Xem Nhiều 1/2023 #️ Không Để Lợi Ích Nhóm Trong Cổ Phẩn Hóa # Top 1 Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Xem Nhiều 1/2023 # Không Để Lợi Ích Nhóm Trong Cổ Phẩn Hóa # Top 1 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Không Để Lợi Ích Nhóm Trong Cổ Phẩn Hóa mới nhất trên website 3mienmoloctrungvang.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Không để lợi ích nhóm trong cổ phẩn hóa

Nghị quyết nêu rõ một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu trong thời gian tới, đối với các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước, doanh nghiệp nhà nước.

Trong đó mỗi Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước phải là một trung tâm đổi mới sáng tạo. Xây dựng hệ sinh thái doanh nghiệp, hình thành các chuỗi giá trị, tiên phong trong việc thực hiện cuộc cách mạng công nghệ 4.0; chủ động hơn nữa trong hội nhập, vươn ra thị trường quốc tế; lấy thị trường nội địa làm trọng tâm, làm bàn đạp để vươn mình hội nhập, kết nối với chuỗi giá trị của khu vực và toàn cầu.

Nhà nước phải nắm cổ phần lĩnh vực thiết yếu

Các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước, doanh nghiệp nhà nước cần góp phần tích cực trong cơ cấu lại nền kinh tế, giữ ổn định vĩ mô, đảm bảo an ninh cho nền kinh tế (an ninh năng lượng, an ninh lương thực, bảo vệ môi trường…). Đối với các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước thì Nhà nước phải nắm cổ phần chi phối.

Các lĩnh vực điện lực, lương thực, viễn thông, các doanh nghiệp quốc phòng, an ninh và một số doanh nghiệp phúc lợi phục vụ nhân dân thì Nhà nước phải nắm cổ phần. Doanh nghiệp nhà nước phải có chiến lược, dẫn dắt thúc đẩy phát triển một số lĩnh vực như công nghệ 5G, Chính phủ điện tử, thành phố thông minh… nhận thức rõ vai trò, vị thế của doanh nghiệp nhà nước trong vấn đề này để đổi mới, nâng cao hiệu quả và cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước.

Tiếp tục phát huy vai trò, đổi mới mô hình tổ chức và phương thức lãnh đạo của tổ chức Đảng, các tổ chức đoàn thể trong quá trình cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước quy định rõ trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu tổ chức đảng trong doanh nghiệp nhà nước khi để xảy ra thua lỗ, tổn thất trong hoạt động và vi phạm chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Khẩn trương chỉ đạo các đơn vị thuộc đối tượng sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thực hiện báo cáo kê khai, đề xuất phương án xử lý nhà, đất, trên cơ sở đó tổng hợp, lập phương án báo cáo cấp có thẩm quyền phê duyệt; rà soát, kiểm tra việc tổ chức thực hiện phương án sắp xếp lại, xử lý nhà, đất bảo đảm thực hiện đúng chế độ quy định, không để xảy ra thất thoát, lãng phí.

UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo các cơ quan chức năng phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp thuộc Trung ương quản lý trong việc kiểm tra hiện trạng nhà, đất; khẩn trương có ý kiến về phương án sắp xếp lại, xử lý nhà, đất của các doanh nghiệp thuộc Trung ương quản lý trên địa bàn để bảo đảm tiến độ phê duyệt phương án xử lý.

Cơ quan đại diện chủ sở hữu chỉ đạo người đại diện phần vốn nhà nước đôn đốc các doanh nghiệp đã cổ phần hóa thực hiện nghiêm việc đăng ký giao dịch, niêm yết trên thị trường chứng khoán; bàn giao các doanh nghiệp thuộc diện phải bàn giao về Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước theo đúng quy định của pháp luật;…

Các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước, doanh nghiệp nhà nước vừa đảm bảo yêu cầu chống dịch COVID-19, vừa đảm bảo tối đa hoạt động sản xuất kinh doanh; rà soát, điều chỉnh lại các chỉ tiêu sản xuất, kinh doanh năm 2020 cho phù hợp với tình hình mới; trong đó, xây dựng các giải pháp ứng phó rủi ro, hạn chế thấp nhất các tác động tiêu cực của dịch bệnh COVID-19, đề xuất, kiến nghị cụ thể giải pháp khôi phục sản xuất, kinh doanh sau khi dịch kết thúc.

