột phích được làm từ thủy tinh và tráng một lớp bên ngoài là bạc, lớp bạc này có vai trò giúp cho nước giữ được nhiệt lâu hơn. Bộ phận thứ 3 của phích cũng không kém phần quan trọng đó là nắp phích. Nắp phích dùng để che kín miệng phích, giúp cho nước cách ly với không khí bên ngoài. Chúng ta có thể thấy, nắp phích được cấu tạo 2 bộ phận. Phần lắp thứ nhất giúp đóng kín miệng phích, đối với phích bằng kim loại thì nắp phích đó bằng gỗ, còn phích bằng nhựa thì nắp phích cũng bằng nhựa có ren xoáy. Lớp ở bên ngoài có hình dạng như chiếc cốc nhỏ được đậy ở trên cùng của chiếc phích.

Thông thường phích thường có hình có hình trụ dài, kích thước thân đều nhau, miệng phích nhỏ hơn. Kích thước, họa tiết, hình dạng và màu sắc… của phích ngày này khá là đa dạng và phong phú. Người ta thiết kế nhiều loại mẫu mã với họa tiết trang trí bắt mắt khác nhau đáp ứng nhu cầu sở thích của con người. Thể tích thông thường nhất của phích thường là 300ml, có những loại có kích cỡ lớn hơn thì có thể chứa lượng nước lớn hơn lên tới 1,5 lít phục vụ cho những gia đình đông người. Trên thị trường hiện nay, tùy vào mỗi loại phích, tùy vào từng thương hiệu mà phích có giá khác nhau, nhìn chung giá dao động từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng tùy thuộc vào thể tích, mẫu mã, thương hiệu,…

Hiện nay, có rất nhiều vật dụng có khả năng giữ nhiệt được thiết kế hiện đại, song vẫn không thể phủ định được vai trò và tầm quan trọng của phích đối với cuộc sống sinh hoạt hằng ngày trong mỗi gia đình.

Bạn đang xem bài viết Cái Hay Của Thơ Mới (1932 trên website 3mienmoloctrungvang.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!