Xem Nhiều 1/2023 #️ Hỏi: Yêu Cầu Phi Chức Năng Chung Cho Các Hệ Thống Cung Cấp Dịch Vụ Công Trực Tuyến Gồm Những Chức Năng Gì? # Top 5 Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Xem Nhiều 1/2023 # Hỏi: Yêu Cầu Phi Chức Năng Chung Cho Các Hệ Thống Thông Tin Cung Cấp Dịch Vụ Công Trực Tuyến Gồm Những Chức Năng Gì? # Top 5 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Hỏi: Yêu Cầu Phi Chức Năng Chung Cho Các Hệ Thống Cung Cấp Dịch Vụ Công Trực Tuyến Gồm Những Chức Năng Gì? mới nhất trên website 3mienmoloctrungvang.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trả lời: Ngày 06/5/2013, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành văn bản số 1276/BTTTT-ƯDCNTT gửi các đơn vị chuyên trách về CNTT các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Sở Thông tin và Truyền thông các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc hướng dẫn về các yêu cầu phi chức năng chung cho các hệ thống thông tin cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Trong hướng dẫn nêu rõ Phạm vi áp dụng là Tài liệu hướng dẫn kỹ thuật, nhằm hỗ trợ các cơ quan nhà nước trong việc: Xây dựng yêu cầu phi chức năng cho các hệ thống thông tin cung cấp dịch vụ công trực tuyến; xây dựng bộ tiêu chí dùng để đánh giá về sự đáp ứng của các hệ thống thông tin cung cấp dịch vụ công trực tuyến đối với yêu cầu đặt ra trước khi nghiệm thu và tiếp nhận hệ thống. Đối tượng áp dụng gồm: Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương; Các cơ quan, doanh nghiệp và các tổ chức khác có nhu cầu có thể tham khảo, áp dụng.

Đối với hệ thống thông tin cung cấp dịch vụ công trực tuyến cần đáp ứng yêu cầu của người sử dụng, và xác định mối quan hệ tương tác giữa người sử dụng và hệ thống được phân loại thành hai nhóm:

1. Các yêu cầu chức năng là các chức năng tối thiểu mà hệ thống cần có nhằm đáp ứng các yêu cầu của các đối tượng tham gia vào việc quản lý, vận hành, duy trì, thực hiện nghiệp vụ bên trong, sử dụng dịch vụ cung cấp ra bên ngoài của hệ thống; 

2. Các yêu cầu phi chức năng là những ràng buộc và điều kiện đối với các yêu cầu chức năng của hệ thống như: ràng buộc về thời gian, ràng buộc về hiệu năng, các tiêu chuẩn được sử dụng… Những yêu cầu này ảnh hưởng đến chất lượng, khả năng sử dụng của hệ thống và có tác động trực tiếp đến sự hài lòng của người sử dụng, do đó, quyết định sự thành công của hệ thống. Các yêu cầu phi chức năng chung cho các hệ thống thông tin cung cấp dịch vụ công trực tuyến, gồm 7 chức năng cơ bản, đó là: 

(1) Hiệu năng hoạt động: Yêu cầu về thời gian; Tài nguyên sử dụng; Công suất tối đa; 

(2) Tương thích: Cùng tồn tại; Tương tác liên thông; 

(3) Tính khả dụng: là mức độ sử dụng được và làm hài lòng người sử dụng như: Phù hợp với nhu cầu;  Dễ dàng học cách sử dụng; Giao diện người sử dụng; Khả năng truy cập, khai thác;

(4) Tính tin cậy: Trưởng thành; Sẵn sàng; Khả năng chịu lỗi; Khả năng phục hồi; Thời gian giữa các lần xảy ra sự cố gián đoạn hoạt động của hệ thống;

(5) An toàn thông tin: Bảo mật; Toàn vẹn; Xác thực.

(6) Duy trì được là Phân tích được; Hiệu chỉnh được và Khả chuyển là Mức độ hiệu suất và hiệu quả của việc dịch chuyển một hệ thống từ một nền tảng phần cứng, phần mềm, hệ điều hành từ môi trường sử dụng này sang môi trường sử dụng khác; hỗ trợ khả năng dịch chuyển từ nền tảng chạy trên Unix sang nền tảng chạy trên Windows Server một cách dễ dàng, không phát sinh thêm chi phí hoặc kinh phí không đáng kể; Thích ứng: là hỗ trợ và sử dụng các trình duyệt thông dụng hiện nay như Micrsoft Internet Explorer, Google Crome, Mozila Firefox…; Cài đặt được; Vận hành; khai thác; Khả năng thay thế được là mức độ một sản phẩm phần mềm của hệ thống có thể được thay thế bởi một sản phẩm phần mềm khác có cùng mục đích sử dụng trong cùng một môi trường. 

