Xem Nhiều 1/2023 #️ Khái Niệm Thần Kinh Học # Top 1 Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Xem Nhiều 1/2023 # Khái Niệm Thần Kinh Học # Top 1 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Khái Niệm Thần Kinh Học mới nhất trên website 3mienmoloctrungvang.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Khái niệm thần kinh học

Lê Thạch

Khoa Thần kinh Bệnh viện Bạch Mai

Nhiều người “quen dùng” từ Thần kinh để chỉ người bị rối loạn tâm trí! Có cán bộ y tế nhầm lẫn giữa thần kinh và tâm thần. Vậy Thần kinh học là gì ?

Thần kinh học (Neurology) là khoa học chuyên nghiên cứu về toàn bộ hoạt động của hệ thần kinh về phương diện cấu trúc, chức năng trong hoàn cảnh bình thường cũng như trong hoàn cảnh rối loạn, bệnh lý… Dựa trên những tiến bộ của khoa học, kỹ thuật, nhất là những tiến bộ về lý sinh, hoá sinh, về điện toán, khoa học nghiên cứu về thần kinh cũng được đẩy mạnh lên trình độ cao.

Thần kinh học chuyên nghiên cứu điều trị những bệnh chủ yếu làm rối loạn hoạt động thần kinh mà căn bản là những hoạt động phản xạ không điều kiện làm trở ngại sự thích ứng của cơ thể đối với môi trường bên ngoài.

Hệ Thần kinh

Là hệ thống trẻ tuổi nhất trong các hệ thống cơ quan của sinh vật. Trong quá trình tiến hoá (bậc thang sinh vật), hệ thần kinh là dẫn chứng điển hình của sự phân biệt giữa người và vật, cho sự phát triển sinh vật, phát triển biện chứng.

Hệ Thần kinh

Là cơ quan chủ động của toàn thể, phụ trách hoàn toàn mọi hoạt động của cơ thể với hai hệ: hệ tiếp ngoại chi phối hoạt động cơ thể với môi trường bên ngoài, và hệ thực vật phụ trách hoạt động của môi trường bên trong. Não và Tủy sống làm thành hệ thần kinh trung ương: từ não và tủy sống có các dây thần kinh – dây thần kinh sọ (chi phối khoanh đầu -mặt), dây thần kinh gai (tủy) (chi phối khoanh cơ thể và các chi) – toàn bộ hình thành hệ thần kinh ngoại vi (ở lâm sàng, cần phân biệt tổn thương trung ương và tổn thương ngoại vi).

Cơ thể con người tiếp thu các phản ứng kích thích ở bên ngoài và ở bên trong, chọn lọc, loại trừ và tùy từng trường hợp có những phản ứng khác nhau. Thông qua các tổ chức khác nhau, từ đơn giản đến phức tạp, thậm chí rất phức tạp của toàn bộ hệ thần kinh để thực hiện tốt nhiệm vụ tiếp thu và giải đáp…

Như vậy, thứ nhất hệ thần kinh giữ mối liên hệ các cơ quan, cơ thể với môi trường bên ngoài, qua đó biểu hiện những hình thái tinh vi và phức tạp của cơ thể với thế giới bên ngoài, thứ hai là, điều chỉnh hoạt động của cơ thể và thứ ba là tạo mối thống nhất giữa hiện tượng bên ngoài và hoạt động bên trong của cơ thể.

Nghiên cứu các chứng-bệnh thần kinh

Là nghiên cứu những biểu hiện rối loạn chức năng tiếp thu và chức năng giải đáp của hệ thần kinh ở các hình thái kích thích hay hủy hoại gián đoạn. Từ đó nghiên cứu đánh giá phân tích các biểu hiện bệnh lý thần kinh: những biểu hiện này rất phong phú đa dạng, từ những căn bệnh chung như bệnh tim mạch nhiễm độc, u độc, xâm phạm gây tổn thương hệ thần kinh hoặc từ những căn bệnh riêng của hệ thần kinh (virut hướng thần kinh, u hệ thần kinh, bệnh bẩm sinh, thoái hoá…)

         Trong nhiều trường hợp, “biến cố bệnh lý” đó biểu hiện dưới hình thức dị cảm (thường là đau đớn) và gây nên những hoạt động đối phó như căng cơ, rãn mạch…. Đó là những phản ứng thần kinh, phát sinh ra những triệu chứng báo hiệu đầu tiên. Ví dụ, đau vùng hố chậu phải “báo hiệu” có thể là viêm ruột thừa. Trong viêm ruột thừa có phản ứng cơ thành bụng …

Nghiên cứu hoặc kỹ thuật phát hiện những biểu hiện rối loạn đó là những vấn đề của triệu chứng thần kinh. Nghiên cứu các mặt triệu chứng riêng rẽ (triệu chứng phân tích) sau đó tổng hợp lại thành hội chứng (triệu chứng tổng hợp). Đặc biệt ở thần kinh, vấn đề khu trú tổn thương rất quan trọng (chẩn đoán định khu), từ đó có thể thấy được nguyên nhân để tiến hành chữa bệnh.