Quan tâm đối với người lao động, sắp xếp, bố trí lao động hợp lý, bảo đảm công ăn việc làm, thu nhập ổn định, chăm lo đời sống cho người lao động. Trường hợp bất khả kháng phải cắt giảm tạm thời số lượng lao động, cần có chế độ, chính sách hỗ trợ, trợ cấp phù hợp.

Không để lợi ích nhóm trong cổ phẩn hóa

Các địa phương phát huy thế mạnh của các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị lớn là đầu tầu cho phát triển kinh tế – xã hội. Xây dựng và thực hiện các chính sách, giải pháp phát triển bền vững, đồng bộ. Thúc đẩy liên kết nội vùng, liên vùng và quốc tế, tạo cơ sở phát triển mô hình tổ chức lãnh thổ, tổ chức sản xuất kinh doanh mới; hình thành các cụm ngành, chuỗi giá trị sản xuất và cung ứng liên thông.

Các Bộ, ngành, địa phương căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao chủ động nghiên cứu, triển khai thực hiện nhất quán và triệt để cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tập trung giải quyết các điểm bất cập làm cản trở doanh nghiệp phát triển; phục hồi chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị bị đứt gãy; xây dựng, phát triển chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị mới;..

Nâng cao vai trò, nhận thức, trách nhiệm của người đứng đầu doanh nghiệp trong công tác cổ phần hóa, thoái vốn, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước gắn kết quả việc thực hiện sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước với việc đánh giá trách nhiệm của người đứng đầu; đảm bảo công khai, minh bạch, đúng quy định pháp luật, tuân thủ nguyên tắc thị trường, không để xảy ra hiện tượng lợi ích nhóm trong việc triển khai cổ phẩn hóa, thoái vốn, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước.

Tuệ Linh

Nhóm Lợi Ích Chờ Gì Ở Cổ Phần Hóa?

Hàng trăm doanh nghiệp nhà nước nằm trong kế hoạch cổ phần hóa trong năm nay.

Các lĩnh vực này có thể bao gồm khai thác tài nguyên, khoáng sản, hầm mỏ cho tới những cơ sở doanh nghiệp nhà nước được đầu tư, có lợi thế về cơ sở hạ tầng và mạng lưới hạ tầng lớn, theo Tiến sỹ Nguyễn Đức Thành, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VERP), Đại học Quốc gia Hà Nội.

Trao đổi với BBC hôm 04/4/2014, nhà nghiên cứu cho rằng Việt Nam nên thận trọng, không nên vội vàng tiến hành cổ phần hóa những doanh nghiệp và lĩnh vực kinh tế này.

Ông Thành nói:

“Đây là hai loại hình doanh nghiệp mà tôi nghĩ không cần vội vã trong quá trình cổ phần hóa và nếu có cổ phần hóa, cần phải có một lộ trình đặc biệt, với những nguyên tắc minh bạch, rõ ràng và sự tham chiếu đặc biệt.”

Theo Tiến sỹ Thành cổ phần hóa có một mục tiêu là làm thu hẹp quy mô được cho là nặng nề, kém hiệu quả của khu vực nhà nước, mở rộng không gian kinh doanh cho các khu vực kinh tế khác, trong đó có kinh tế tư nhân phát triển và đóng góp.

Tuy nhiên, theo chuyên gia về chính sách kinh tế này, để quá trình cổ phần hóa diễn ra tốt, nhà nước phải đảm bảo toàn bộ quá trình được minh bạch.

Ông Thành nói: “Cần một quá trình minh bạch càng nhiều càng tốt, càng rõ càng tốt, để cho các tài sản được chuyển đổi một cách rõ ràng, theo giá của thị trường.”

