Xem Nhiều 1/2023 #️ Nhân Vật Trong Tác Phẩm Văn Học # Top 5 Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Xem Nhiều 1/2023 # Nhân Vật Trong Tác Phẩm Văn Học # Top 5 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Nhân Vật Trong Tác Phẩm Văn Học mới nhất trên website 3mienmoloctrungvang.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC

1. Khái niệm và chức năng của nhân vật a. Khái niệm: Nhân vật văn học là con người được nhà văn miêu tả trong tác phẩm bằng phương tiện văn học. Những con người này có thể được miêu tả kỹ hay sơ lược, sinh động hay không rõ nét, xuất hiện một hay nhiều lần, thường xuyên hay từng lúc, giữ vai trò quan trọng nhiều, ít hoặc không ảnh hưởng nhiều lắm đối với tác phẩm. Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật có tính ước lệ, có những dấu hiệu để nhận biết: tên gọi, những dấu hiệu về tiểu sử, nghề nghiệp, những đặc điểm riêng…Những dấu hiệu đó thường được giới thiệu ngay từ đầu và thông thường, sự phát triển về sau của nhân vật gắn bó mật thiết với những giới thiệu ban đầu đó. Nhân vật văn học không giống với các nhân vật thuộc các loại hình nghệ thuật khác. Ơí đây, nhân vật văn học được thể hiện bằng chất liệu riêng là ngôn từ. Vì vậy, nhân vật văn học đòi hỏi người đọc phải vận dụng trí tưởng tượng, liên tưởng để dựng lại một con người hoàn chỉnh trong tất cả các mối quan hệ của nó. b. Chức năng: Nhân vật văn học có chức năng khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời. Khi xây dựng nhân vật, nhà văn có mục đích gắn liền nó với những vấn đề mà nhà văn muốn đề cập đến trong tác phẩm. Vì vậy, tìm hiểu nhân vật trong tác phẩm, bên cạnh việc xác định những nét tính cách của nó, cần nhận ra những vấn đề của hiện thực và quan niệm của nhà văn mà nhân vật muốn thể hiện. Chẳng hạn, khi nhắc đến một nhân vật, nhất là các nhân vật chính, người ta thường nghĩ đến các vấn đề gắn liền với nhân vật đó. Do nhân vật có chức năng khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời cho nên trong quá trình mô tả nhân vật, nhà văn có quyền lựa chọn những chi tiết, yếu tố mà họ cho là cần thiết bộc lộ được quan niệm của mình về con người và cuộc sống. Chính vì vậy, không nên đồng nhất nhân vật văn học với con người trong cuộc đời. 2. Phân loại nhân vật a. Xét từ góc độ nội dung tư tưởng hay phẩm chất nhân vật. Có thể nói đến các loại nhân vật chính diện (nhân vật tích cực), nhân vật phản diện (nhân vật tiêu cực). Nhân vật chính diện là nhân vật đại diện cho lực lượng chính nghĩa trong xã hội, cho cái thiện, cái tiến bộ. Khi nhân vật chính diện được xây dựng với những phẩm chất hoàn hảo, có tính chất tiêu biểu cho tinh hoa của một giai cấp, một dân tộc, một thời đại, mang những mầm mống lí tưởng trong cuộc sống…có thể được coi là nhân vật lí tưởng. Nhân vật phản diện là nhân vật đại diện cho lực lượng phi nghĩa, cho cái ác, cái lạc hậu, phản động, cần bị lên án. b. Xét từ góc độ kết cấu (Tầm quan trọng và vai trò của nhân vật trong tác phẩm). Xem xét chức năng và vị trí của nhân vật trong tác phẩm, có thể chia thành các loại nhân vật: nhân vật chính, nhân vật trung tâm, nhân vật phụ. Nhân vật chính là nhân vật giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức và triển khai tác phẩm. Ở đây, nhà văn thường tập trung miêu tả, khắc họa tỉ mỉ từ ngoại hình, nội tâm, quá trình phát triển tính cách của nhân vật. Qua nhân vật chính, nhà văn thường nêu lên những vấn đề và những mâu thuẫn cơ bản trong tác phẩm và từ đó giải quyết vấn đề, bộc lộ cảm hứng tư tưởng và tình điệu thẩm mĩ. Nhân vật phụ phải góp phần hỗ trợ, bổ sung cho nhân vật chính nhưng không được làm mờ nhạt nhân vật chính. Có nhiều nhân vật phụ vẫn được các nhà văn miêu tả đậm nét, có cuộc đời và tính cách riêng, cùng với những nhân vật khác tạo nên một bức tranh đời sống sinh động và hoàn chỉnh. c. Xét từ góc độ thể loại Có thể phân thành các nhân vật: nhân vật trữ tình, nhân vật tự sự và nhân vật kịch. d. Xét từ góc độ chất lượng miêu tả Có thể phân thành các loại: nhân vật, tính cách, điển hình. Nhân vật là những con người nói chung được miêu tả trong tác phẩm. Ở đây, nhà văn có thể chỉ mới nêu lên một vài chi tiết về ngôn ngữ, cử chỉ, hành động…cũng có thể miêu tả kĩ và đậm nét. Tính cách là nhân vật được khắc họa với một chiều sâu bên trong. Nó như một điểm qui tụ mà từ đó có thể giải thích được mọi biểu hiện muôn màu, muôn vẻ sinh động bên ngoài của nhân vật. Ðiển hình là tính cách đã đạt đến độ thực sự sâu sắc, là sự thống nhất giữa cái chung và cái riêng, cái khái quát và cái cá thể…Nói một cách nghiêm ngặt, thuật ngữ này chỉ được áp dụng từ chủ nghĩa hiện thực phê phán trở về sau. 3. Một số biện pháp xây dựng nhân vật a. Miêu tả nhân vật qua ngoại hình Ngoại hình là dáng vẻ bên ngoài của nhân vật bao gồm y phục, cử chỉ, tác phong, diện mạo…Ðây là yếu tố quan trọng góp phần cá tính hóa nhân vật. Nếu như văn học cổ thường xây dựng ngoại hình nhân vật với những chi tiết ước lệ, tượng trưng thì văn học hiện đại thường đòi hỏi những chi tiết chân thực và cụ thể sinh động. Ngoại hình nhân vật cần góp phần biểu hiện nội tâm. Ðây cũng chính là sự thống nhất giữa cái bên ngoài và cái bên trong của nhân vật. Vì vậy, khi tính cách, đời sống bên trong của nhân vật thay đổi, nhiều nét bên ngoài của nhân vật cũng thay đổi theo. Khi xây dựng ngoại hình nhân vật, nhà văn cần thể hiện những nét riêng biệt, cụ thể của nhân vật nhưng qua đó, người đọc có thể nắm bắt được những đặc điểm chung của những người cùng nghề nghiệp, tầng lớp, thời đại…Những nhân vật thành công trong văn học từ xưa đến nay cho thấy nhà văn bao giờ cũng chọn lựa công phu những nét tiêu biểu nhất để khắc họa nhân vật b. Miêu tả nhân vật qua biểu hiện nội tâm Khái niệm nội tâm nhằm chỉ toàn bộ những biểu hiện thuộc cuộc sống bên trong của nhân vật. Ðó là những tâm trạng, những suy nghĩ, những phản ứng tâm lí… của nhân vật trước những cảnh ngộ, những tình huống mà nó gặp phải trong cuộc đời. Sự biểu hiện hợp lí và sâu sắc nội tâm góp phần rất lớn tạo nên sức sống của nhân vật. Nói như L. Tônxtôi: “Mục đích chính của nghệ thuật…là nói lên sự thật về tâm hồn con người, nói lên những điều bí ẩn không thể diễn tả bằng ngôn ngữ thông thường được”. Ðể làm được điều đó, nhà văn phải hiểu sâu sắc cuộc sống và con người, nắm bắt được những biểu hiện và diễn biến dù nhỏ nhặt nhất đời sống bên trong của nhân vật. c. Miêu tả nhân vật qua ngôn ngữ nhân vật Khái niệm ngôn ngữ nhân vật nhằm chỉ những lời nói của nhân vật trong tác phẩm. Lời nói đó phản ánh kinh nghiệm sống cá nhân, trình độ văn hóa, tư tưởng, tâm lí, thị hiếu…Ðằng sau mỗi câu câu nói của mỗi con người đều có lịch sử riêng của nó. Trong các tác phẩm tự sự nói chung, lời nói của nhân vật thường chiếm tỉ lệ ít hơn so với ngôn ngữ người kể chuyện nhưng lại có khả năng thể hiện sinh động và khêu gợi cho người đọc hình dung về bản chất, tính cách của nhân vật. d. Miêu tả nhân vật qua hành động Hành động nhân vật là khái niệm nhằm chỉ các việc làm của nhân vật. Ðây là phương diện đặc biệt quan trọng để thể hiện tính cách nhân vật vì việc làm của mỗi người là căn cứ quan trọng có ý nghĩa quyết định nói lên tư cách, lí tưởng, phẩm chất cũng như những đặc điểm thuộc về thế giới tinh thần của người đó. Hơn nữa, trong các tác phẩm tự sự, tính cách nhân vật không phải ngay từ đầu đã được hình thành trọn vẹn. Chính hành động có tác dụng bộc lộ quá trình phát triển của tính cách và thúc đẩy sự diễn biến của hệ thống cốt truyện…Thông qua các mối quan hệ, sự đối xử giữa các nhân vật trong những tình huống khác nhau, người đọc có thể xác định được những đặc điểm, bản chất của nhân vật. Thông thường, khi miêu tả hành động nhân vật, nhà văn thường kết hợp với những biểu hiện nội tâm tương ứng vì đằng sau mỗi hành động, bao giờ cũng có một tâm trạng hoặc một động cơ nào đó. Dùng nội tâm để lí giải hành động, sử dụng hành động để làm sáng tỏ nội tâm là một hiện tượng phổ biến trong việc miêu tả nhân vật. (Đào Văn Âu, Lý luận văn học)