Do đặc điểm thần kinh có liên hệ chặt chẽ với những phần tử hốc xương ở vùng sọ – mặt,… thực chất là những “đầu ngọn” của thần kinh ngoại vi. Những rối loạn bệnh lý ở vùng đó, hoặc ngược lại những tổn thương ở trục thần kinh đều có thể có những biểu hiện bệnh lý ở sọ – mặt, và thường là “lý do” người bệnh đến khám ở chuyên khoa mắt, tai mũi họng hay răng hàm mặt… đặc biệt đau nhức tới khám ở khoa Nội….

Ngoài những “thông tin” về máu, sinh hoá, nước tiểu, dịch não tủy, thần kinh học còn dựa trên những kết quả thăm dò chức năng như X quang thần kinh, điện não đồ, chụp cắt lớp vi tình, chụp cộng hưởng từ, các loại siêu âm, chụp mạch não. Ngoài ra, trong quá trình phát triển ở tương lai, chúng ta sẽ có chụp cắt lớp điện tử dương (PET), chụp cắt lớp vi tính với photon (SPECT), sử dụng các chất đánh dấu di truyền.

Những biểu hiện bệnh lý thần kinh

Bệnh thần kinh là đối tượng của thần kinh học với những dạng bệnh khá phong phú của các bệnh ở não, ở tủy sống, từ những căn bệnh chung (tim mạch, nhiễm độc, u độc…) xâm phạm gây tổn thương hệ thần kinh hoặc từ những căn bệnh riêng của hệ thần kinh (virut hướng thần kinh, u hệ thần kinh, bệnh bẩm sinh, thoái hoá. Ngoài ra cũng phải nêu bệnh của thế kỷ ngày càng “xâm phạm” vào hệ thần kinh – bệnh của môi trường “hiện đại”, bệnh HIV, AIDS…

Điều trị ở thần kinh 

Cũng như các chuyên khoa khác, điều trị bệnh thần kinh bao gồm điều trị nguyên nhân và điều trị triệu chứng, điều trị nội khoa và điều trị ngoại khoa hoặc kết hợp cả hai, và nhất là điều trị phục hồi chức năng thần kinh.

Ngoài ra, điều trị phải toàn diện bao gồm điều trị thuốc men, ăn uống, nghỉ ngơi và điều trị tâm lý.

Phòng bệnh ở thần kinh.

– Phòng bệnh ở thần kinh bao gồm ngăn ngừa những tác nhân gây bệnh kết hợp với các chế độ chính sách của xã hội, với sự chú ý giúp đỡ của các ngành kinh tế. Trước hết, tập trung vào bảo vệ bà mẹ và trẻ em, phòng chống bệnh nhiễm khuẩn và bảo vệ lao động

– Phòng bệnh ở thần kinh còn ở chỗ biết phát hiện sớm, chính xác những triệu chứng thần kinh…Điều này không những đòi hỏi về chất lượng cán bộ chuyên khoa thần kinh ở các tuyến mà cán bộ đa khoa cũng cần được trang bị kiến thức “thần kinh trong thực hành đa khoa”. Phòng bệnh ở thần kinh còn ở chỗ tổ chức điều trị, theo dõi, phát hiện tại cộng đồng và thuốc men được kịp thời đầy đủ.

– Phòng bệnh ở thần kinh còn ở chỗ phổ biến, nâng cao những kến thức thông thường về các bệnh thần kinh cho các tầng lớp nhân dân.

“Thập kỷ của Não” ( Decade ò the Brain) đã qua. Thế kỷ 21 là thế kỷ của “tư duy“, với BRAIN Initiative của Obama…

Ở ta, do hoàn cảnh đặc biệt – còn phải giải quyết những vấn đề chung của Y tế cộng đồng, chuyên ngành Thần kinh có những bước đi ban đầu đầy khó khăn, mặt khác lại cần và phải tiếp cận với Thần kinh học hiện đại.