 Chi tiết tải bản mềm Công văn hướng dẫn từ trang thông tin điện tử: http://www.aita.gov.vn.

BBT

 

Yêu Cầu Chức Năng Hay Phi Chức Năng?

Đã có một câu trả lời tuyệt vời của Aaronaught, nhưng vì đã có những câu trả lời khác, hiện đã bị xóa, hoàn toàn sai về yêu cầu phi chức năng là gì, tôi nghĩ sẽ hữu ích khi thêm một vài lời giải thích để tránh những sai lầm về những gì yêu cầu phi chức năng là.

Yêu cầu phi chức năng là “chất lượng hoặc tài sản mà sản phẩm phải có” . James Taylor nói rằng một yêu cầu phi chức năng “[…] dù sao cũng là một yêu cầu và điều quan trọng đối với khách hàng, đôi khi còn quan trọng hơn cả yêu cầu chức năng” . Sau đó, ông đưa ra hai ví dụ: logo của sản phẩm, độ chính xác và độ tin cậy của thiết bị. Cả hai ví dụ cho thấy rất rõ rằng:

Các yêu cầu phi chức năng không phải là một jibber-jabber tiếp thị như: “Internet ngày nay rất quan trọng và chúng tôi muốn có một trang web”.

Các yêu cầu phi chức năng là hoàn toàn khách quan.

Điểm cuối cùng là cần thiết. Nếu yêu cầu là chủ quan, nó không có gì để làm trong danh sách các yêu cầu. Không thể xây dựng các bài kiểm tra xác nhận từ một cái gì đó chủ quan . Mục đích duy nhất của danh sách các yêu cầu là liệt kê những kỳ vọng không mơ hồ của khách hàng. “Tôi muốn hình vuông này có màu đỏ” là một yêu cầu. “Tôi muốn hình vuông này có màu sắc đẹp” là một điều ước cần có lời giải thích.

Hãy nhớ rằng danh sách các yêu cầu giống như một hợp đồng (và trong hầu hết các trường hợp là một phần của hợp đồng). Nó được ký bởi khách hàng và công ty phát triển, và trong trường hợp kiện tụng, nó sẽ được sử dụng hợp pháp để xác định xem bạn đã thực hiện đúng công việc của mình chưa. Điều gì sẽ xảy ra nếu tôi đặt hàng cho bạn một sản phẩm phần mềm, xác định rằng “sản phẩm phải tuyệt vời” và từ chối thanh toán khi sản phẩm được hoàn thành, bởi vì đối với tôi, những gì bạn thực sự đã làm không phải là một sản phẩm tuyệt vời ?

Vì vậy, hãy xem một số ví dụ.

1. Sản phẩm phần mềm đáp ứng cho người dùng cuối.

Đây không phải là một yêu cầu. Không phải là một chức năng. Không phải là một chức năng. Nó không phải là một yêu cầu. Ở tất cả. Nó có giá trị bằng không. Bạn không thể kiểm tra xem hệ thống phần mềm có đáp ứng yêu cầu này trong quá trình kiểm tra xác nhận hay không. Không phải bạn – bộ phận QA, cũng không phải khách hàng.

2. Việc tải lại số liệu thống kê người dùng thực hiện 90% thời gian dưới 100 ms. khi được thử nghiệm trên máy với hiệu suất được chỉ định trong phụ lục G phần 2 và tải dưới 10% cho CPU, dưới 50% cho bộ nhớ và không có hoạt động đĩa R / W hoạt động.

Đó là một yêu cầu. Nếu phụ lục G phần 2 đủ chính xác, tôi có thể lấy máy có phần cứng tương tự và thực hiện kiểm tra xác nhận trong bộ phận QA và tôi sẽ luôn nhận được kết quả nhị phân: đã vượt qua hoặc thất bại.

Đây có phải là một yêu cầu chức năng? Không. Nó không chỉ định những gì hệ thống phải làm. Có thể có một yêu cầu chức năng trước đó, xác định rằng ứng dụng phần mềm phải có thể tải lại số liệu thống kê người dùng.

Đây có phải là một yêu cầu phi chức năng? Nó là. Nó chỉ định một thuộc tính mà sản phẩm phải có, tức là thời gian phản hồi tối đa / trung bình, được đưa ra ngưỡng phần trăm.