Xây Dựng Nhân Vật Trong Tác Phẩm Văn Học

Xây dựng nhân vật trong tác phẩm văn học

Nhân vật văn học là con người được nhà văn miêu tả trong tác phẩm bằng phương tiện văn học. Những con người này có thể được miêu tả kỹ hay sơ lược, sinh động hay không rõ nét, xuất hiện một hay nhiều lần, thường xuyên hay từng lúc, giữ vai trò quan trọng nhiều, ít hoặc không ảnh hưởng nhiều lắm đối với tác phẩm.

Khái niệm con người này cũng cần được hiểu một cách rộng rãi trên 2 phưong diện: số lượng: hầu hết các tác phẩm từ văn học dân gian đến văn học hiện đại đều tập trung miêu tả số phận của con người, về chất lượng: dù nhà văn miêu tả thần linh, ma quỉ, đồ vật…nhưng lại gán cho nó những phẩm chất của con người.

Trong nhiều trường hợp, khái niệm nhân vật được sử dụng một cách ẩn dụ nhằm chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm. Chẳng hạn, người ta thường nói đến nhân dân như là một nhân vật trung tâm trong Chiến tranh và hòa bình của L. Tônxtôi, ca cao là nhân vật chỉnh trong Đất dữ của G. Amađô, chiếc quan tài là nhân vật trong tác phẩm Chiếc quan tài của Nguyễn Công Hoan…Tô Hoài nhận xét về Chiếc quan tài: “Trong truyện ngắn Chiếc quan tài của Nguyễn Công Hoan, nhân vật không phải là người mà là một chiếc quan tài. Nhưng chiếc quan tài ấy chẳng phải là vô tri mà là một sự thê thảm, một bản án tố cáo chế độ thảm khốc thời Pháp thuộc. Như vậy, chiếc quan tài cũng là một thứ nhân vật”. Tuy vậy, nhìn chung, nhân vật văn là hình tượng của con người trong tác phẩm văn học.

Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật có tính ước lệ, có những dấu hiệu để nhận biết: tên gọi, những dấu hiệu về tiểu sử, nghề nghiệp, những đặc điểm riêng…Những dấu hiệu đó thường được giới thiệu ngay từ đầu và thông thường, sự phát triển về sau của nhân vật gán bó mật thiết với những giới thiệu ban đầu đó. Việc giới thiệu Thúy Vân, Thúy Kiều khác nhau dường như cũng báo trước về số phận của mỗi người sau này:

Hay việc giới thiệu Hoạn Thư:

“Ở ăn thì nết cũng hay,Nói điều ràng buộc thì tay cũng già”

Gắn liền với những suy nghĩ, nói năng, hành động trong quá trình phát triển về sau của nhân vật. Nhân vật văn học không giống với các nhân vật thuộc các loại hình nghệ thuật khác. Ờ đây, nhân vật văn học được thể hiện bằng chất liệu riêng là ngôn từ. Vì vậy, nhân vật văn học đòi hỏi người đọc phải vận dụng trí tưởng tượng, liên tưởng đế dựng lại một con người hoàn chỉnh trong tất cả các mối auan hệ của nó.

Nhân vật văn học có chức năng khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời. Khi xây dựng nhân vật, nhà văn có mục đích gán liền nó với những vấn đề mà nhà văn muốn đề cập đến trong tác phẩm. Vì vậy, tìm hiếu nhân vật trong tác phẩm, bên cạnh việc xác định những nét tính cách của nó, cần nhận ra những vấn đề của hiện thực và quan niệm của nhà văn mà nhân vật muốn thể hiện.

Chẳng hạn, khi nhác đến một nhân vật, nhất là các nhân vật chính, người ta thường nghĩ đến các vấn đề gắn liền với nhân vật đó. Gắn liền với Kiều là thân phận của người phụ nữ có tài sắc trong xã hội cũ. Gắn liền với Kim Trọng là vấn đề tình yêu và ước mơ vươn tới hạnh phúc. Gắn liền với Từ Hải là vấn đề đấu tranh để thực hiện khát vọng tự do, công lí…Trong Chí Phèo của Nam Cao, nhân vật Chí Phèo thể hiện quá trình lưu manh hóa của một bộ phận nông dân trong xã hội thực dân nửa phong kiên. Đằng sau nhiều nhân vật trong truyện cổ tích là vấn đề đấu tranh giữa thiện và ác, tốt và xấu, giàu và nghèo, những ước mơ tốt đẹp của con người…

Do nhân vật có chức năng khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời cho nên trong quá trình mô tả nhân vật, nhà văn có quyền lựa chọn những chi tiết, yếu tố mà họ cho là cần thiết bộc lộ được quan niệm của mình về con người và cuộc sống. Chính vì vậy, không nên đồng nhất nhân vật văn học với con người trong cuộc đời. Khi phân tích, nghiên cứu nhân vật, việc đối chiếu, so sánh có thể cần thiết để hiểu rõ thêm về nhân vật, nhất là những nhân vật có nguyên mẫu ngoài cuộc đời (anh hùng Núp trong Đất nước đứng lên; Chị Sứ trong Hòn Đất…) nhưng cũng cần luôn luôn nhớ ràng nhân vật văn học là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo gắn liền với ý đồ tư tưởng của nhà văn trong việc nêu lên những vấn đề của hiện thực cuộc sống. Do đó, Betông Brecht cho rằng: “Các nhân vật của tác phẩm nghệ thuật không phải giản đơn là những bản dập của những con người sống mà là những hình tượng được khắc họa phù hợp với ỷ đồ tư tưởng của tác giả”.

Nhân vật văn học là một hiện tượng hết sức đa dạng. Những nhân vật được xây dựng thành công từ xưa đến nay bao giờ cũng là những sáng tạo độc đáo, không lặp lại. Tuy nhiên, xét về mặt nội dung tư tưởng, kết cấu, chất lượng miêu tả…, có thể thấy những hiện tượng lặp đi lặp lại tạo thành các loại nhân vật khác nhau. Để nắm bắt được íhế giới nhân vật đa dạng, phong phú, có thể tiến hành phân loại chúng ở nhiều góc độ khác nhau.

Có thể nói đến các loại nhân vật chính diện (nhân vật tích cực), nhân vật phản diện (nhân vật tiêu cực).

là nhân vật đại diện cho lực lượng chính nghĩa trong xã hội, cho cái thiện, cái tiến bộ. Khi nhân vật chính diện được xây dựng với những phẩm chất hoàn hảo, có tính chất tiêu biểu cho tinh hoa của một giai cấp, một dân tộc, một thời đại, mang những mầm mống lí tưởng trong cuộc sống…có thể được coi là nhân vật lí tưởns. ơí đây, cũng cần phân biệt nhân vật lí tưởng với nhân vật lí tưởng hóa. Loại nhân vật sau là loại nhân vật được tô hồng, hoàn toàn theo chủ quan của nhà văn. Ở đây, nhà văn đã vi phạm tính chân thực của sự thể hiện.

Ví dụ: Thạch Sanh (Truyện cổ tích Thạch Sanh), Thúy Kiều, Kim Trọng, Từ Hải,.. (truyện Kiều Nguyễn Du), Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Hớn Mih, Vương Tử Trực (Lục Vân Tiên Nguyễn Đình Chiểu),….

là nhăn vật đại diện cho lực lượng phi nghĩa, cho cái ác, cái lạc hậu, phản động, cần bị lên án.Trong quá trình phát triển của văn học, trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, việc xây dựng các loại nhân vật trên cũng khác nhau.

Ví dụ: mẹ con Lý Thông, chằng tinh (truyện cổ tích Thạch Sanh), Tú bà, Mã Giám Sinh, Hoạn Thư, Hồ Tôn Hiến,… (truyện Kiều Nguyễn Du), Trịnh Hâm, Bùi Kiệm (Lục Vân Tiên Nguyễn Đình Chiểu),….