Dựa trên đường lối, phương châm y học của ta, chuyên ngành Thần kinh cần phải:

– Về lâm sàng – cần phải có thời gian dài nghiên cứu đặc điểm về các bệnh thần kinh chủ yếu ở Việt Nam, bệnh thần kinh nhiệt đới: các bệnh nhiễm khuẩn thần kinh, bệnh lý mạch máu não, bệnh động kinh. Đặc biệt, cần tập trung chú ý các chứng đau nhức ở thần kinh, các cơn co giật ở trẻ em và ở người cao tuổi, các chứng sa sút trí tuệ, nghiên cứu Viêm não Nhật bản ở Việt Nam, Tai biến mạch máu não ở tuổi già và ở tuổi trẻ, các bệnh thoái hoá (bệnh xơ cứng rải rác…), bệnh tự miễn ở thần kinh.

– Về điều trị và dự phòng, cần tập trung giải quyết nhiễm khuẩn thần kinh (nhất là Viêm màng não do lao, viêm não B), tổ chức phát hiện và xử trí kịp thời bệnh động kinh, tai biến mạch máu não cũng như tiếp tục giải quyết di chứng thần kinh sau sang chấn sọ trước kia (trong chiến tranh) và hiện nay trong tai nạn giao thông. Đồng thời, phải chú ý nhiều tới các bệnh nghề nghiệp ở thần kinh.

– Về chẩn đoán, cần sử dụng một cách rộng rãi các phương tiện thăm dò chức năng, trước hết là những “kỹ thuật mũi nhọn”. Tiến hành nghiên cứu điện não đồ trong lâm sàng cũng như trong thần kinh sinh lý lâm sàng, sử dụng chụp cắt lớp vi tính rộng rãi hơn trong chẩn đoán bệnh não, nhất là tai biến mạch máu não, chèn ép não… Nghiên cứu phát triển chụp cộng hưởng từ và các siêu âm não.

Nghiên cứu sử dụng thần kinh tâm lý lâm sàng trong chẩn đoán một số bệnh thần kinh.

Cố gắng trong tình hình hiện nay kết hợp lâm sàng và giải phẫu bệnh lý thần kinh để nghiên cứu góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán, điều trị bệnh thần kinh.

Khái Niệm “Biên” Trong Kinh Tế Học

Giá trị biên tế – Marginal value

Nguồn gốc của khái niệm “Biên” xuất phát từ khái niệm giá trị biên tế (marginal value) trong toán học:

Với Y = f(X), giá trị biên tế của Y là mức thay đổi của Y khi X thay đổi một đơn vị.

Giá trị biên tế của Y = dY/dX   (dY là lượng thay đổi của Y khi X thay đổi một lượng dX).

Thuyết cận biên – Marginalism

Theo Wikipedia: Marginalism is a theory of economics that attempts to explain the discrepancy in the value of goods and services by reference to their secondary, or marginal, utility.

Tạm dịch: Thuyết cận biên là một lý thuyết kinh tế học cố gắng giải thích sự khác biệt (discrepancy) về giá trị của hàng hóa, dịch vụ bằng cách tham chiếu đến lợi ích (utility) thứ cấp, hay lợi ích biên tế, của nó.

Theo [1]:

Adam Smith đã phải “vật lộn” với hai khái niệm “giá trị sử dụng” (value in use) và “giá trị trao đổi” (value in exchange). Tại sao nước rất cần thiết cho sự tồn tại và có giá trị sử dụng khổng lồ nhưng giá trên thị trường thấp (đôi khi bằng 0), trong khi kim cương là một thứ phù phiếm nhưng giá thị trường của kim cương (giá trị trao đổi) lớn hơn nước rất nhiều! Adam Smith đã thất bại trong việc phân biệt giữa hữu dụng toàn bộ (total utility, theo tôi – LVL – ta nên hiểu total utility là hữu dụng xét trên tổng thể) và hữu dụng biên (marginal utility) – đây được gọi là: nghịch lý kim cương – nước.

Hữu Dụng (utility)

Hữu Dụng (utility) được định nghĩa là mức thỏa mãn hoặc hài lòng đi cùng với những sự lựa chọn thay thế. Các nhà kinh tế cho là khi các cá nhân đối mặt với một sự lựa chọn những hàng hoá thay thế khả dĩ, họ luôn lựa chọn hàng hoá thay thế mang lại mức Hữu Dụng (utility) lớn nhất.[2]

Hữu Dụng toàn bộ (Total Utility) và Hữu Dụng biên (Marginal Utility)

Theo [2]:

+ Hữu dụng toàn bộ đi cùng một hàng hoá là mức thoả mãn có được từ việc tiêu dùng hàng hoá đó.

+ Hữu dụng biên là một cách tính Hữu dụng bổ sung có được khi tiêu dùng thêm một đơn vị hàng hoá.