4. Cơ sở mã C # của sản phẩm tuân theo Quy tắc khuyến nghị tối thiểu của Microsoft và Quy tắc toàn cầu hóa của Microsoft.

Đây là một điều kỳ lạ. Cá nhân, tôi không muốn gọi nó là một yêu cầu, và đưa nó vào một tài liệu riêng quy định các tiêu chuẩn và thực tiễn tốt nhất.

5. Cửa sổ chính của ứng dụng có viền 10px màu xanh lam (# 00f) với các vòng tròn được tô màu hồng (#fcc), các vòng tròn đó được đặt ở cạnh trong của đường viền và có đường kính 3px, cách nhau 20px.

Đây là một yêu cầu, và không có chức năng. Nó chỉ định một cái gì đó chúng tôi có thể kiểm tra trong quá trình kiểm tra xác thực và nó chỉ định một thuộc tính của sản phẩm, chứ không phải những gì sản phẩm dự định làm.

6. Hệ thống theo dõi xe đo tốc độ với độ chính xác ± 0,016 dặm / giờ.

Cũng là một yêu cầu phi chức năng. Nó đưa ra một ngưỡng có thể đo lường được về độ chính xác của hệ thống. Nó không cho biết hệ thống phải làm gì, nhưng cho biết chính xác thì nó hoạt động như thế nào. Nhưng còn chờ gì nữa? Nó nói rằng hệ thống theo dõi xe đo tốc độ, phải không? Vì vậy, đó là một yêu cầu chức năng quá? Chà, không, vì chúng tôi nhấn mạnh vào độ chính xác của phép đo, chứ không phải trên thực tế là phép đo được thực hiện.

7. Hệ thống theo dõi xe đo tốc độ của xe.

Bây giờ nó là một yêu cầu chức năng. Nó không cho biết hệ thống hoạt động như thế nào, nhưng nó đang làm gì. Thông qua các yêu cầu chức năng, chúng ta có thể biết rằng hệ thống theo dõi xe đo tốc độ, năng lượng pin, áp suất của tôi không biết đèn nào sáng và có bật hay không.

8. Các trang của trang web mất 850 ms. để tải.

Đây không phải là một yêu cầu. Là cố gắng là một, nhưng hoàn toàn không hợp lệ. Làm thế nào bạn có tài sản này? Những trang nào? Tất cả các? Đã thử nghiệm qua mạng 1Gbps cục bộ trên máy khách lõi tứ và máy chủ tám lõi với SSD được sử dụng ở mức 2% hoặc qua modem của máy tính xách tay cũ và xảo quyệt trong khi trang web được lưu trữ bởi một máy chủ nhỏ được sử dụng ở mức 99% ? “Tải” nghĩa là gì? Có nghĩa là tải xuống trang? Tải về và hiển thị nó? Gửi yêu cầu POST với một số dữ liệu lớn, sau đó tải phản hồi và hiển thị nó?

Để kết luận, một yêu cầu phi chức năng luôn là một yêu cầu, có nghĩa là nó mô tả một cái gì đó là hoàn toàn khách quan và có thể được kiểm tra thông qua một bài kiểm tra xác nhận tự động hoặc bằng tay, nhưng thay vì nói những gì hệ thống đang làm, nó giải thích cách hệ thống đang làm một cái gì đó hoặc làm thế nào hệ thống là chính nó .

Quản lý các dự án công nghệ thông tin: Áp dụng các chiến lược quản lý dự án cho các sáng kiến ​​tích hợp phần cứng, phần cứng và tích hợp, James Taylor, ISBN: 0814408117.

Cơ Cấu Quản Trị Trực Tuyến Chức Năng.

Kết quả

Cơ cấu quản trị trực tuyến chức năng.:

Để khắc phục nhược điểm của các cơ cấu trực tuyến, chức năng, hiện nay kiểu cơ cấu liên hiệp (trực tuyến – chức năng) được áp dụng rộng rãi phổ biến cho các doanh nghiệp. Theo cơ cấu này, người lãnh đạo cao nhất của tổ chức được sự giúp đỡ của những người lãnh đạo chức năng để chuẩn bị các quyết định, hướng dẫn, và kiểm tra việc thực hiện quyết định. Mô hình cơ cấu trực tuyến – chức năng như sau:

Đặc điểm: Người lãnh đạo của tổ chức vẫn chịu trách nhiệm về mọi mặt công việc và toàn quyền quyết định trong phạm vi doanh nghiệp.Việc truyền mệnh lệnh vẫn theo tuyến đã quy định. Người lãnh đạo ở các bộ phận chức năng không ra lệnh trực tiếp cho những người thừa hành ở các bộ phận sản xuất theo tuyến.