Nếu như trong thần thoại chưa có sự phân biệt rạch ròi giữa nhân vật chính diện và nhân vật phản diện thì trong truyện cổ tích, các truyện thơ Nôm, các nhân vật thường được xây dựng thành 2 tuyến rõ rệt có tính chất đối kháng quyết liệt. Ở đây, hễ là nhân vật chính diện thường tập trung những đức tính tốt đẹp còn nhân vật phản diện thì hoàn toàn ngược Iại.

Trong văn học hiện đại, nhiều khi khó phân biệt đâu là nhân vật chính diện, đâu là nhân vật phản diện. Việc miêu tả này phù hợp với quan niệm cho ràng hiện thực nói chung và con người nói riêng không phải chỉ mang một phẩm chất thẩm mĩ mà bao hàm nhiều phẩm chất thẩm mĩ khác nhau, cái nhìn của chủ thể đối với sự vật nhiều chiều, phức hợp chứ không đơn điệu…

Những nhân vật như Chí Phèo, Thị Nỡ, Tám Bính, Năm Sài Gòn…là những nhân vật có bản chất tốt nhưng đó không phải là phẩm chất duy nhất của nhân vật. Bakhtin cho rằng: cần phải thống nhất trong bản thân mình vừa các đặc điểm chính diện lẫn phản diện, vừa cái tầm thường lẫn cái cao cả, vừa cái buồn cười lẫn cái nghiêm túc. Chỉnh vì vậy, ở đây, sự phân biệt chính diện, phản diện chỉ có ý nghĩa tương đối.

Khi đặt nhân vật vào loại nào để nghiên cứu, cần phải xét khuynh hướng chủ đạo của nó đồng thời phải chú ý đến các khuynh hướng, phẩm chất thẩm mĩ khác nữa. Trong giai đoạn trước, những nhân vật như Kiều, Hoạn Thư, Thúc Sinh cũng được Nguyễn Du miêu tả ở nhiều góc độ, với nhiều phẩm chất khác nhau chứ không phải chỉ có một phẩm chất chính diện hoặc phản diện.

Xem xét chức năng và vị trí của nhân vật trong tác phẩm, có thể chia thành các loại nhân vật: nhân vật chính, nhân vật trung tâm, nhân vật phụ.

là nhân vật giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức và triển khai tác phẩm. Ở đây, nhà văn thường tập trung miêu tả, khắc họa tỉ mỉ từ ngoại hình, nội tâm, quá trình phát triển tính cách của nhân vật. Qua nhân vật chính, nhà văn thường nêu lên những vấn đề và những mâu thuẫn cơ bản trong tác phẩm và từ đó giải quyết vấn đề, bộc lộ cảm hứng tư tưởng và tình điệu thấm mĩ.

Nhân vật chính có thể có nhiều hoặc ít tùy theo dung lượng hiện thực và những vấn đề đặt ra trong tác phẩm. Với những tác phẩm lớn có nhiều nhân vật chính thì nhân vật chính quan trọng nhất xuyên suốt toàn bộ tác phẩm được gọi là . Trong không ít trường hợp, nhà văn dùng tên nhân vật trung tâm để đặt tên cho tác phẩm. Ví dụ: Đông Kisot của Cervantes, Anna Karenina của L.Tônxtôi, A.Q chính truyện của Lỗ Tấn, Truyện Kiều của Nguyễn Du…

phải góp phần hỗ trợ, bổ sung cho nhân vật chính nhưng không được làm mờ nhạt nhân vật chính. Có nhiều nhân vật phụ vẫn được các nhà văn miêu tả đậm nét, có cuộc đời và tính cách riêng, cùng với những nhân vật khác tạo nên một bức tranh đời sống sinh động và hoàn chỉnh.

Có thể phân thành các nhân vật: nhân vật trữ tình, nhân vật tự sự và nhân vật kịch. Từ góc độ chất lượng miêu tả có thể phân thành các loại: nhân vật, tính cách, điển hình.

là những con người nói chung được miêu tả trong tác phẩm. Nhà văn có thể chỉ mới nêu lên một vài chi tiết về ngôn ngữ, cử chỉ, hành động…cũng có thể miêu tả kĩ và đậm nét.

là nhân vật được khắc họa vời một chiểu sâu bên trong. Nó như một điểm qui tụ mà từ đó có thể giải thích được mọi biểu hiện muôn màu, muôn vẻ sinh động bên ngoài của nhân vật.

là tính cách đã đạt đến độ thực sự sâu sắc, là sự thống nhắt giữa cái chung và cái riêng, cái khái quát và cái cá thể…Nói một cách nghiêm ngặt, thuật ngữ này chỉ được áp dụng từ chủ nghĩa hiện thực phê phán trở về sau.

Ngoài những loại nhân vật được trình bày, có thể nêu lên một số khái niệm khác về nhân vật qua các trào lưu văn học khác nhau. Chẳng hạn, khái niệm nhân vật bé nhỏ trong văn học hiện thực phê phán, khái niệm nhân vật con vật người trong chủ nghĩa tự nhiên, nhân vật phi nhân vật trong các trào lưu văn học hiện đại chủ nghĩa ở phương Tây..

Có nhiều biện pháp khác nhau trong việc xây dựng nhân vật. Ở đây chỉ xét một số biện pháp chung, chủ yếu nhất: miêu tả nhân vật qua ngoại hình, nội tâm, ngôn ngữ và hành động.

Ngoại hình là dáng vẻ bên ngoài của nhân vật bao gồm y phục, cử chỉ, tác phong, diện mạo…Đây là yếu tố quan trọng góp phần cá tính hóa nhân vật.