Để dễ hiểu, xin giải thích hơi ngược một tí (không theo sách) là:

Một người khi chưa ăn miếng bánh pizza nào thì hữu dụng toàn bộ và hữu dụng biên đều là 0. Khi người đó ăn một miếng bánh đầu tiên họ sẽ có cảm giác thỏa mãn lớn nhất (ngon nhất) – tức hữu dụng biên của miếng bánh thứ nhất là lớn nhất; khi ăn miếng thứ hai, cảm giác thỏa mãn của họ sẽ giảm đi một chút – hữu dụng biên của miếng bánh thứ hai giảm đi một chút,… đến một lúc nào đó người này không thấy ngon nữa thì nếu ép họ ăn thêm 1 miếng (giả sử là miếng thứ 6), cảm giác lúc này không phải là thỏa mãn mà là khó chịu – hữu dụng biên của miếng bánh thứ 6 là âm (<0)! – đây cũng chính là một quy luật theo thuyết cận biên: quy luật hữu dụng biên giảm dần (diminishing marginal utility). Quy luật này được cho là xảy ra với mọi hàng hóa thực sự [2].

Hữu dụng toàn bộ chính là tổng các hữu dụng biên của các sản phẩm đã tiêu dùng – tức hữu dụng toàn bộ khi chưa ăn miếng bánh nào là 0; khi ăn 2 miếng thì hữu dụng toàn bộ là tổng hữu dụng biên của miếng bánh thứ nhất và miếng bánh thứ hai.

Giải thích thuận (theo sách) là:

Hữu dụng biên đi cùng với thêm một miếng bánh chỉ là sự thay đổi về mức hữu dụng toàn bộ xuất hiện khi thêm một miếng bánh pizza được tiêu dùng. Ví dụ, hữu dụng biên của miếng bánh pizza thứ ba là 20 do hữu dụng toàn bộ tăng 20 đơn vị (từ 110 lên 130) khi miếng bánh thứ ba được tiêu dùng.

Thứ tự Số miếng bánh (Q) Hữu dụng toàn bộ (TU) Hữu dụng biên (MU) Cách tính MU

1 0 0 0 MU = 0

2 1 70 70 MU2 = TU2-TU1 = 70-0

3 2 110 40 MU3 = TU3-TU2 = 110-70

4 3 130 20 MU4 = TU4-TU3 = 130-110

5 4 140 10 MU5 = TU5-TU4 = 140-130

6 5 145 5 MU6 = TU6-TU5 = 145-140

7 6 140 -5 MU7 = TU7-TU6 = 140-145

Một cách tổng quát hơn, hữu dụng biên được định nghĩa là:

                           Thay đổi về hữu dụng toàn bộ

Hữu dụng biên = —————————————————–

                          Thay đổi về số lượng sản phẩm

Theo ví dụ trên ta thấy, hữu dụng toàn bộ chính là tổng các hữu dụng biên. Hay nói cách khác, ta có thể tính Hữu dụng toàn bộ bằng tích phân của hàm hữu dụng biên.

Lợi nhuận biên (Marginal benefit):

Lợi nhuận tăng thêm khi bán được thêm 1 sản phẩm.

Chi phí biên (Marginal cost = MC):

Chi phí tăng thêm cho việc sản xuất thêm 1 đơn vị sản phẩm. Chi phí biên không bị ảnh hưởng bởi định phí.

Doanh thu biên (Marginal revenue = MR):

Doanh thu tăng thêm khi bán được thêm 1 sản phẩm.

[1] Marginalism tại http://www.econlib.org/library/Enc/Marginalism.html

[2] Lý thuyết lựa chọn tại  http://tuvancrm.com/07-crm-theo-nganh/08-kinh-te-tai-chinh/kinh-te-vi-m-l-thuyet-lua-chon

Chia sẻ:

Facebook

Twitter

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

Khái Niệm Từ Vựng Học

1. Nói cho đơn giản thì từ vựng học (lexicology) là một bộ môn ngôn ngữ học nghiên cứu từ vựng của ngôn ngữ.

Vậy, đối tượng nghiên cứu của từ vựng học là từ vựng.

Từ vựng được hiểu là tập hợp tất cả các từ và đơn vị tương đương với từ trong ngôn ngữ.

Đơn vị tương đương với từ là những cụm từ cố định, cái mà người ta vẫn hay gọi là các thành ngữ, quán ngữ. Ví dụ: ngã vào võng đào, múa tay trong bị, con gái rượu, tóc rễ tre, của đáng tội,… trong tiếng Việt; hoặc wolf in sheep’s clothing (sói đội lốt cừu), like a bat out of hell (ba chân bốn cẳng)… trong tiếng Anh.

