Xem Nhiều 1/2023 #️ Lý Thuyết Chức Năng – Bách Khoa Toàn Thư Việt Nam # Top 6 Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Xem Nhiều 1/2023 # Lý Thuyết Chức Năng – Bách Khoa Toàn Thư Việt Nam # Top 6 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Lý Thuyết Chức Năng – Bách Khoa Toàn Thư Việt Nam mới nhất trên website 3mienmoloctrungvang.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Lý thuyết chức năng là một trường phái lý thuyết do các nhà nhân học xã hội Anh phát triển, gọi là chức năng luận (functionalism) và kiến tạo phương pháp dân tộc học độc đáo dựa vào quan sát tham gia. Chức năng luận bao hàm hai trường phái lý luận có những luận điểm có phần khác nhau, đó là “chức năng luận” (functionalism) gắn với các ý tưởng của Bronislaw Malinowski (1884-1942) và “chức năng luận-cấu trúc” (structural-functionalism) gắn với các ý tưởng của Alfred Reginald Radcliffe-Brown (1881-1955).

Chức năng luận

[

sửa

]

Bronislaw Malinowski sinh năm 1858 ở Cracow, Ba Lan, tốt nghiệp đại học với bằng danh dự các ngành toán, vật lý và triết học ở Cracow vào năm 1908 và sau đó học Nhân học tại Trường Kinh tế London (London School of Economics). Năm 1914, Malinowski đi nghiên cứu điền dã ở quần đảo Trobriand thuộc New Guinea, và một cách tình cờ, ông buộc phải dừng lại ở đó vì Chiến tranh Thế giới lần thứ I bùng nổ. Từ 1914 đến 1918, được chính phủ Australia cho phép và cấp kinh phí, Malinowski đã ba lần từ Australia đi New Guinea điền dã 30 tháng ở quần đảo này. Sau Chiến tranh Thế giới lần thứ I, ông dạy học ở một số trường đại học, rồi trở về Trường Nghiên cứu Kinh tế London giảng dạy từ 1922 đến 1938. Những năm giảng dạy ở Trường Nghiên cứu Kinh tế London là khoảng thời gian Malinowski có ảnh hưởng mạnh nhất đến ngành Nhân học xã hội ở Anh quốc. Năm 1938, khi Chiến tranh Thế giới lần thứ II chuẩn bị nổ ra, Malinowski đang ở Mỹ và ông quyết định ở lại Mỹ, sau đó mất vào năm 1942 khi ông mới nhận làm việc tại Đại học Yale. Ngoài nghiên cứu điền dã dân tộc học ở New Guinea, Malinowski còn điền dã dân tộc học ở châu Phi và Mexico.

Với thành công và đóng góp đặc biệt của ông trong nghiên cứu điền dã dân tộc học, xây dựng lý thuyết, và đào tạo, Malinowski trở thành một trong những người sáng lập Nhân học xã hội, và là người có ảnh hưởng lớn đến lịch sử Nhân học thế giới. Những đóng góp quan trọng nhất của Malinowski nằm ở hai vấn đề có mối quan hệ mật thiết với nhau trong nghiên cứu nhân học từ thời Malinowski, đó là phương pháp điền dã dân tộc học và lý thuyết chức năng. Malinowski phản đối mạnh mẽ các nhà tiến hóa luận nghiên cứu nhân học kiểu ghế bành của thế kỷ XIX, và ông đã kiến tạo truyền thống nghiên cứu nhân học dựa vào điền dã dân tộc học trong một thời gian dài gắn với phương pháp quan sát tham gia và sử dụng ngôn ngữ của đối tượng nghiên cứu. Dù đã xuất hiện từ trước, Malinowski được công nhận là cha đẻ của phương pháp quan sát tham gia, một phương pháp nghiên cứu dân tộc học độc đáo giúp nhà nhân học quan sát từ bên trong một cách chủ quan và phân tích từ bên ngoài một cách khách quan. Đến nay, quan sát tham gia được coi là phương pháp định danh điền dã dân tộc học và cách điền dã dân tộc học của Malinowski vẫn là chuẩn mực cho sinh viên ngành Nhân học và những ai muốn thực hành điền dã dân tộc học.