Nếu như văn học cổ thường xây dựng ngoại hình nhân vật với những chi tiết ước lệ, tượng trưng thì văn học hiện đại thường đòi hỏi những chi tiết chân thực và cụ thể sinh động. M.Gorki khuyên các nhà văn phải xây dựng nhân vật của mình đúng như những con người sống và phải tìm thấy, nêu lên, nhấn mạnh những nét riêng độc đáo, tiêu biểu trong dáng điệu, nét mặt, nụ cười, khóe mắt…của nhân vật.

Ngoại hình nhân vật cần góp phần biểu hiện nội tâm. Đây cũng chính là sự thống nhất giữa cái bên ngoài và cái bên trong của nhân vật. Vì vậy, khi tính cách, đời sống bên trong của nhân vật thay đổi, nhiều nét bên ngoài của nhân vật cũng thay đổi theo.

Khi xây dựng ngoại hình nhân vật, nhà văn cần thể hiện những nét riêng biệt, cụ thể của nhân vật nhưng qua đó, người đọc có thể nắm bắt được những đặc điểm chung của những người cùng nghề nghiệp, tầng lớp, thời đại…Những nhân vật thành công trong văn học từ xưa đến nay cho thấy nhà văn bao giờ cũng chọn lựa công phu những nét tiêu biểu nhất để khắc họa nhân vật.

Khái niệm nội tâm nhằm chỉ toàn bộ những biểu hiện thuộc cuộc sống bên trong của nhân vật. Đó là những tâm trạng, những suy nghĩ, những phản ứng tâm lí… của nhân vật trước những cảnh ngộ, những tình huống mà nó gặp phải trong cuộc đời.

Trong quá trình phát triển của lịch sử văn học, việc thể hiện nhân vật qua nội tâm ngày càng có vai trò quan trọng. Trong văn học Việt Nam, so với các giai đoạn trước. Truyện Kiều của Nguyễn Du đã đạt đuợc những thành tựu rực rở. Tác phẩm chứng tỏ Nguyễn Du có khả năng nắm bắt một cách tài tình những ý nghĩ, tình cảm sâu kín của nhân vật và diễn tả nó một cách sinh động.

Sự biểu hiện hợp lí và sâu sắc nội tâm góp phần rất lớn tạo nên sức sống của nhân vật. Nói như L.Tônxtôi: “Mục đích chính của nghệ thuật…là nói lên sự thật về tâm hồn con người, nói lên những điều bí ấn không thể diễn tả bằng ngôn ngữ thông thường được”. Để làm được điều đó, nhà văn phải hiểu sâu sắc cuộc sống và con người, nắm bắt được những biểu hiện và diễn biến dù nhỏ nhặt nhất đời sống bên trong của nhân vật.

Khái niệm ngôn ngữ nhân vật nhằm chỉ những lời nói của nhân vật trong tác phẩm. Lời nói đó phản ánh kinh nghiệm sống cá nhân, trình độ văn hóa, tư tưởng, tâm lí, thị hiếu…Đằng sau mỗi câu câu nói của mỗi con người đều có lịch sử riêng của nó. Sêđrin cho rằng: “Từ cửa miệng một người nói ra không hề có lấy một câu nào mà lại không thể truy nguyên đến cái hoàn cảnh đã khiến cho nó xuất hiện… Trong cuộc song, không thể có những hành động, những câu nói mà đàng sau lại không có một lịch sử riêng”. Quả là trong cuộc sống không thể có những người nói hoàn toàn giống nhau, vì vậy nhà văn cần phát hiện những nét riêng của ngôn ngữ nhân vật để thể hiện trong tác phẩm.

Trong các tác phẩm tự sự nói chung, lời nói của nhân vật thường chiếm tỉ lệ ít hom so với ngôn ngữ người kể chuyện nhưng lại có khả năng thể hiện sinh động và khêu gợi cho người đọc hình dung về bản chất, tính cách của nhân vật. Trong đoạn báo ân, báo oán của Truyện Kiều, mặc dù đang hồn lạc phách xiêu, Hoạn Thư vẫn biết lựa điều kêu ca:

Những lời nói trên hoàn toàn phù hợp với con người khôn ngoan, thông minh, lanh lợi, của Hoạn Thư. Trong tình thế nguy ngập, Hoạn Thư đã biết lựa lời mà nói, phân trần, khơi gợi lòng thương ở Thúy Kiều. Rõ thực, nàng rất hiểu Thúy Kiều, nói lời vừa đủ. Kết quả, Hoạn Thư đã đạt đến mục đích của mình.

Trong các trào lưu văn học hiện thực, việc cá thể hóa nhân vật qua ngôn ngữ nhân vật được nhà văn đặc biệt quan tâm và được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau. Chẳng hạn, nhà văn có thể để cho nhân vật lặp đi lặp lại nhiều lần một số từ hoặc một số câu mà nhân vật thích (Biết rồi, khổ lắm, nói mãi của cụ cố Hồng trong số đỏ của Vũ Trọng Phụng), có thể để nhân vật sử dụng một số từ địa phương, từ nước ngoài, cách phát âm sai…nhưng dù sử dụng cách nào, ngôn ngữ của nhân vật cũng phải có sự chọn lọc nhằm đạt đến sự thống nhất giữa cá thể hóa và khái quát hóa, đồng thời cùng phải phù hợp với hoàn cảnh và tính cách của nhân vật.

Với dáng đi ngật ngưỡng và lời chửi của Chí Phèo rõ thực không lẫn với ai được. Nam Cao chỉ bằng khắc họa ngôn ngữ của nhân vật đã có thể làm toát rõ bản chất của nhân vật chứ không cần dụng công đến bất cứ phương diện nào khác.

Hành động nhân vật là khái niệm nhằm chỉ các việc làm của nhân vật. Đây là phương diện đặc biệt quan trọng để thể hiện tính cách nhân vật vì việc làm của mỗi người là căn cứ quan trọng có ý nghĩa quyết định nói lên tư cách, lí tưởng, phẩm chất cũng như những đặc điểm thuộc về thế giới tinh thần của người đó. Hơn nữa, trong các tác phẩm tự sự, tính cách nhân vật không phải ngay từ đầu đã được hình thành trọn vẹn. Chính hành động có tác dụng bộc lộ quá trình phát triển của tính cách và thúc đẩy sự diễn biến của hệ thống cốt truyện…Thông qua các mối quan hệ, sự đối xử giữa các nhân vật trong những tình huống khác nhau, người đọc có thể xác định được những đặc điểm, bản chất của nhân vật.