2. Nhiệm vụ và mục đích cơ bản của từ vựng học là phải giải đáp được những vấn đề chính như:

Từ là gì? Nó được tạo nên bằng cái gì và như thế nào?

Nghĩa của từ là gì? Muốn phân tích cho ra được cái nghĩa đó thì phải làm như thế nào?

Thực chất các kiểu tập hợp từ vựng như: đồng âm, đồng nghĩa, trái nghĩa, các trường từ vựng,… là gì và nghiên cứu nó như thế nào?

Phân chia các lớp từ vựng bằng cách nào? Và những con đường phát trỉển của từ vựng ra sao?…

Trong thực tế, nghiên cứu từ vựng có thể xuất phát từ những bình diện khác nhau và dùng những phương pháp khác nhau. Nếu khảo sát những vấn đề chung cho mọi (hoặc nhiều) từ vựng của nhiều ngôn ngữ, là ta nhìn ở bình diện của từ vựng học đại cương. Ngược lại, nếu chỉ quan tâm đến những vấn đề của một từ vựng trong một ngôn ngữ nào đó, là ta đứng trên bình diện nghiên cứu cụ thể. Ví dụ: từ vựng học tiếng Việt, từ vựng học tiếng Hán, từ vựng học tiếng Anh,…

Khi nghiên cứu một từ vựng đương đại (hiện đại) nào đó, người ta phân tích, miêu tả theo cách nhìn đồng đại, và thường gọi tên như: Từ vựng học (tiếng Việt/tiếng Nga/…) hiện đại.

Ngược lại, nghiên cứu từ vựng với cách nhìn lịch đại sẽ xây dựng nên bộ môn từ vựng học lịch sử, khảo sát sự diễn biến của từ vựng trong quá trình phát triển-lịch sử của nó. Ở đây, phương pháp so sánh lịch sử, và các nhân tố ngoài ngôn ngữ, sẽ rất được chú ý khai thác, sử dụng.

4. Có những bộ môn hình thành trên cơ sở nghiên cứu những mặt, những bộ phận khác nhau của từ vựng. Nếu không đòi hỏi thật nghiêm ngặt về cách hiểu thì có thể xem như chúng được tách ra từ từ vựng học vậy.

4.a. Trước hết là từ nguyên học. Bộ môn này có mục đích tìm hiểu, giải thích và xác định những hình thức, những ý nghĩa có tính chất cội nguồn của từ. Nó tiếp cận đối tượng nghiên cứu bằng cách nhìn lịch đại là chủ yếu; và nhiều khi còn phải vận dụng cả cứ liệu của những ngành khoa học lân cận như: sử học, dân tộc học, văn hoá và chính trị,…

Một ví dụ: Miền Trung Việt Nam có con sông gọi là “sông Mã”. Trong dân gian, người ta giải thích rằng gọi nó là “sông Mã” vì nó chảy xiết, nhanh và mạnh như ngựa phi, và sông Mã nghĩa là “sông Ngựa”.

Cách giải thích cảm tính, chủ quan, không chứng cứ như vậy, gọi là từ nguyên học dân gian.

Từ nguyên học khoa học phải tìm những chứng cứ khoa học để giải thích. Thật ra, “sông Mã” là lối nói “trại” đi của cái tên đích thực: sông Mạ, được ghi bằng một chứ Hán, đọc là “mã” (ngựa).

MẠ trong tiếng Việt xưa (nay còn lưu lại trong phương ngữ miền Trung) vốn có nghĩa là MẸ. Những con sông lớn ở vùng Đông Nam Á thường được gọi bằng cái tên có nghĩa MẸ (với ngụ ý là lớn, lớn nhất) như vậy. Chẳng hạn:

Tiếng Việt có sông CÁI, rào CÁI = sông mẹ

Tiếng Thái Lan có Menam = sông mẹ

Tiếng Môn cổ có Meklong = sông mẹ

(Mô hình tên gọi này còn thể hiện qua cách đặt tên một số sự vật “lớn” khác trong tiếng Việt: ngón tay CÁI, cột CÁI, máy CÁI, ngón chân CÁI, đũa CÁI,…).

Vậy tên gọi “sông Mã” không ngoài quy luật đặt địa danh nêu trên trong toàn vùng, và cần thiết hiểu “sông MÔ = “sông MẠ” = “sông CÁI” (nghĩa là “sông mẹ, sông lớn”) chứ không phải là “sông Ngựa”.

Nghiên cứu từ nguyên là công việc đầy khó nhọc, nhưng hết sức thú vị.