Quan điểm lý luận của Malinowski được gọi là chức năng luận. Về nguồn gốc, cả chức năng luận của Malinowski và chức năng luận-cấu trúc của Radfliffe-Brown ở Anh quốc đều có ảnh hưởng từ “phép loại suy hữu cơ” của nhà lý thuyết xã hội người Pháp thế kỷ XIX là Emile Durkheim (1858-1917). Phép loại suy cho rằng, xã hội tồn tại như một cơ thể con người, có cấu trúc xã hội, chức năng xã hội, và nghiên cứu khoa học xã hội cần gắn với tiến hóa xã hội. Tuy nhiên, các nhà nhân học xã hội Anh đương thời không quan tâm đến khía cạnh tiến hóa xã hội mà chỉ tập trung vào cấu trúc xã hội và chức năng của các thiết chế xã hội.

Theo đó, chức năng luận nhấn mạnh đến cá thể, xã hội và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng. Chức năng luận quan tâm đến cá thể, nhu cầu của cá thể và nhấn mạnh đến chức năng của các thiết chế xã hội trong việc thỏa mãn nhu cầu của cá thể chứ không phải vì tổng thể xã hội hay nhóm. Chức năng luận cho rằng xã hội có các thiết chế xã hội có chức năng phục vụ cho mục đích cơ bản của cá thể con người. Malinowski cho rằng cá thể con người có bảy nhóm nhu cầu, cả về sinh học lẫn tâm lý, và các nhu cầu này được thỏa mãn thông qua các đáp ứng mang tính văn hóa.

Quan điểm lý thuyết chức năng của Malinowski được thể hiện rõ trong các nghiên cứu của ông, trong đó một ví dụ hay và được nhiều người đọc là Argonauts of the Western Pacific, xuất bản năm 1922. Một điểm quan trọng trong cuốn sách này là Malinowski đã phát hiện ra vòng kula ở quần đảo Trobriand. Malinowski tìm hiểu vòng kula và các quy định trao đổi kula, đó là sự trao đổi vòng cổ theo chiều kim đồng hồ và sự trao đổi vòng cổ tay theo vòng ngược kim đồng hồ giữa các nhóm cư dân ở các đảo khác nhau. Dù sự trao đổi vòng cổ và vòng cổ tay này mang tính nghi lễ, nhưng vòng kula lại tăng cường sự cố kết và quan hệ liên minh giữa các nhóm cư dân ở các đảo khác nhau trong quần đảo này. Công trình nghiên cứu dân tộc học này của Malinowski không chỉ cho thấy sự bao dung của ông đối với các phong tục xa lạ mà còn làm cho người đọc thấu hiểu được chức năng của các phong tục rất khác biệt với các phong tục của chính xã hội nhà nghiên cứu.

Chức năng luận-cấu trúc

[

sửa

]

Alfred Reginald Radcliffe-Brown sinh năm 1881 ở Birmingham, Anh quốc. Là một trong những cha đẻ của truyền thống Nhân học xã hội Anh, trong giai đoạn đầu của sự nghiệp, Radcliffe-Brown tham gia cuộc thám hiểm năm 1910 nghiên cứu các bộ tộc thổ dân ở các đảo nằm giữa New Guinea và Australia. Ông là nhà nhân học đầu tiên được bổ nhiệm chức danh giáo sư ở Đại học Oxford, Anh quốc. Từ 1926 đến 1931, Radcliffe-Brown dạy Nhân học ở University of Sydney, Australia. Cuốn sách đầu tiên của ông là Andaman Islanders xuất bản năm 1922 là về xã hội của các cư dân ở quần đảo này. Cuốn sách thứ hai tựa đề Social Organization of Australian Tribes (1931) viết về những người thổ dân ở Australia.

Radcliffe-Brown gắn bó với chức năng luận-cấu trúc dựa trên nền tảng tri thức của nhà tư tưởng xã hội Emile Durkheim nhằm định nghĩa các cấu trúc thân tộc trên cơ sở sự thích nghi, chia tách và hợp nhất. Theo ông, thân tộc được định nghĩa là mối quan hệ máu mủ hay hôn nhân giữa một nhóm người với nhau. Các xã hội công nhận các mối quan hệ này dựa trên cơ sở dòng máu như là một dòng tộc có chung một tổ tiên. Tuy nhiên, trong một số xã hội, khái niệm thân tộc có thể mở rộng ra bên ngoài gia đình sang các nhóm hay bộ lạc mà có thể coi là cùng thân tộc huyết thống.