Chuyên gia cảnh báo cổ phần hóa không thích hợp như quá ‘ồ ạt’ có thể dẫn đến giá trị tài sản của nhà nước bị hạ thấp. Ông Thành lưu ý:

“Ồ ạt cùng một lúc có thể có hậu quả là giá của tài sản bị thấp, vì nguồn cung ra lớn, cái này cũng là trường hợp của các nước Đông Âu, hoặc là Đông Đức cũ trước đây,

“Cái này chúng ta (Việt Nam) phải thận trọng, tuần tự trong tiến trình đưa ra cổ phần hóa và đồng thời đi theo sức mua của thị trường tài sản.”

‘Ngăn chặn đi đêm’

Hôm thứ Sáu, Tiến sỹ Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu, phản biển độc lập IDS (đã tự giải thể) cũng nhất trí về việc cần minh bạch hóa toàn bộ quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam.

Ông nói: “Minh bạch có nghĩa là các quy định phải được công bố một cách rất công khai, bởi vì đây thực sự là bán một phần tải sản của toàn dân, cho nên toàn dân phải có quyền được biết,

“Có nghĩa là cổ phần hóa công ty nào, thông tin về công ty đó, thông tin về những người mua và mua với giá bao nhiêu phải được công bố rộng rãi và quan trọng nhất là phải có một cơ chế giám sát để làm sao ngăn chặn được sự đi đêm của họ với nhau.”

Theo Tiến sỹ Quang A, các nhóm lợi ích, đặc quyền, đặc lợi có thể đang để mắt tới một số lĩnh vực trong đợt cổ phần hóa hiện nay là viễn thông, xây dựng cơ bản, hay năng lượng.

Ở một khía cạnh khác, hôm 04/4, Tiến sỹ Nguyễn Đức Thành nói với BBC ông cho rằng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước cần có một số nguyên tắc ưu tiên.

Ông nói: “Cần ưu tiên cổ phần hóa những doanh nghiệp có khả năng chia nhỏ được tương đối dễ dàng, và tính chất sản phẩm của nó gần với sản phẩm của đời sống dân sinh để nhiều bên có thể tham gia vào nhất, với những chuyên môn không quá đặc thù,

“Tôi cho rằng đây là nhóm dễ kiểm soát hơn, dễ mở cửa, minh bạch hơn, dễ được mọi người tham gia hơn, vì mỗi người có thể tham gia một phần, chứ không phải là tham gia hết, như thế sẽ hạn chế rất nhiều (với) người mua, đó là cách tôi nghĩ để hạn chế tài sản của nhà nước bị thôn tính hoặc bị thao túng bởi một nhóm nhỏ.”

Hôm thứ Sáu, Tiến sỹ Nguyễn Quang A còn nói với BBC, để bảo vệ tài sản nhà nước và minh bạch hóa việc cổ phần hóa này, các quan chức của nhà nước trong các lĩnh vực chức năng liên đới cần công khai ‘lợi ích của mình’ và tốt nhất là không được tham gia lợi ích vào mọi khâu đoạn, tiến trình của quá trình cổ phần hóa, dưới bất cứ hình thức, danh nghĩa nào.

Được biết, trong riêng giai đoạn 2011 – 2013, Việt Nam đã “tái sắp xếp” được 180 doanh nghiệp, trong đó cổ phần hóa 99 doanh nghiệp, mới đây, Thủ tướng Việt Nam ông Nguyễn Tấn Dũng đặt mục tiêu cổ phần hóa 432 doanh nghiệp đến năm 2015.

Nguồn: BBC

‘Cổ Phần Hóa Còn Thiếu Minh Bạch, Có Dấu Hiệu Lợi Ích Nhóm’

Một góc Cảng Quy Nhơn – Ảnh: chúng tôi

Đề cập đến vấn đề cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, ĐB Nguyễn Trường Giang (Đắk Nông) đánh giá, đây là một trong những nội dung của tái cơ cấu nền kinh tế gắn với mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Chủ trương này đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong những năm qua.