Thông thường, khi miêu tả hành động nhân vật, nhà văn thường kết hợp với những biểu hiện nội tâm tương ứng vì đằng sau mỗi hành động, bao giờ cũng có một tâm trạng hoặc một động cơ nào đó. Dùng nội tâm để lí giải hành động, sử dụng hành động để làm sáng tỏ nội tâm là một hiện tượng phổ biến trong việc miêu tả nhân vật.

Các Nhân Vật Trong Game Ma Sói

Lấy ví dụ : bạn là dân làng, bạn vẫn có thể troll mình là người có chức năng đặc biệt nào đó trong làng để dân làng tin bạn và bảo vệ bạn. (tất nhiên lúc đó những con sói sẽ dòm ngó bạn là cái chắc). Thậm chí bạn có thể tạo ra sóng gió nếu ai đó trong dân tự nhận năng lực đặc biệt của mình và bạn tự mình nhận năng lực đó. Phe dân thì rối rít chẳng biết tin ai, những lập luận trước kia về sói bị phá vỡ, dân chia phe chia phái bên tin bên không tin. Còn phe của sói thì há hốc mồm chữ 0 chữ a vì không biết lũ dân làng đang làm trò gì. Và nếu nó đưa ra quyết định giết người sai, nó sẽ phải trả giá cho chính bản thân mình vì bị lộ diện.

Nhưng cũng có thể là con dao 2 lưỡi, vì sói có thể dựa vào điều ấy để chơi trò ly gián giữa dân làng với nhau, khiến dân làng tin tưởng 1 trong hai là sói để giết hại dân của mình. Còn sói thì ngư ông đắt lợi.

Tiên tri/ thầy bói (Teller Seer) – Trong đêm tối, khi dân làng đi ngủ, chức năng này sẽ được quản trò gọi dậy và được chỉ tay (vì nếu bạn mở miêng nói, sói sẽ biết bạn là ai và đêm hôm sau nó sẽ cắn chết bạn ngay. Bạn là 1 trong những mối nguy hại lớn nhất của sói, nên nó phải tìm ra bạn để giết chết nhau ở những turn đầu tiên) vào bất kì người chơi nào tham gia trò chơi để hỏi quản trò người đó có phải là sói hay không.

– Nếu người đó đúng là sói, quản trò sẽ ra hiệu cho bạn biết. – Nếu người đó không phải sói, quản trò sẽ ra hiệu lắc nhẹ tay để thông báo cho bạn biết.

– Đây là chức năng duy nhất biết được trong số dân làng qua từng turn chơi là người hay sói. Nếu giữ chức năng này, hãy lựa chọn thời điểm khôn ngoan để tiết lộ mình cho mọi người, và dựa vào chức năng của mình để thông báo cho cả làng biết ai là sói, ai là dân làng qua số turn tiên đoán của mình để từ đó giúp cho dân làng tìm ra những con sói giết chết chúng, kết thúc trò chơi.

– Cũng nên cẩn thận những con sói sẽ phản biện lại mình và giả dạng chính mình, bạn nên tạo lòng tin từ mọi người và xây dựng cho mình bài biện luận hay thuyết phục nhất. Cũng đừng nên dại mà lộ thân phận quá sớm nếu bạn không muốn làm mồi cho sói. – Chức năng này bị mất khi Già làng bị giết.

Ở bài post của Cá Ngố, Thợ săn có 2 súng, súng trắng và súng đen, nhưng với luật cơ bản của Mỹ. Thì chức năng của Thợ săn chỉ có 1, đó là dù “Thợ săn chết vì bất kỳ lí do gì, thì sẽ được quyền chọn 1 người chết theo mình”

Hunter:

A regular villager until you die by any means, at this point you will be allowed to kill another player of your choice and take them down with you.

– Chức năng của lá bài này là nhân vật phù thủy, có 1 bình thuốc cứu người và 1 bình thuốc độc giết người. Hai lọ thuốc này chỉ được sử dụng 1 lần duy nhất. Nghĩa là nếu đã sử dụng lọ thuốc cứu người, phù thủy sẽ không còn lọ thuốc cứu người nữa, và ngược lại đối với lọ thuốc giết người. Trong lượt chơi 1 đêm bất kì của mình, phù thủy có quyền sử dụng 2 lọ thuốc cùng 1 lúc, hoặc dùng 1 trong 2, hoặc không dùng lọ nào.

– Trong đêm, Quản trò gọi phù thủy dậy và cho phù thủy biết ai là người bị giết (nếu phù thủy chưa sử dụng bình thuốc cứu người). Quản trò sẽ hỏi phủ thủy có quyết định cứu người này hay không, nếu cứu thì giơ tay ra dấu, còn không thì lắc tay. Và sẽ hỏi nếu phù thủy muốn giết 1 ai đó, thì chỉ thẳng tay về phía người mình muốn giết.

– Trong đêm đầu tiên, quản trò gọi cupid dậy để cupid bắt cặp 2 người yêu nhau tạo ra 1 team mới nếu team đó rơi vào sói và dân thường. Và chỉ được bắt cặp 1 lần duy nhất trong suốt lần chơi đó. 2 người yêu nhau sẽ được thông báo mở mắt nhìn mặt nhau khi cupid đi ngủ bằng cách gõ nhẹ vào đầu.

– 2 người yêu nhau sẽ cho nhau biết chức năng của mình, và nếu 1 trong 2 là sói, họ sẽ tự hiểu ngầm mình là phe thứ 3 và bắt đầu trò chơi họ sẽ luôn bảo vệ nhau, bởi vì nếu 1 trong 2 chết đi vì bất cứ lý do gì (phù thủy cho thuốc độc, thợ săn bắn, sói cắn, dân làng treo cổ) thì người kia sẽ chết theo.