Cơ cấu trực tuyến – chức năng đã lợi dụng được ưu điểm của cơ cấu trực tuyến và cơ cấu chức năng. Tuy nhiên lại xuất hiện nhược điểm mới.

– Người lãnh đạo phải thường xuyên giải quyết mối quan hệ giữa các bộ phận trực tuyến và các bộ phận chức năng.

– Những người lãnh đạo chức năng lại có nhiều ý kiến khác nhau, người lãnh đạo phải họp bàn, tranh luận căng thẳng, ra quyết định không kịp thời, hiệu quả quyết định thấp.

Để khắc phục nhược điểm này, một số các doanh nghiệp áp dụng cơ cấu quản lý, sử dụng ban tham mưu giúp việc của một nhóm chuyên gia hoặc chỉ một người trợ lý nào đó.

Cơ cấu trực tuyến tham mưu (Cơ cấu biến thể của trực tuyến chức năng).

Nếu áp dụng cơ cấu này, người lãnh đạo lợi dụng được tài năng của một số chuyên gia, tiếp xúc thường xuyên với họ không cần hình thành một cơ cấu tổ chức phức tạp. Cơ cấu này được gọi là cơ cấu tổ chức quản trị kiểu trực tuyến – tham mưu (giống như cơ cấu tham mưu trong quân đội).

Nguồn:TS. Hà Văn Hội (Quantri.vn biên tập và hệ thống hóa)

Mối Liên Hệ Giữa Dịch Vụ Công Trực Tuyến Với Phát Triển Thành Phố Thông Minh

Việc xây dựng thành phố thông minh đã trở thành xu hướng phát triển tất yếu đối với các đô thị. Nguồn: internet

Cách mạng công nghiệp 4.0 và quá trình đô thị hóa, sự gia tăng dân số đặt ra những thách thức lớn đối với các thành phố lớn trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Xu hướng xây dựng thành phố thông minh trở thành phương thức phát triển tất yếu. Tuy nhiên, để tạo nền tảng cho thành phố thông minh phát triển, Việt Nam cần đẩy mạnh thực hiện dịch vụ công trực tuyến, xây dựng chính phủ điện tử, ứng dụng công nghệ thông tin vào trong mọi hoạt động xã hội, giúp con người có cuộc sống tốt hơn và trở nên thân thiện với môi trường.

Thành phố thông minh và lợi ích phát triển

Với sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, việc xây dựng thành phố thông minh (TPTM) đã trở thành xu hướng phát triển tất yếu đối với các đô thị, nhất là với các thành phố lớn trên thế giới cũng như tại Việt Nam.

Khảo sát của nhiều nhà nghiên cứu cho thấy, đô thị hoá đã mang lại nhiều cơ hội về tăng trưởng kinh tế và các triển vọng về môi trường kinh doanh cũng như việc làm cho người dân, góp phần quan trọng vào tăng trưởng của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa cùng với sự gia tăng dân số cũng đang đặt ra nhiều thách thức đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia. Trước áp lực đó, Chính phủ các nước bao gồm cả Việt Nam buộc phải nghiên cứu, xây dựng và phát triển các TPTM nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, tối đa hoá các nỗ lực bảo vệ môi trường bền vững và tạo ra các dịch vụ công dân mới.

TPTM có các đặc điểm chính sau: Là thành phố hiện đại, có nền kinh tế số, môi trường thông minh, quản trị thông minh, giao thông thông minh, năng lượng thông minh, y tế thông minh, giáo dục thông minh và nhiều yếu tố thông minh khác. Ở đó, công nghệ thông tin và truyền thông (hệ thống internet vạn vật trong các ứng dụng, mạng viễn thông (Wifi, 4G/5G), điện thoại thông minh và hệ thống phân tích sử dụng trí tuệ nhân tạo) được ứng dụng và làm cho công việc xây dựng, quản lý và phát triển thành phố hiệu quả và thông minh hơn; cung cấp dịch vụ, tiện ích tới người dân và DN, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Lợi ích của việc áp dụng mô hình thành phố thông minh

Các nghiên cứu thực tiễn cho thấy, mặt tích cực của việc xây dựng TPTM là nhằm hướng tới cuộc sống tốt đẹp cho người dân, đáp ứng các nhu cầu một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất. Cụ thể:

Thứ nhất, an ninh công cộng được đảm bảo: Các TPTM tận dụng các giải pháp an toàn và an ninh công cộng tích hợp (như camera thông minh có khả năng nhận diện theo khuôn mẫu, giám sát từ xa, cũng như khả năng cảnh báo thông qua các nền tảng phân tích tự động), để đảm bảo một môi trường an toàn cho người dân.