Tuy nhiên theo ĐBQH, cổ phần hóa còn chậm, chưa hoàn thành kế hoạch cổ phần hóa thoái vốn theo đúng kế hoạch, còn giữ cổ phần chi phối ở nhiều ngành, lĩnh vực nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn, hoặc giữ cổ phần chi phối đặc biệt là Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước.

Qua theo dõi, ông Giang cho biết, số lượng các doanh nghiệp cổ phần hóa chậm dần đều qua các năm, không đạt kế hoạch đề ra. Như năm 2018 cả nước phải cổ phần hóa 64 doanh nghiệp, nhưng trên thực tế chỉ đạt 17% với 12 doanh nghiệp hoàn thành.

Bên cạnh nguyên nhân khách quan, theo ông Giang, nguyên nhân chủ quan phải kể đến là kỷ cương, kỷ luật trong việc thực thi chính sách pháp luật chưa nghiêm; nhiều cấp, nhiều ngành chưa tích cực chủ động triển khai nhiệm vụ; còn tình trạng lợi ích nhóm, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong cơ cấu lại cổ phần hóa doanh nghiệp, thoái vốn, gây bức xúc trong dư luận; kỷ luật chấp hành chỉ đạo của cấp trên, của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chưa được thực hiện nghiêm, việc xác định xử lý trách nhiệm đối với cá nhân để xảy ra sai phạm chưa kịp thời.

Trong chuyển nhượng vốn nhà nước tại Công ty cổ phần cảng Quy Nhơn, Bộ Giao thông vận tải đã ban hành hai văn bản trái phép cho phép Công ty Hợp Thành sở hữu 75,01% cổ phần cảng Quy Nhơn theo phương thức thỏa thuận trực tiếp. Từ những sai phạm trên, Thanh tra Chính phủ đã yêu cầu bộ hủy bỏ hai văn bản kiến nghị và thu hồi 75% cổ phần cảng Quy Nhơn đã bán cho công ty Hợp Thành.

Ví dụ thứ hai được chỉ ra là quá trình cổ phần hóa Công ty rượu, bia, nước giải khát Sài Gòn. Ở đây, trong quá trình xác định giá trị doanh nghiệp, các khoản nợ của doanh nghiệp đối với nhà nước thì ý kiến của các cơ quan nhà nước rất khác nhau. Do đó, sau quá trình cổ phần hóa thoái vốn nhà nước rất khó khăn trong việc thu hồi các khoản nợ đối với ngân sách nhà nước.

Thứ ba là, cổ phần hóa Công ty cổ phần xuất nhập khẩu và xây dựng Việt Nam. Có thể thấy, việc cổ phần hóa đối với công ty rất thành công. Tuy nhiên, sau khi cổ phần hóa, do sự tranh chấp của các nhóm cổ đông và các nhóm cổ đông không có quyền yêu cầu Tòa án thụ lý quyết định giải quyết vụ việc tranh chấp thương mại nhưng đã có yêu cầu và tòa án đã thụ lý ra quyết định giải quyết vụ việc này, đồng thời với đó là ban hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Sau đó, cũng chính tòa xác định là các cổ đông không có thẩm quyền yêu cầu và cũng đã hủy quyết định thụ lý và sau đó hủy áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tôi cho rằng như vậy ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Có thể thấy, với cách làm trên đã ảnh hưởng đến lòng tin của nhà đầu tư khi tham gia vào cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, tạo sự cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động kinh doanh thương mại, góp phần làm chậm quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thoái vốn nhà nước”, ông Giang cho hay.

Về giải pháp trong thời gian tới, ông đề nghị Chính phủ tiếp tục chỉ đạo đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa, thoái hóa vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo kế hoạch đã đề ra. Thực hiện công khai, minh bạch, khẩn trương xác định giá trị doanh nghiệp, có lộ trình thời gian cụ thể để cổ phần hóa, thoái vốn. Đồng thời có hình thức xử lý kỷ luật nghiêm minh đối với các tổ chức, cá nhân cố tình trì hoãn, không thực hiện cổ phần hóa cũng như các cơ quan tổ chức, cá nhân lợi dụng chức vụ, quyền hạn can thiệp trái pháp luật vào quá trình cổ phần hóa, thoái vốn tại doanh nghiệp.