Radcliffe-Brown thực hiện nghiên cứu điền dã dân tộc học ở châu Phi và ở các đảo Andaman thuộc Tây Bắc Á. Ông tập trung vào cấu trúc của xã hội và nhấn mạnh đến chức năng của các thiết chế xã hội là nhằm duy trì sự tồn tại của xã hội. Theo ông, cấu trúc xã hội là một hình thức bao quanh của xã hội, và chức năng xã hội là vai trò của các thiết chế xã hội trong việc duy trì tổng thể xã hội. Kết quả của chức năng xã hội là một cấu trúc xã hội được duy trì ổn định. Nghĩa là, Radcliffe-Brown cho rằng các thiết chế xã hội như chính trị, kinh tế, tôn giáo, v.v., có chức năng kết nối xã hội thành một chỉnh thể. Chẳng hạn, trong các xã hội có qui mô nhỏ, các thiết chế xã hội dựa trên các mối quan hệ thân tộc có chức năng tăng cường tính cố kết của nhóm. Các chuẩn mực quy định những ứng xử cụ thể, các bổn phận, nghĩa vụ của các thành viên trong các mối quan hệ thân tộc thúc đẩy trật tự và sự ổn định của xã hội. Vì thế, Radcliffe-Brown cho rằng các thiết chế xã hội này có chức năng phục vụ nhu cầu của xã hội.

So sánh

[

sửa

]

Về sự tương đồng, điểm nổi bật nhất là cả chức năng luận và chức năng luận-cấu trúc đều tập trung vào khám phá và phân tích mối quan hệ của các thiết chế khác nhau để tìm hiểu xem các thiết chế này có chức năng gì trong việc phục vụ xã hội và cá thể. Một điểm quan trọng nữa là cả hai trường phái chức năng luận và chức năng luận-cấu trúc trong Nhân học xã hội Anh đều lập luận rằng xã hội là một thực thể hài hòa và ổn định, khác với các nhà tiến hóa luận coi xã hội thiên về biến đổi từ thấp lên cao theo một chiều tiến hóa đơn nhất, hay các nhà lý luận Mác-xít cho rằng xã hội chứa đựng mâu thuẫn giữa các giai cấp đối kháng vì bất bình đẳng trong sở hữu tư liệu sản xuất. Các nhà nhân học xã hội Anh cũng có điểm chung là họ chỉ dừng lại ở tiếp cận đồng đại và không cho rằng Nhân học xã hội kết nối với Nhân chủng học, Khảo cổ học và Ngôn ngữ học để tạo thành một ngành khoa học nghiên cứu toàn diện về con người như các nhà nhân học theo chủ nghĩa đặc thù lịch sử ở Mỹ giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX.

Điểm khác biệt cơ bản giữa chức năng luận của Malinowski với chức năng luận-cấu trúc của Radcliffe-Brown là Malinowski nhấn mạnh đến chức năng trong khi Radcliffe-Brown nhấn mạnh đến cấu trúc. Malinowski cho rằng trong mối quan hệ giữa cá thể và xã hội, hay nhóm, thì các thiết chế xã hội có chức năng phục vụ nhu cầu của cá thể chứ không phải phục vụ nhu cầu của xã hội. Malinowski chứng minh rằng cá thể đã sử dụng các thiết chế xã hội và chuẩn mực văn hóa để thỏa mãn các nhu cầu cụ thể của mình. Nói cách khác, theo Malinowski, các thiết chế xã hội và chuẩn mực văn hóa tồn tại để thỏa mãn các nhu cầu này của cá thể con người trong xã hội. Trong khi đó, Radcliffe-Brown cho rằng các thiết chế xã hội có chức năng kết nối xã hội thành một chỉnh thể, tăng cường tính cố kết nhóm, thúc đẩy trật tự và sự ổn định của xã hội. Như vậy, theo Radcliffe-Brown, các thiết chế xã hội này có chức năng phục vụ nhu cầu của xã hội.