4.b. Bộ môn danh học nghiên cứu các quy luật đặt tên: tên người, tên sông, tên núi non, tên vùng đất,… Vì vậy, ở đây có hai phần: nhân danh học và địa danh học.

Ví dụ 1: Nhân danh học có thẻ nghiên cứu các quy luật đặt tên riêng của người Việt, Hán, Khmer, Mường,… và phải gắng tìm câu trả lời cho những câu hỏi đại loại như:

– Tên gọi riêng của từng người trong các dân tộc đó có những yếu tố gì, dùng để biểu thị cái gì?

– Giới tính có được biểu thị trên tên gọi không?

– Tên họ của vợ và chồng có ảnh hưởng gì sau khi lấy nhau không? Các yếu tố tâm lí, thẩm mĩ, kiêng kị,… có ảnh hưởng đến việc đặt tên không, và nếu có thì gây tác động theo xu hướng nào?…

Nhìn lướt qua tên riêng của người Việt trong gần một thế kỉ nay, ta có thể thấy:

Tên nữ giới, trước đây bắt buộc phải là:

Họ + Thị (thể hiện giới tính) + Tên riêng (lúc chưa lấy chồng)

Họ chồng + Thị + Tên chồng (từ khi lấy chồng)

Tên nam giới thường là:

Họ + tên đệm (tuỳ thích, không nhất thiết phải có) + tên riêng

Hiện nay, tên gọi của nữ giới không bắt buộc phải dùng yếu tố THỊ. Ví dụ: Trần Phượng Li, Ngô Việt Hà,… Phụ nữ ngày nay lấy chồng vẫn dùng họ tên mình, không phải gọi theo chồng nữa.

Mặt khác, rất nhiều tên kép đã xuất hiện, dùng cho cả nam lẫn nữ: Kiều Oanh, Hoàng Lan, Tuấn Anh, Diễm Mi,… và thậm chí có cả những tên riêng ít nhiều đặc biệt như: Thanh Thanh, Nôen, Diễm Diễm, Li Li,…

Tên riêng người Việt đang có những biến động rất đa dạng tuỳ theo giới tính, trình độ giáo dục, nghề nghiệp, môi trường sống và sở thích cá nhân. Xu hướng chung là đẹp hoá tên riêng và đa dạng hoá tên riêng. Tuy nhiên, dù thế nào đi nữa thì người Việt cũng không dùng tên riêng của bố, mẹ, ông, bà, cụ, kị, tên của những người khả kính trong quan hệ với mình để đặt tên cho con cái. Trong quan niệm của học, đó là điều kiêng kị đến mức có thể được xếp vào phạm vi của đạo đức ứng xử.

Ví dụ 2: Nghiên cứu quy luật đặt tên sông ở Đông Nam Á, người ta thấy nét nổi bật là chúng thường mang yếu tố chỉ khái niệm NƯỚC hoặc SÔNG. Vùng ngôn ngữ Tày, Thái dùng yếu tố “nặm/nậm”: Nậm Tà (sông Hồng), Nặm Tè (sông Đà), Nặm Má (sông Mã), Nặm Khoóng (sông Mê Kông) và các con sông khác như: Nặm Le, Nậm Na, Nậm Rốm,…

Ở Thái Lan có con sông Mê Nam (Mê: mẹ; Nam = nặm), vùng ngôn ngữ thuộc nhóm Mon-Khmer (tiếng Ba Na, Hrê, Xê Đăng,…) người ta dùng yếu tố “đak” (nước): sông Đak Rong, sông Đak Min, hồ Đaklak,…

4.c.1. Từ điển bách khoa. Đây là loại từ điển không nhằm xây dựng các từ trong ngôn ngữ nói chung, mà chủ yếu đưa ra và giải thích các khái niệm; trình bày từ lai lịch của nó đến các quan điểm khác nhau, cùng với những thay đổi của nó (nếu có) về mặt nội dung,…

Loại từ điển bách khoa cho tất cả các lĩnh vực được gọi là bách khoa toàn thư, còn loại cho từng lĩnh vực một thì được gọi là từ điển bách khao chuyên ngành. Ví dụ: Từ điển bách khoa nông nghiệp, Từ điển bách khoa y học,…

4.c.2. Từ điển ngôn ngữ. Đây là loại từ điển được xây dựng bằng những con đường “ngôn ngữ học”. Chúng được phân ra như sau:

Từ điển một ngôn ngữ: Được biên soạn cho một ngôn ngữ cụ thể nào đó ở từng mặt, từng lĩnh vực. Ví dụ: Từ điển giải thích, Từ điển đồng nghĩa, Từ điển chính tả, Từ điển từ nguyên, Từ điển tần số (chung hoặc cho từng lĩnh vực), Từ điển ngược (Inversal Dictionary),…