Tên trộm (Thief) – Nếu game xuất hiện chức năng này, người này sẽ được quản trò gọi dậy đầu tiên.

– Quản trò buộc phải chia dư số lượng quân bài là 2 lá bài trên tổng số người chơi. Ví dụ như số lượng người chơi là 15, quản trò phải chia 17 lá. Để khi người chơi giữ chức năng này sẽ được gọi dậy vài chọn 1 trong 2 chức năng còn lại của 2 lá bài còn dư đó

– Sau khi chọn chức năng cho mình, quản trò sẽ đổi lá bài đó cho trộm và họ sẽ chơi đến cuối trò chơi với chức năng mới của mình.

Điểm thú vị ở chức năng trộm này đó người này là người duy nhất biết 2 lá bài còn dư là gì. Giả sử 2 lá còn dư là sói và tiên tri, hay phù thủy, hay bảo vệ, … Lúc đó, con sói nhà ta sau khi nhận chức năng mới của mình sẽ biết được 1 trong các chức năng đặc biệt của dân làng không hề tồn tại, nó sẽ dựa vào để giả danh các chức năng đó đánh lừa dân làng (vì rõ ràng chẳng ai dám nhận mình là chức năng đó trong khi họ ko có giữa trong mình, mà chỉ có con sói tinh ranh mới biết chức năng đó không hề có trong trò chơi mà thôi)

Điều tiếp theo, nếu trộm biết 2 lá bài là dân, thì rõ ràng, dù ít hay nhiều, phe dân cũng đang thiệt vì lượng dân làng ít nhiều cũng đã mất đi 1, đó là 1 lợi thế cho phe sói.

Ma sói/Sói (Werewolf) – Đây là sói giả danh người, được gọi dậy vào mỗi đêm để chọn cho mình 1 nạn nhân bất kì.

– Trò chơi kết thúc khi số lượng sói bị giết hết hoặc số sói bằng số dân làng thì sói thắng. Chức năng này thì ai cũng rõ, mình không nói nhiều về chức năng này ở đây. Nếu bạn là 1 ma sói/sói, hãy biết phán đoán đúng thời cơ để giết chết 1 trong những nhân vật đặc biệt rồi giả danh họ khi cần thiết, hoặc tạo lòng tin với dân làng bằng khả năng tự bào chữa cho mình, thậm chí phối hợp cùng với đồng đội để lừa gạt dân làng.

Cô gái/ Cô bé mắt ti hí (Little Girl) – Đây là người sẽ được dùng chức năng của mình trong đêm thứ 2 kể từ khi trò chơi bắt đầu. Trong đêm quản trò gọi sói dậy, … người này được quyền hí mắt để nhìn xem sói là ai. Tuy nhiên, nếu bạn hí quá lộ liễu, sói sẽ giết chết bạn ngay.

– Chức năng này không được quản trò gọi dậy hay nhắc nhở, mà phải luôn nhớ là kể từ đêm thứ 2, khi quản trò gọi sói dậy thì mình được phép hí mắt. Sau khi sói đi ngủ, mình cũng phải ngủ theo. Vì khi gọi các chức năng khác mà người này vẫn hí mắt thì sẽ bị loại khỏi game.

– Đây là người duy nhất mà bảo vệ không được quyền bảo vệ trong suốt trò chơi. Nghĩa là đây là người duy nhất mà chức năng bảo vệ biết rõ là ai. Còn việc bảo vệ có tiết lộ hay không thì tùy vào chiến thuật chơi của từng người, thậm chí bên phe sói khi chắc chắn giết được bảo vệ với ti hí rồi cũng lần phối hợp với đồng đội mình giả danh họ (nếu có thể)

– Nếu bạn là ti hí, hãy ti hí cho khôn khéo kẻo bị sói phát hiện mà giết liền, vì chỉ có bạn hí mắt thôi, ai cũng nhắm mắt ngủ hết mà. – Nếu bạn là sói, hãy tìm ra ti hí ngay đêm thứ 2, 3 hoặc dùng 1 sói làm mồi nhử ti hí trong khi bên mình cũng hí mắt để ti hí hí mắt và bị phát hiện ra (bởi bên phe sói đã biết rõ đồng đội của mình ở đêm thứ nhất khi quản trò gọi dậy – lúc đó ti hí chưa được quyền hí mắt, nếu ti hí hí mắt, bị loại khỏi game)

– Đây là nhân vật có chức năng: Tránh được 1 lần cắn của sói ( tức là sói phải cắn 2 lần thì Già làng mới chết), còn khi bị treo cổ, phù thủy quăng bình giết, thợ săn bắn thì Già làng vẫn chết.

– Khi già làng chết, các chức năng trong làng bao gồm : cô gái, bảo vệ, tiên tri, phù thủy, … bị mất tác dụng trở thành 1 dân làng bình thường. Do đó, việc bảo vệ già làng cũng khá quan trọng.

Đây là chức năng được gọi dậy mỗi đêm để bảo vệ bất kì 1 người bị nghi là sói cắn (thậm chí được bảo vệ chính mình) và nếu bảo vệ đúng, hôm sau sẽ vẫn sống (trường hợp bị phù thủy ném thuốc độc thì vẫn chết).

– Bảo vệ không được quyền bảo vệ 1 người trong 2 đêm liên tiếp, thậm chí không bảo vệ ai cũng được. – Chức năng này chỉ bị mất khi già làng chết.

Lá bài này có chức năng là đội trưởng – số lượng vote của người này tính 2 và khi xảy ra trường hợp huề, người này được quyền ra quyết định cuối cùng.