Thứ hai, chất lượng cuộc sống được cải thiện: Các TPTM sẽ thúc đẩy công nghệ thông tin và truyền thông để tích hợp, cũng như mở rộng tầm nhìn của mình trong việc tạo ra các mối liên kết chặt chẽ giữa giáo dục, công nghiệp và chính phủ. Các TPTM sẽ cung cấp các tiện nghi cao cấp về nhà ở, trường học, bệnh viện, các cơ sở giáo dục, cũng như các điểm vui chơi giải trí và cửa hàng tiện lợi nhằm mang lại chất lượng cuộc sống tốt hơn cho người dân.

Thứ ba, tài nguyên được sử dụng một cách tối ưu: Trước bối cảnh gia tăng dân số mạnh mẽ, nhiên liệu thiếu hụt và cạn kiệt hiện nay, việc phát triển TPTM và ứng dụng công nghệ tiên tiến sẽ giúp tối ưu hoá việc tiêu thụ các nguồn lực như điện, nhiên liệu và nước.

Thứ tư, các dịch vụ công được kết nối và minh bạch hơn: Trước đây, hiệu quả của các dịch vụ công được dẫn dắt thông qua các sáng kiến Chính phủ điện tử độc lập và rời rạc. Ngày nay, các TPTM tập trung vào việc cung cấp các dịch vụ công một cách liên thông và liền mạch nhằm mang đến trải nghiệm dịch vụ tốt hơn cho người dân. Mức độ dễ dàng tiếp cận cũng như hiệu quả các dịch vụ công gắn liền với tính minh bạch và công bằng trong công tác quản trị của thành phố.

Dịch vụ công trực tuyến và mối quan hệ đến phát triển thành phố thông minh

Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Chính phủ đã quy định cụ thể về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước như sau: “Dịch vụ công trực tuyến là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác của cơ quan nhà nước được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng”.

Như vậy, xây dựng chính quyền điện tử, thực hiện dịch vụ công trực tuyến là những thành tố quan trọng tiên quyết để xây dựng TPTM, dựa trên cơ sở lựa chọn những lĩnh vực thiết yếu nhất cần cải thiện: môi trường, y tế, giáo dục, giao thông, an ninh an toàn, du lịch, quản lý đô thị…. Qua đó, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân và DN khi giao tiếp với cơ quan chính quyền, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân

Dịch vụ công trực tuyến là ứng dụng công nghệ thông tin vào việc giải quyết thủ tục hành chính của người dân, DN. Khi dịch vụ công trực tuyến phát triển, thói quen của người sử dụng thay đổi thì thành phố sẽ phát triển theo đúng hướng của TPTM, đó là một thành phố công nghệ với môi trường sống thân thiện, tiên tiến, hiện đại và nhân văn.

Thực tế, nhờ đẩy mạnh thực hiện dịch vụ công trực tuyến ứng dụng công nghệ ở các tỉnh, thành phố trên cả nước đã có nhiều chuyển biến, tuy nhiên tỷ lệ theo báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông năm 2018 là chưa cao, chỉ đạt 10,67%. Nguyên nhân là do người dân ở các địa phương, chủ yếu là lao động thuần nông, trình độ tin học còn hạn chế, nên việc thực hiện các dịch vụ công trực tuyến khó khăn.

Đề xuất, khuyến nghị

Cung cấp các dịch vụ công trực tuyến là một nội dung quan trọng của tiến trình cải cách hành chính, xây dựng Chính phủ điện tử, mà Chính phủ điện tử là một trong những thành tố quan trọng góp phần tạo nền tảng để phát triển các TPTM. Vì vậy, thời gian tới Việt Nam cần quan tâm, đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến, tiến tới xây dựng Chính phủ điện tử.