Cùng mối quan tâm, ĐB Lê Minh Chuẩn (Quảng Ninh) phản ánh tình trạng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước hiện nay gặp rất nhiều vướng mắc. Theo đại biểu đang là Chủ tịch Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam, việc triển khai cổ phần hóa với doanh nghiệp lớn, khi xác định giá trị doanh nghiệp, đất đai nằm ở rất nhiều các địa phương. Bên cạnh đó, chủ trương này cũng gặp nhiều vướng mắc trong trình tự phê duyệt phương án sử dụng đất trong cổ phần hóa với 3 nghị định, gây rất mất nhiều thời gian…

Luân Dũng

Sân Bay Long Thành: Không Để Nhóm Lợi Ích, Nhóm “Sân Sau” Chi Phối!

Tránh “trùm màn, đắp chiếu”

Theo đại biểu Trương Trọng Nghĩa (đoàn TP.HCM), đây là công trình thế kỷ có ý nghĩa rất quan trọng về an ninh, quốc phòng và phát triển kinh tế – xã hội.

“Dự án sẽ giúp Việt Nam thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, nhưng nếu làm không tốt nó sẽ đè nặng lên đôi cánh phát triển của đất nước như một số dự án “trùm màn, đắp chiếu” đang tồn tại.” – ông Nghĩa nói và cho biết phải đảm bảo Dự án là một “phần thưởng” quý báu chứ không thể là một dự án “bỏ thì thương, vương thì tội”.

Đại biểu Trương Trọng Nghĩa (đoàn TPHCM)

Đại biểu đoàn TPHCM đề nghị phải đề cao trách nhiệm và sự thận trọng trong việc đầu tư Dự án này. Ông Nghĩa tán thành chủ trương giao dự án cho các nhà đầu tư trong nước nhưng cho rằng phải có chính sách quản lý chặt chẽ việc huy động và quản lý nguồn vốn, nhất thiết đảm bảo các nguyên tắc khi thực hiện đầu tư dự án.

“Pháp luật phải nghiêm minh, không để Dự án bị các nhóm lợi ích, nhóm “sân sau” chi phối.” – ông Trương Trọng Nghĩa nhấn mạnh và cho rằng Dự án cần thực hiện nhanh nhưng phải cạnh tranh lành mạnh, không loại trừ khả năng phải thuê, phải mua của nước ngoài về công nghệ, lực lượng thi công và giám sát Dự án.

Bên cạnh đó, đại biểu đoàn TPHCM đề nghị phải đảm bảo Dự án chất lượng cao, hiệu quả và trình độ công nghệ đón đầu thế giới, vì đây là sân bay trung chuyển nên phải cạnh tranh rất mạnh với các sân bay trong khu vực, nếu không cạnh tranh được thì lỗ nặng.

Ông Trương Trọng Nghĩa cũng nhấn mạnh quan điểm phải nghiên cứu kỹ ý kiến chuyên gia trong nước và nước ngoài “không phải là các chuyên gia được hưởng lợi từ dự án”. Cùng đó, làm rõ thẩm quyền của Chính phủ và Quốc hội, lấy ý kiến rộng rãi hơn trong nhân dân để đưa ra biểu quyết vào đầu năm 2020.

Đắt có xắt ra miếng?

Dự án có tổng mức đầu tư là 16 tỷ USD (cả 3 giai đoạn, giai đoạn 1 là hơn 4,7 tỷ USD), với 2 đường băng, công suất thiết kế là 100 triệu hành khách và 5 triệu tấn hàng hóa/năm. Nhiều đại biểu bày tỏ băn khoăn đó là mức đầu tư quá lớn và đưa ra so sánh với một số sân bay trong khu vực có công suất thiết kế tương đương nhưng giá rẻ hơn.