Nếu người này bị giết với bất kì lý do nào, quyền đội trưởng sẽ được chỉ người này chỉ định cho 1 người chơi bất kì còn sống (ở bản new moon là giao lại cho người chơi bên tay trái của họ)

Thằng Ngơ (Villager Idiot)

– Chức năng là một dân làng bình thường, nếu bị sói cắn, thợ săn bắn hay phù thủy cho thuốc độc người chơi vẫn chết như 1 dân làng bình thường. Còn nếu bị dân làng treo cổ : quản trò sẽ lật ngửa lá bài. Thằng Ngơ vẫn sống, nhưng sẽ không được biểu quyết từ lúc lật bài cho đến cuối trò chơi. Còn nếu nó chết trong đêm (bất kì lý do gì) thì sẽ ko có gì xảy ra.

Ps: Cái này để giữ lại thêm 1 dân làng cho dân thôi, kiểu chơi này khá chán, chẳng ai muốn bất tử mà chỉ ngồi đi ngủ mà không được quyền ý kiến, quyền bỏ phiếu treo cổ ai nhỉ? Nhưng thật ra chính vì vậy nên Sói thường sẽ không cắn Thằng Ngơ, đó cũng là 1 lợi thế dành cho dân nếu biết tận dụng gã ^_^

– Chức năng của oan nhân là khi mọi người biểu quyết phiếu hòa thì oan nhân sẽ chết, và khi chết vì phiếu hòa thì sẽ chỉ định 1 người để đưa lên giàn treo, người bị oan nhân chỉ sẽ không được phản biện hay nói gì nữa, mà mọi người sẽ bỏ phiếu để cứu hoặc giết người đó ngay. Nếu phiếu cứu nhiều hơn thì người đó sống, còn ngược lại thì người đó chết, nếu huề thì thôi.

Ngoài luồng : chức năng này theo 1 số dị bản mình thấy người ta chơi là – Nếu nhân vật này bị chết trong đêm vì bất kì lý do gì thì đêm sau mọi người sẽ chỉ được biết người chết và rồi đi ngủ sau đó. Nhưng nếu nó bị mọi người treo cổ thì nó sẽ đươc chọn 1 người để lên bàn nghi vấn vào sáng hôm sau. Tức là hôm sau dân làng khỏi cần nghi ai cả, người bị nó chỉ định trước lúc chết sẽ phải tự bào chữa cho mình.

– Mỗi đêm, nó sẽ mê hoặc 2 người chơi bất kì và sau đó đi ngủ. Quản trò sẽ gõ đầu 2 người bị mê hoặc để họ biết mặt nhau rồi cũng đi ngủ nốt. Nếu người chơi mê hoặc được hết số dân làng còn sống (bao gồm sói) thì người chơi này thắng game. – Trường hợp kẻ phản bội mê hoặc trúng già làng, sáng hôm sau nó sẽ được quản trò thông báo chết.

Thế Nào Là Sinh Vật Nhân Chuẩn? Đặc Điểm Tế Bào Sinh Vật Nhân Chuẩn

1. Thế nào là sinh vật nhân chuẩn?

Sinh vật nhân chuẩn, còn gọi là sinh vật nhân thực, sinh vật nhân điển hình hoặc sinh vật có nhân chính thức, danh pháp: Eukaryota hay Eukarya là một sinh vật gồm các tế bào phức tạp, trong đó vật liệu di truyền được sắp đặt trong nhân có màng bao bọc. Eukaryote là chữ Latin có nghĩa là có nhân thật sự.

Cấu tạo của tế bào nhân thực

Sinh vật nhân chuẩn gồm có động vật thực vật và nấm – hầu hết chúng là sinh vật đa bào – cũng như các nhóm đa dạng khác được gọi chung là nguyên sinh vật. Trái lại, các sinh vật khác, chẳng hạn như vi khuẩn không có nhân và các Cấu trúc tế bào phức tạp khác; những sinh vật như thế được gọi là sinh vật tiền nhân hoặc sinh vật nhân sơ. Sinh vật nhân chuẩn có cùng một nguồn gốc và thường được xếp thành một siêu giới hoặc vực.

Các sinh vật này thường lớn gấp 10 lần so với sinh vật nhân sơ do đó gấp khoảng 1000 lần về thể tích. Khi so sánh điểm khác biệt quan trọng giữa sinh vật nhân sơ và sinh vật nhân thực là tế bào nhân thực có các xoang tế bào được chia nhỏ do các lớp màng tế bào để thực hiện các hoạt động trao đổi chất riêng biệt. Trong đó, điều tiến bộ nhất là việc hình thành nhân tế bào có hệ thống màng riêng để bảo vệ các phân tử ADN của tế bào.

2. Đặc điểm tế bào sinh vật nhân chuẩn

Tế bào sinh vật nhân chuẩn thường có những cấu trúc chuyên biệt để tiến hành các chức năng nhất định, gọi là các bào quan.

Cấu trúc của tế bào sinh vật nhân chuẩn rất chuyên biệt

Các đặc trưng gồm:

– Tế bào chất của sinh vật nhân chuẩn thường không nhìn thấy những thể hạt như ở sinh vật nhân sơ vì rằng phần lớn ribosome của chúng được bám trên mạng lưới nội chất.

– Màng tế bào cũng có cấu trúc tương tự như ở sinh vật nhân sơ tuy nhiên thành phần cấu tạo chi tiết lại khác nhau một vài điểm nhỏ. Chỉ một số tế bào sinh vật nhân chuẩn có thành tế bào.

– Vật chất di truyền trong tế bào sinh vật nhân chuẩn thường gồm một hoặc một số phân tử ADN mạch thẳng, được cô đặc bởi các protein histone tạo nên cấu trúc nhiễm sắc thể Mọi phân tử ADN được lưu giữ trong nhân tế bào với một lớp màng nhân bao bọc. Một số bào quan của sinh vật nhân chuẩn có chứa ADN riêng.

– Một vài tế bào sinh vật nhân chuẩn có thể di chuyển nhờ tiêm mao hoặc tiên mao. Những tiên mao thường có cấu trúc phức tạp hơn so với sinh vật nhân sơ.

Bạn đang xem bài viết Nhân Vật Trong Tác Phẩm Văn Học trên website 3mienmoloctrungvang.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!