Để diễn đạt luận điểm này khác với chức năng luận-cấu trúc như thế nào, chúng ta có thể xem mỗi trường phái nhìn nhận như thế nào về nghi lễ tôn giáo. Đối với Radcliffe-Brown, mục đích của các nghi lễ tôn giáo là nhằm duy trì trật tự xã hội thông qua việc nhấn mạnh một số giá trị nào đó. Các nghi lễ tôn giáo tập hợp các thành viên trong xã hội lại với nhau, vì thế, chúng có chức năng phục vụ các giá trị chung và thúc đẩy cố kết nhóm. Đây là các nhu cầu của xã hội. Không thực hiện một nghi lễ tôn giáo cụ thể nào đó có thể sẽ tạo ra sự tức giận hay phản ứng trong các thành viên khác của một xã hội. Tuy nhiên, đối với Malinowski, việc thực hiện một nghi lễ tôn giáo như thế là để thỏa mãn nhu cầu của cá thể, ví dụ giảm đi sự bực dọc hay sự sợ hãi nào đó của cá thể. Một cá thể có thể cảm thấy bực dọc về một số vấn đề hay có sức ép nào đó của cuộc sống như cái chết, bệnh tật, đau khổ. Theo Malinowski, cá thể này sau đó sẽ thực hiện hay tham dự nghi lễ nhằm làm giảm đi sự bực dọc hay căng thẳng của mình. Vì thế, các nghi lễ trong trường hợp này có chức năng thỏa mãn nhu cầu của cá thể hơn là phục vụ cho nhu cầu của toàn thể xã hội nói chung.

Điểm mạnh và hạn chế

[

sửa

]

Chức năng luận và chức năng luận-cấu trúc là các trường phái lý thuyết đã có ảnh hưởng quan trọng trong Nhân học. Bằng việc tập trung vào các chức năng cụ thể của các thiết chế trong các xã hội do các nhà nhân học nghiên cứu, chức năng luận và chức năng luận-cấu trúc đã thúc đẩy nghiên cứu điền dã dân tộc học và thu thập tài liệu dân tộc học nguyên gốc, chi tiết và có giá trị. Vì thế, giống với Franz Boas trong Nhân học ở Mỹ, Malinowski và Radcliffe-Brown trong Nhân học xã hội ở Anh đã có công lớn trong việc xây dựng truyền thống Nhân học xã hội và chuyển kiểu nghiên cứu ghế bành trong Nhân học xã hội Anh sang nghiên cứu điền dã dân tộc học trong một thời gian dài với quan điểm tương đối luận văn hóa và đào tạo được nhiều nhà nhân học nghiên cứu điền dã dân tộc học ở nhiều nơi trên thế giới.

Tuy nhiên, chức năng luận và chức năng luận-cấu trúc như là các trường phái lý thuyết chức năng có điểm yếu. Thứ nhất, các lý thuyết chức năng không thể giải thích được vì sao các xã hội giống nhau và khác nhau. Tại sao một số xã hội có các thiết chế khác nhau trong khi các thiết chế giống nhau lại không thể đảm đương các chức năng giống nhau? Điểm yếu này xuất phát từ chỗ các nhà chức năng luận và chức năng luận-cấu trúc có xu hướng lãng quên các quá trình lịch sử. Họ không quan tâm đến nguồn gốc và sự tiến hóa của các thiết chế xã hội mà chỉ tập trung nghiên cứu xem các thiết chế này đã phục vụ nhu cầu của xã hội và cá thể như thế nào. Vì thế, họ không thể giải thích được ví dụ như tại sao xã hội Anh lại trải qua quá trình chuyển đổi công nghệ nhanh như thế trong khi các xã hội khác lại không dù cả hai đều có những nhu cầu như nhau. Thứ hai, các nhà lý thuyết chức năng đã bỏ qua xung đột và không thể lý giải thỏa đáng biến đổi xã hội khi họ nhìn nhận xã hội là một thực thể tĩnh, hài hòa, không biến đổi, không mâu thuẫn. Họ không thể giải thích được vì sao nếu tất cả các thiết chế đều thực hiện một chức năng cụ thể, thì các thiết chế này lại không biến đổi.