Từ điển nhiều ngôn ngữ: Được biên soạn trên cơ sở đối chiếu hai hay nhiều ngôn ngữ. Ở đây cũng có thể gồm từ điển đối chiếu phổ thông như: Từ điển Anh – Việt, Từ điển Nga – Việt, Từ điển Việt – Pháp,…; từ điển đối chiếu chuyên ngành như: Từ điển toán học Anh – Việt, Từ điển y học Nga – Việt, Từ điển hoá học Anh – Việt,…

5. Ở Việt Nam, nếu xét một cách nghiêm ngặt thì từ giữa thế kỉ 20 trở về trước, chúng ta chưa hề có bộ môn từ vựng học nói riêng và ngôn ngữ học nói chung.

Có chăng, chỉ có thể nói, do yêu cầu cụ thể, với những mục đích khác nhau, một số từ điển đã được làm ra ở nước ta nhờ một số người vốn không phải là chuyên nghiên cứu ngôn ngữ học (tiếng Việt và không phải tiếng Việt). Chẳng hạn:

– ” Dictionarium Annamiticum – Lasitanum en Latinum” của A. de Rhodes (Roma, 1651).

– ” Dictionarie Annamite – Français” của M. Genibrel (Tân Định, 1898).

– ” Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa” của Túc Tăng Pháp Tính (khoảng thế kỉ 16-17), bản dịch của Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1985).

– ” Đại nam quấc âm tự vị” của Paul Huình Tịnh Của (Sài Gòn, 1825).

Tuy vậy, qua vài thập kỉ gần đây, bộ môn từ vựng học ở nước tra đã đạt được những kết quả rất đáng trân trọng, đóng góp công sức đáng kể vào công việc nghiên cứu tiếng Việt nói chung.

Theo Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến. Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. Nxb Giáo dục, H., 1997, trang 130-135.

Một Số Khái Niệm Về Cơ Cấu Ngành Kinh Tế

Cơ cấu ngành kinh tế là tổng hợp các ngành kinh tế và mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành thể hiện ở vị trí và tỷ trọng của mỗi ngành trong tổng thể nền kinh tế. Cơ cấu ngành phản ánh phần nào trình độ phân công lao động xã hội chung của nền kinh tế và trình độ phát triển chung của lực lượng sản xuất. Thay đổi mạnh mẽ cơ cấu ngành là nét đặc trưng của các nước đang phát triển.

Khi phân tích cơ cấu ngành của một quốc gia, người ta thường phân tích theo 3 nhóm ngành chính:

Ngành nông nghiệp, trong nông nghiệp bao gồm 3 ngành nhỏ là nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp.

Ngành công nghiệp , bao gồm ngành công nghiệp và xây dựng.

Ngành dịch vụ bao gồm ngành thương mại , bưu điện và du lịch,…

Nhìn vào thực trạng cơ cấu ngành kinh tế nước ta hôm nay nước ta có thể nhận xét:Nước ta hôm nay về cơ bản đang là một nước nông nghiệp. Xu hướng có tính quy luật chung của sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và chuyển dịch theo hướng CNH-HĐH, nghĩa là tỷ trọng và vai trò của ngành công nghiệp và dịch vụ có xu hướng tăng nhanh còn tỷ trọng của ngành nông nghiệp có xu hướng giảm dần. Kinh nghiệm thế giới cho thấy muốn chuyển từ một nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp đều phải trải qua các bước: chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp (tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm 40-60%,công nghiệp từ 10-20%,dịch vụ từ 10-30%) sang nền kinh tế công nông nghiệp( tỷ trọng ngành nông nghiệp từ 15-25%, công nghiệp 25-35%, dịch vụ 40-50%), để từ đó chuyển sang nền kinh tế công nghiệp phát triển (tỷ trọng ngành nông nghiệp dưới 10%, công nghiệp 35-40%, dịch vụ 50-60%)

Nhưng theo tính chất mối quan hệ kinh tế với nước ngoài thì cơ cấu ngành còn được dựa theo cơ cấu ngành đóng , cơ cấu ngành hướng ngoại,cơ cấu mở hỗn hợp. Cơ cấu ngành đóng hay còn gọi là cơ cấu hướng nội, được tổ chức dựa trên cơ cấu tiêu dùng của dân cư. Nhược điểm của cơ cấu này là nền kinh tế không có tính cạnh tranh quốc tế, không tranh thủ được sự giúp đỡ của quốc tế.