Đại biểu Nguyễn Lâm Thành (đoàn Lạng Sơn) cho biết, 2 công trình sân bay hiện đại vận hành 2019 là Đại Hưng (Bắc Kinh – Trung Quốc) với diện tích 4.700 ha, 7 đường băng, 100 triệu hành khách và 4 triệu tấn hàng hóa, nhưng vốn đầu tư là 11,5 tỷ. Sân bay Istanbul – Thổ Nhĩ Kỳ có 4 đường băng, 90 triệu khách, vốn đầu tư 12 tỷ USD.

Các đại biểu trao đổi về dự án sân bay Long Thành bên hành lang Quốc hội, sáng 12/11

Trong khi đó, đại biểu Nguyễn Thanh Hồng (đoàn Bạc Liêu) cho rằng: Nếu giao Dự án cho một doanh nghiệp trong nước thì sẽ có một tương lai, có một ngành công nghiệp hàng không đột phá trong giai đoạn sắp tới. “Tôi đã từng chất vấn Thủ tướng Chính phủ rằng điểm nghẽn của chúng ta hiện nay là pháp luật và tôi đề nghị cần có 1 Nghị quyết về vấn đề này.” – ông Hồng nói.

Đại biểu đoàn Bạc Liêu cũng đề cập tới vốn đầu tư của Dự án và đặt câu hỏi: Các cụ nói đắt xắt ra miếng, chúng ta đã tính toán rất kỹ nhưng liệu có đảm bảo khả năng các con số “đóng đinh” trên giấy tờ như hiện nay không?

“Nếu sử dụng vốn đầu tư không có bảo lãnh của Chính phủ thì không tác động đến nợ công. Quan điểm của tôi khác, nếu cần thiết phải dùng nợ công, phải tăng nợ công. Theo báo cáo của Chính phủ và Nghị quyết của Quốc hội, nợ công của chúng ta ngày càng giảm đến mức an toàn, vậy tại sao chúng ta không được phép tăng nợ công trong trường hợp này để đầu tư cho Long Thành…” – đại biểu Hồng nêu rõ.

Bộ trưởng GTVT cam kết gì?

Giải trình trước Quốc hội về Dự án đầu tư xây dựng Cảng Hàng không quốc tế Long Thành, Bộ trưởng GTVT Nguyễn Văn Thể khẳng định: “Không có một sân bay nào hiệu quả tốt như sân bay Long Thành, nhất là giai đoạn 1, giai đoạn 2. Khi sân bay vừa hoàn thành, lượng khách thông qua có thể đạt ngay 20 – 25 triệu khách/năm, đến năm 2030 là 85 triệu khách/năm. Tổng công suất của Tân Sơn Nhất và Long Thành giai đoạn 2 có thể lên tới 100 triệu khách/năm.

Theo ông Thể, những sân bay khác như Cần Thơ xây dựng và khai thác 10 năm mới có 1 triệu khách/năm, lượng khách qua sân bay Vân Đồn (tỉnh Quảng Ninh) trong năm đầu khai thác cũng rất thấp.

Bộ trưởng GTVT Nguyễn Văn Thể giải trình giải trình trước Quốc hội sáng 12/11

Người đứng đầu ngành GTVT cho biết, trong hơn 1 năm qua, liên danh tư vấn Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp và Việt Nam đã tập trung cao độ để hoàn thành dự án. Tư vấn đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án rất cao. Hiện Hội đồng nghiệm thu nhà nước đã thuê tư vấn nước ngoài thẩm tra độc lập về dự án.

“Chúng tôi cố gắng rà soát làm sao đảm bảo tổng mức đầu tư sát với tình hình thực tế, không có lãng phí và trượt giá như những dự án khác.” – Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể cam kết trước Quốc hội.

Về năng lực của Tổng công ty Cảng Hàng không Việt Nam (ACV), theo ông Thể doanh nghiệp này đang có khoảng 25.000 tỷ đồng “nhàn rỗi”. Trong giai đoạn từ 2019-2025, ACV dự kiến tiếp tục tích lũy 12.339 tỷ đồng từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.

Châu Như Quỳnh

Bạn đang xem bài viết Không Để Lợi Ích Nhóm Trong Cổ Phẩn Hóa trên website 3mienmoloctrungvang.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!