Tài liệu tham khảo

[

sửa

]

Adam Kuper, Anthropology and Anthropologists. London, Toutledge & Kegan Paul, 1985.

Marvin Harris,The Rise of Anthropological Theory. New York: Altamira Press, Updated Edition, 2001.

Thomas Hylland Eriksen and Finn Sivert Nietsen, A History of Anthropology. London: Pluto Press, 2001.

Bronislaw Malinowski, Argonauts of the Western Pacific. London: Routledge. First published in 1922.

Alan Barnard, History and Theory in Anthropology. Cambridge: Cambridge University Press, 2005.

Kathleen M. DeWalt and Billie R. DeWalt, Participant Observation: A Guide for Fieldworkers. New York: Altamira Press. Second Edition, 2011.

McGee, R. John, Richard L. Warms, Anthropological Theory: An Introductory History. New York: Mayfield Publishing Company. The 5th Edition, 2012.

Brom – Bách Khoa Toàn Thư Việt Nam

Brom là một nguyên tố hóa học có ký hiệu là Br và số nguyên tử 35. Nó là halogen nhẹ thứ ba, tồn tại trong điều kiện nhiệt độ phòng và áp suất tiêu chuẩn ở dạng chất lỏng màu nâu đỏ, luôn bốc hơi ra chất khí cùng màu. Tính chất hóa lý của nguyên tố này nằm giữa chlor và iod. Nguyên tố này lần đầu tiên được phân tách bởi hai nhà hóa học thực hiện độc lập với nhau, là Carl Jacob Löwig (năm 1825) và Antoine Jérôme Balard (năm 1826), và tên của nó được đặt theo tiếng Hy Lạp cổ βρῶμος (mùi hôi) với ý nghĩa liên hệ đến mùi vị hắc và khó chịu của nguyên tố này.

Brom nguyên chất có tính phản ứng mạnh và do đó không tồn tại tự do trong tự nhiên, mà thường ở dạng tinh thể muối khoáng halogen không màu, có thể hòa tan được trong nước, tương tự muối ăn. Brom có rất ít trong vỏ Trái đất, tuy nhiên, do ion brom (Br−) dễ dàng hòa tan trong nước, nguyên tố này tích tụ lại ở trong đại dương. Brom thương mại thường được chiết xuất dễ dàng từ các bể nước muối tự nhiên, chủ yếu có ở Hoa Kỳ, Israel và Trung Quốc. Tổng khối lượng brom trong các đại dương là vào khoảng một phần ba trăm trữ lượng chlor.

Ở nhiệt độ cao, các hợp chất hữu cơ brom có thể dễ dàng phân hủy và sinh ra nguyên tử brom tự do. Quá trình này làm dừng các phản ứng dây chuyền của gốc tự do. Do vậy, các hợp chất hữu cơ brom được ứng dụng làm chất chống cháy, và hơn một nửa lượng brom được sản xuất trên thế giới mỗi năm được sử dụng cho mục đích này. Theo cơ chế tương tự, tia cực tím của Mặt trời có thể phân hủy các hợp chất hữu cơ brom bốc hơi ở trong khí quyển, tạo ra các nguyên tử brom tự do, có khả năng làm suy giảm ozone. Do vậy, việc sử dụng nhiều hợp chất hữu cơ brom — như thuốc trừ sâu methyl bromide — đã bị cấm hoặc bị kiểm soát chặt chẽ. Các hợp chất của brom còn được dùng trong dung dịch khoan, phim chụp ảnh, và được dùng như chất trung gian trong các quá trình ứng dụng hóa học hữu cơ.

Việc hấp thụ một lượng lớn muối brom có thể gây ra ngộ độc, do hoạt động của các ion brom hòa tan, gọi là hội chứng nhiễm độc brom. Tuy nhiên, vai trò sinh học rõ ràng của ion brom và acid bromic (HOBr) gần đây đã được làm sáng tỏ, và có vẻ như brom là một nguyên tố vi lượng thiết yếu đối với con người. Vai trò của các hợp chất hữu cơ brom có nguồn gốc sinh học đối với đời sống biển, như với tảo biển, đã được biết đến từ lâu. Trong lĩnh vực dược phẩm, ion brom đơn (Br-) có tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương và muối của brom đã từng là một loại thuốc an thần y tế quan trọng, trước khi bị thay thế bằng thuốc có tác dụng ngắn hạn hơn. Brom vẫn còn được dùng trong thuốc chống động kinh.