Cơ cấu hướng ngoại là hướng tổ chức ngành kinh tế trong nước theo những dấu hiệu quốc tế về giá cả, câú thị trường quốc tế, nghĩa là cá nhân người sản xuất và người tiêu dung đều hướng ra thị trường quốc tế. Nhược điểm của cơ cấu này là nền kinh tế phụ thuộc vào sự biến động của quốc tế, hạ thấp đồng tiền trong nước.

Cơ cấu mở hỗn hợp: Vừa chấp nhận giao lưu thương mại quốc tế vừa không phân biệt thị trường , nghĩa là coi trọng cả thị trường trong nước và thị trường quốc tế.

Xu hướng của việt nam hiện nay là thực hiện nền kinh tế mở hỗn hợp .

Khái niệm

Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là quá trình chuyển cơ cấu ngành kinh tế từ dạng này sang dạng khác phù hợp với sự phát triển của phân công lao động xá hội và phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, phát triển khoa học- công nghệ. Đây không phải đơn thuần là sự thay đổi vị trí, mà là sự thay đổi cả về lượng và chất trong nội bộ cơ cấu ngành. Việc chuyển dịch cơ cấu này phải dựa trên cơ sở một cơ cấu hiện có, do đó nội dung của chuyển dịch cơ cấu ngành là cải tạo cơ cấu cũ lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến hoàn thiện và phù hợp hơn

Các nhân tố ảnh hưởng đến xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế chịu sự tác động của nhiều nhân tố, do đó việc phân tích các nhân tố này sẽ cho phép tìm ra một cơ cấu ngành hợp lý. Cả 2 nhóm nhân tố chính ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cáu ngàng kinh tế:

Nhóm nhân tố địa lý tự nhiên

Vị trí địa lý, khí hậu, đất đai tài nguyên.

Các nhân tố này có ảnh hưởng lớn đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế . Bởi vì nguyên tắc của chuyển cơ cấu ngành kinh tế là phải tạo ra được cơ cấu kinh tế hợp lý trên cơ sở sử dụng đươc hiệu quả mọi lợi thế so sánh. Với mỗi đặc điểm khác nhau về vị trí địa lý, khí hậu, đất đai, tàI nguyên thì sẽ có một cách lựa trọn cơ cấu ngành kinh tế khác nhau.

Nhóm nhân tố kinh tế xã hội

Dân số và nguồn lao động : nhân tố này tác động không nhỏ tới quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Với đặc điểm dân số đông, nguồn lao động dồi dào, cho nên trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tranh thủ lợi thế nguồn lao động dồi dào, nguồn lao động rẻ để phát triển những ngành thu hút nhiều lao động, vốn đầu tư

Nhân tố truyền thống lịch sử: Việc phát huy những ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Điêù này không chỉ tạo ra những sản phẩm truyền thống xuất khẩu mà còn tạo điệu kiện các ngành dịch vụ du lịch

Nhân tố thị thường :Thị trường đặc biệt là cầu và cạnh tranh trên thị trường trong và ngoàI nước là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếpvà quyết định đầu tiên tới cơ cấu ngành kinh tế .Chính cầu mà cơ cấu và xu thế vận động của chúng ta đặt ra những mục tiêu cần vươn lên để thoả mãn , là cơ sở để đảm bảo tính thực thi và và hiệu quả của phương án chuyển dịch cơ ấu ngành kinh tế.

Nhân tố khoa học công nghệ

Tác động của khoa học công nghệ có ảnh hưởng nhiều mặt đến cơ cấu ngành của nền kinh tế .ở nước ta ,yếu tố này đã thúc đẩy sự ra đời và thúc đẩy một số ngành như dầu khí , điện tử…làm thay đổi quy mô tốc độ phát triển của cac ngành chế biến, dịch vụ.

Nhân tố chính trị

Sự ổn dịnh về chính trị cũng là cơ sở thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng CNH-HĐH. ở nước ta do có sự lãnh đạo của đảng ,do đường lối phát xã hội đúng đắn ,vì vậy sau 10 năm đổi mới nước ta đã thu được nhiều thành tựu to lớn trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế .

Nhân tố chính sách

Những định hướng chiến lược và vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc hình thành cơ cấu ngành .Nếu ta phó mặc cho sự tác động của thị trường thì sự hình thành cơ cấu ngành mong muốn sẽ rất chậm,nếu là những ngành không vì mục đích lí luận hoặc tỷ suất lợi nhuạn thấp .Ngược lại nếu nhà nước can htiệp quá sâu vào quá trình thực hiện sẽ dẫn tới việc hình thành cơ cấu ngành kém hiệu quả .

Bạn đang xem bài viết Khái Niệm Thần Kinh Học trên website 3mienmoloctrungvang.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!