Theo đó, dịch vụ công trực tuyến phải minh bạch, được thể hiện ở chính phủ mở và có trách nhiệm là nền tảng cho sự hiểu biết của công dân. Những tiến bộ trong phương tiện truyền thông xã hội, phân tích dữ liệu, dữ liệu mở và dữ liệu lớn, tất cả các công dân đòi hỏi phải tạo ra một chính phủ mở, dựa trên một chu kỳ minh bạch ngày càng liên tục, tương tác và lặp đi lặp lại giữa người dân và Chính phủ. Dịch vụ công trực tuyến phải dễ sử dụng, dễ tìm thấy bằng các công cụ tìm kiếm trên internet. Cần tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn cho người dân, DN sử dụng dịch vụ công. Người dân có thể thực hiện thủ tục hành chính trực tuyến hay không phụ thuộc vào thời gian, địa điểm, người dân được số hoá, lưu trữ hồ sơ trực tuyến, quản lý tập trung.

Nghiên cứu cho thấy, tình trạng triển khai phần mềm dịch vụ công trực tuyến hiện nay chưa phù hợp với thực tế và nhu cầu địa phương, điều này đã gây khó khăn cho người nộp hồ sơ trực tuyến. Vì vậy, việc ban hành một bộ tiêu chuẩn đồng nhất từ phần mềm đến các bước thực hiện dịch vụ công trực tuyến là cần thiết để người dân, DN nộp hồ sơ trực tuyến một cách thuận tiện, đảm bảo an toàn về bảo mật thông tin… Tóm lại, thời gian tới cần tập trung vào một số giải pháp trọng tâm sau:

Thứ nhất, đẩy nhanh việc xây dựng, hoàn thiện thể chế tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, toàn diện cho việc triển khai, xây dựng phát triển chính phủ điện tử; tạo nền tảng vững chắc cho dịch vụ công trực tuyến phát triển thông suốt và bền vững bằng cách xây dựng Luật Chính phủ điện tử và các văn bản hướng dẫn, bảo đảm hành lang pháp lý phát triển chính phủ điện tử dựa trên dữ liệu mở; Ứng dụng các công nghệ mới như: SMS, Zalo, email, chức năng tự động gửi SMS thông báo trên tài khoản của người dân khi nhận, trả hồ sơ dịch vụ công trực tuyến.

Thứ hai, tăng cường công tác truyền thông và quảng bá hiệu quả về dịch vụ công trực tuyến, các thủ tục hành chính được thực hiện trên môi trường mạng để người dân, DN hiểu rõ hơn về lợi ích mang lại từ việc sử dụng dịch vụ công trực tuyến; Chú trọng nội dung và hình thức tuyên truyền phù hợp với từng đối tượng thụ hưởng. Việc triển khai thực hiện công tác tuyên truyền dịch vụ công trực tuyến phải được thực hiện đồng bộ và xuyên suốt.

Thứ ba, nâng cao nhận thức của người dân đối với các lợi ích của dịch vụ công trực tuyến, để từ đó thay đổi các thói quen trong việc giải quyết các thủ tục hành chính, có những biện pháp cụ thể như hỗ trợ phí, giảm phí đối với người thực hiện thủ tục hành chính qua dịch vụ công trực tuyến. Bên cạnh đó, Nhà nước và DN cùng vào cuộc để hỗ trợ đào tạo, nâng cao kỹ năng, trình độ sử dụng máy tính, internet cho người dân, hỗ trợ máy tính, điểm truy cập internet công cộng.

Thứ tư, các cơ quan nhà nước nên kết hợp với bưu điện để trả kết quả, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, DN khi thực hiện thủ tục hành chính.

Thứ năm, tăng cường kiểm tra, giám sát, khen thưởng và xử lý trách nhiệm trong thực hiện cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến. Các hoạt động thanh tra, kiểm tra không thể thiếu trong quá trình xây dựng cũng như phát triển Chính phủ điện tử. Các hoạt động này cần được tiến hành thường xuyên, định kỳ để có thể phát hiện những thiếu sót của các quy định điện tử trong hoạt động nội bộ hoặc những sai phạm trong các giao dịch điện tử, từ đó có biện pháp khắc phục.

Thứ sáu, nền tảng của phát triển TPTM là ứng dụng công nghệ thông tin vào giải quyết các nhu cầu xã hội, vì vậy đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin là một việc làm cần lưu tâm đẩy mạnh, để phát triển dịch vụ công trực tuyến nói riêng và hướng tới phát triển TPTM nói chung.

Bạn đang xem bài viết Hỏi: Yêu Cầu Phi Chức Năng Chung Cho Các Hệ Thống Cung Cấp Dịch Vụ Công Trực Tuyến Gồm Những Chức Năng Gì? trên website 3mienmoloctrungvang.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!