Thông tin tham khảo

[

sửa

]

Tham khảo

[

sửa

]

Lý Thuyết Chức Năng Của John Dewey / Tâm Lý Học

Có nhiều lý thuyết và cách tiếp cận tồn tại trong tâm lý học. Xuyên suốt lịch sử, những cách nhìn và nghiên cứu tâm trí con người khác nhau đã ra đời và biến mất. Ban đầu, mối quan tâm của các sinh viên tâm lý là nghiên cứu cái gì và cách thức tâm trí được cấu hình, tìm kiếm các yếu tố cốt lõi và cấu trúc cơ bản của nó.

Tuy nhiên, ngoài cách tiếp cận này được gọi là chủ nghĩa cấu trúc, một vấn đề khác xuất hiện trong đó mối quan tâm chính là điều tra không quá nhiều về cái gì hoặc cái gì, nhưng nó phục vụ và chức năng của nó. Chúng ta đang nói về lý thuyết chức năng của John Dewey.

Chủ nghĩa chức năng trong tâm lý học là gì?

Trong lĩnh vực tâm lý học, chủ nghĩa chức năng là một dòng tư tưởng hoặc phương pháp tiếp cận đề xuất sự cần thiết cho nghiên cứu các hiện tượng tâm linh từ các chức năng mà chúng thực hiện chứ không phải từ cấu trúc của chúng. Thay vì làm thế nào, nó tập trung vào các chức năng ngoại cảm khác nhau để làm gì. Phong trào này là đối tượng chính của nó để nghiên cứu lương tâm như một hành động, và hỏi chúng ta làm gì và tại sao.

Một trong những đặc điểm chính của nó là sử dụng phương pháp luận không hướng nội để nghiên cứu một cách khách quan lương tâm và phần còn lại của các hiện tượng tâm linh, chấp nhận bất kỳ phương pháp nào miễn là nó có kết quả hữu ích. Nhưng tuy nhiên, nội tâm thử nghiệm từng được sử dụng từ quan điểm cấu trúc sẽ bị từ chối, coi đó là không hợp lệ và tự nhiên (mặc dù William James sẽ bảo vệ việc sử dụng nội tâm mà không cần đào tạo)..

Cách tiếp cận nghiên cứu về tâm lý này cuối cùng sẽ sử dụng sự liên kết như là cách chính để giải thích hành vi phức tạp. Điều này cho thấy các trường phái tư tưởng sau này như chủ nghĩa hành vi, trong đó trên thực tế chức năng là một phần tiền thân. Và đó là chủ nghĩa chức năng cuối cùng sẽ được tích hợp vào các trường khác nhau và đóng vai trò là tiền thân cho sự phát triển của các mô hình lý thuyết khác nhau, chẳng hạn như chủ nghĩa hành vi đã nói ở trên hoặc tâm lý học của Gestalt..

Các nhà chức năng sẽ là người tiên phong trong nghiên cứu học tập, và nó sẽ là từ họ rằng các bài kiểm tra tinh thần đầu tiên sẽ bắt đầu xuất hiện (xuất hiện với Cattell). Ngoài ra sự khác biệt cá nhân và nghiên cứu về tâm lý học sẽ được thúc đẩy bởi dòng suy nghĩ này.

Nguồn gốc của chủ nghĩa chức năng: William James

William James được coi là cha đẻ của chủ nghĩa chức năng, mặc dù anh ta không bao giờ coi mình như vậy và từ chối sự phân tách tâm lý trong các trường phái tư tưởng. Tác giả này cho rằng mục tiêu hay chức năng chính của lương tâm là chọn hành vi theo cách cho phép chúng ta tồn tại và thích nghi tốt nhất có thể.

Ý thức là một hiện tượng xuất hiện từ hành động: chúng tôi liên tục tạo ra các hiệp hội, thay đổi trọng tâm của sự chú ý và thực hiện các hoạt động tinh thần khác nhau trong một dòng chảy không thể dừng lại.

Trọng tâm chính của William James là sự điều biến điều này theo cách thích nghi trong các bối cảnh khác nhau, thú vị và điều tra các khía cạnh sâu sắc như sự hình thành thói quen. Ông tin rằng tâm lý nên tập trung vào những trải nghiệm hàng ngày thay vì tập trung vào các hiện tượng và cấu trúc trừu tượng (vẫn là sản phẩm của tâm trí).

Ngoài ra, nhà nghiên cứu này cho rằng rất khó để quan sát những thay đổi tâm linh không thể quan sát trực tiếp thông qua hành vi hoặc thay đổi sinh lý, và tâm lý và các quá trình mà chúng ta thực hiện có ý nghĩa tiến hóa cho phép sống sót nếu không chúng sẽ biến mất.

Nó cũng sẽ quan sát và tính đến các cảm xúc trong các quá trình tinh thần, cũng như sự tồn tại của các cung phản xạ trước các kích thích cảm xúc.. Cảm xúc được hình thành như là kết quả của một phản ứng tự động, đầu tiên xuất hiện phản ứng vật lý và sau đó là phản ứng cảm xúc.

John Dewey và lý thuyết chức năng của mình

John Dewey là một trong những người sáng lập vĩ đại của chức năng tâm lý. Nhà tâm lý học quan trọng này sẽ trùng hợp và bắt đầu làm việc cùng với một trong những đệ tử của William James, James Angell (người đã mở rộng rất nhiều chức năng trong các lĩnh vực khác nhau), và sẽ là một trong những người thúc đẩy chính việc sử dụng chủ nghĩa thực dụng và phương pháp tiếp cận chức năng trong lĩnh vực giáo dục. Trên thực tế, cùng nhau họ sẽ biến Đại học Chicago thành trung tâm của trường chức năng.

Tác giả này coi giáo dục và học tập là yếu tố chính cho con người và sự phát triển của họ, rất quan tâm đến việc đạt được những thay đổi xã hội.

Dewey đã làm việc và phân tích trong một số khía cạnh công việc quan trọng nhất của mình như vòng cung phản xạ, đi đến kết luận rằng tầm nhìn cấu trúc truyền thống dựa trên việc chia nó thành các mảnh độc lập như cảm giác, ý tưởng và hành động không thể giải thích hiện tượng này, chỉ hữu ích như một mô tả đơn thuần. Từ quan điểm thực dụng và chức năng, John Dewey đã xem xét sự cần thiết phải hiểu toàn bộ kiến ​​trúc này, hơn cả tổng số đơn giản của các bộ phận.

Đối với một phần lớn sự nghiệp của mình có một vai trò có ảnh hưởng trong tâm lý giáo dục và tâm lý học. Trên thực tế, ông sẽ tiếp tục cố vấn cho chính phủ của các quốc gia như Trung Quốc và Nga.

Sự tương phản với chủ nghĩa cấu trúc

Các ý tưởng chính của chủ nghĩa chức năng xuất hiện vào thời điểm vị trí chiếm ưu thế chủ yếu là chủ nghĩa cấu trúc, phát sinh như một phản ứng với nó. Chủ nghĩa chức năng đề xuất rằng thay vì phân tích những gì và làm thế nào là tâm lý nên được nghiên cứu chức năng hoặc ý nghĩa có tâm lý và quá trình tâm thần.

Titchener, người sáng lập chính của trường phái cấu trúc, Ông đã cố gắng nghiên cứu tâm trí con người từ các yếu tố cơ bản hoặc “nguyên tử” tạo nên nó. Tuy nhiên, chủ nghĩa chức năng cho rằng không có những yếu tố như vậy, tâm lý là một thứ gì đó trôi chảy và năng động không thể phân chia hoặc dừng lại.

Ngoài ra, từ chủ nghĩa cấu trúc, lương tâm sẽ được hiểu là phù hợp với các loại hiện tượng khác nhau: cảm giác, tình cảm và ý tưởng. Chủ nghĩa chức năng cho rằng sự phân chia này không cho phép tính đến toàn bộ ý thức như nó là và do đó không cho phép giải thích hợp lệ về hiện tượng này, như đã xảy ra trong trường hợp cung phản xạ với Dewey.

Ngoài ra, trong khi chủ nghĩa cấu trúc tập trung chủ yếu vào lý thuyết, thì lý thuyết chức năng của John Dewey và các nhà nghiên cứu khác theo quan điểm của ông tập trung hơn vào việc phân tích và đưa ra phản ứng thực tế cho các sự kiện xảy ra hàng ngày..

García, L.; Moya, J. & Rodríguez, S. (1992). Lịch sử tâm lý (Vols. I-III). Thế kỷ 21: Madrid.

Hothersall, D. (2004). Lịch sử tâm lý học. New York: McGraw-Hill.

Khoa Thăm Dò Chức Năng

KHOA THĂM DÒ CHỨC NĂNG

Nhân sự

– Trương khoa: BSCKI. Phan Thị Minh Nguyệt

– Điện tim: BSCKI. Phan Thị Minh Nguyệt, BS. Lê Thị Hải Yến

– KTV: 03 người.

Tổng quan chung

Khoa thăm dò chức năng bệnh viện Đa khoa Bình Dân Đà Nẵng là khoa thực hiện chuẩn đoán các rối loạn về chức năng của hệ thống các cơ quan cơ thể của bệnh nhân trong quá trình thăm khám. Khoa nắm giữ vai trò quan trọng trong việc tham khám chăm sóc sức khỏe bệnh nhân. Hiện nay với sự hát triển không ngừng của nghành y khoa nói chung và bệnh viện bệnh viện Bình Dân Đà Nẵng nói riêng, đã mang khoa thăm dò chức năng vào công tác khám chữa bệnh rất chuyên sâu.

Tại khoa thăm dò chức năng hội tụ tất cả đội ngũ y bác sỹ, có trình độ chuyên môn cao, kinh nghiệm dày dặn, cùng tâm huyết, sự chu đáo cộng với trang thiết bị cơ sở vật chất hiện đại, đạt tiêu chuẩn quốc tế được trang bị đầy đủ, nhằm mang lại hiểu quả cao trong việc thăm khám chữa bệnh tại bện viện.

Hoạt động của khoa

Mọi hoạt động của khoa đều tuân theo dưới sự chỉ đạo, quy định của Giám đốc bệnh viện và phù hợp với các quy chế bệnh viện của Bộ y tế.

Khoa luôn nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ, giải quyết nhanh chống các nhu cầu về thăm dò chức năng, nhằm tránh cho bệnh nhân không phải chờ đợi lâu luôn song hành với chất lượng và an toàn.

Các kỹ thuật đang thực hiện:

Hiện nay tại khoa đã thực hiện các kỹ thuật thăm dò chức năng tim mạch, hô hấp, thần kinh cơ… như: điện tâm đồ,  điện tim ,điện não, điện cơ chi trên và dưới, điện thế đâm kim, đo mật độ xương, huyết áp, hô hấp…

Bên cạnh đó khoa thăm dò chức năng đã vận dụng kỹ thuật thăm khám như: thăm dò chức năng nội soi tiêu hóa chẩn đoán, điều trị, siêu âm bụng tổng quát và điện sinh lý cho bệnh nhân nội trú và ngoại trú.Trong thời gian tới sẽ cho phát triển những kỹ thuật thăm dò chuyên sâu hơn.

Đến với phương thức thăm dò chức năng này tất cả các bệnh nhân sẽ được thăm khám theo sự chie đạo của bác sĩ chuyên khoa, để bảo an toàn cho bệnh nhân, việc thăm khám luôn có sự cân nhắc kỹ lưỡng của đội ngũ y bác sỹ, trước khi đưa ra phương thức điều trị, nhằm rút ngắn thời gian và hiệu quả  nhanh nhất có thể.

Khoa thăm dò chức năng bệnh viện Đa khoa Bình Dân Đà Nẵng sẽ là địa chỉ thăm khám, điều trị mang lại sự hài lòng cho mọi người. Không những đầu tư công nghệ hàng đầu cộng mức chi phí hợp lý và song hành với chất lượng an toàn tính mạng của bệnh nhân đặt lên hàng đầu sẽ là lựa chọn hàng đầu cho bệnh nhân.

Bạn đang xem bài viết Lý Thuyết Chức Năng – Bách Khoa Toàn Thư Việt Nam trên website 3mienmoloctrungvang.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!