Xem Nhiều 2/2023 #️ Quản Trị Sản Xuất: Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Tới Năng Suất # Top 3 Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Xem Nhiều 2/2023 # Quản Trị Sản Xuất: Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Tới Năng Suất # Top 3 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Quản Trị Sản Xuất: Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Tới Năng Suất mới nhất trên website 3mienmoloctrungvang.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Quản trị sản xuất: Các nhân tố ảnh hưởng tới năng suất

Năng suất sản xuất là yếu tố sống còn trong quản trị sản xuất. Vì vậy, các doanh nghiệp sản xuất luôn tìm kiếm các phương pháp cải tiến mới nhằm gia tăng năng suất sản xuất. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới năng suất, nhưng đặt trọng tâm vào cải tiến yếu tố nào thì lại tùy thuộc vào quyết định của mỗi doanh nghiệp. 

Quản trị sản xuất gắn liền với việc nâng cao năng suất và đánh giá năng suất đạt được của từng khâu, từng bộ phận cũng như của toàn bộ dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp. Năng suất là tiêu chuẩn phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả của hoạt động quản lý sản xuất và tác nghiệp. Năng suất trở thành nhân tố quan trọng nhất đánh giá khả năng cạnh tranh của hệ thống sản xuất trong mỗi doanh nghiệp, đồng thời cũng thể hiện trình độ phát triển của các doanh nghiệp, các quốc gia. Về mặt toán học, năng suất là tỷ số giữa đầu ra và những yếu tố đầu vào được sử dụng để tạo ra đầu ra đó. Đầu ra có thể là tổng giá trị sản xuất hoặc giá trị gia tăng, hoặc khối lượng hàng hoá tính bằng đơn vị hiện vật. Đầu vào được tính theo các yếu tố tham gia để sản xuất ra đầu ra, đó là lao động, nguyên vật liệu, thiết bị máy móc,… Việc chọn đầu vào và đầu ra khác nhau sẽ tạo ra các mô hình đánh giá năng suất khác nhau.  ➡️ Hướng dẫn sử dụng phần mềm quản lý sản xuất Odoo ERPViet Năng suất được sử dụng để đánh giá chung cho tất cả các yếu tố và cho từng yếu tố đầu vào. Nó được lượng hoá thông qua những con số cụ thể, phản ánh mức hiệu quả của việc khai thác sử dụng các yếu tố đầu vào. Tuy nhiên ngoài những yếu tố có thể lượng hoá được năng suất cần được đánh giá đầy đủ về mặt định tính như tính hữu ích của đầu ra, mức độ thoả mãn người tiêu dùng, mức độ đảm bảo những yêu cầu về xã hội gồm bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên, ít gây ô nhiễm,… Khái niệm năng suất phản ánh tính lợi nhuận, tính hiệu quả, sự đổi mới và chất lượng hoạt động của doanh nghiệp. Chỉ tiêu năng suất cho doanh nghiệp biết được trình độ và chất lượng của hoạt động quản trị sản xuất, đồng thời là cơ sở để xem xét việc trả công cho người lao động sau mỗi quá trình sản xuất. Vì vậy, việc tính toán năng suất có ý nghĩa rất quan trọng trong quản trị sản xuất của các doanh nghiệp.  Đối với các doanh nghiệp sản xuất, năng suất là yếu tố sống còn. Vậy yếu tố nào ảnh hưởng đến năng suất? Doanh nghiệp có thể tác động đến yếu tố nào để cải thiện năng suất sản xuất sản phẩm?

Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất

Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất chia thành hai nhóm chủ yếu:

Nhóm nhân tố bên ngoài: bao gồm môi trường kinh tế thế giới, tình hình thị trường, cơ chế chính sách kinh tế của nhà nước. Thông thường, doanh nghiệp rất khó để tác động lên nhóm nhân tố bên ngoài. Tuy nhiên, doanh nghiệp có thể tìm cách để tận dụng tốt nhóm nhân tố này nhằm hỗ trợ tối đa cho doanh nghiệp trong việc phát triển sản xuất kinh doanh. 

Nhóm nhân tố bên trong: bao gồm nguồn lao động, vốn, công nghệ, tình hình và khả năng tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất. Có thể biểu diễn sự tác động của các nhân tố này theo sơ đồ sau:

Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất sản xuất

Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất sản xuất

 

Thông thường các doanh nghiệp thường tìm cách để điều chỉnh các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất đến từ bên trong. Đây là các yếu tố dễ tác động và đem lại hiệu quả cao. Đối với các yếu tố bên ngoài, nếu biết tận dụng tốt, doanh nghiệp sẽ sở hữu những lợi thế lớn so với các doanh nghiệp khác trong ngành. 

Biện pháp nâng cao năng suất trong quản trị sản xuất

Năng suất phụ thuộc chặt chẽ vào khả năng thiết kế và quản lý điều hành hệ thống sản xuất. Do vị trí vai trò của năng suất hết sức quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường nên nâng cao năng suất là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong quản trị sản xuất. Một số biện pháp hoàn thiện quản trị sản xuất nhằm nâng cao năng suất gồm:

Xây dựng hệ thống các chỉ tiêu và thước đo năng suất đối với tất cả các hoạt động tác nghiệp. Đây là nhiệm vụ quan trọng nhưng hiện nay Việt nam vẫn chưa có hệ thống chỉ tiêu thống nhất đánh giá năng suất theo cách tiếp cận mới, hội nhập với khu vực và thế giới.

Xác định rõ mục tiêu hoàn thiện năng suất trong sản xuất. Căn cứ vào hệ thống sản xuất hiện tại và tình hình thực hiện các mục tiêu kế hoạch sản xuất để lựa chọn mục tiêu hợp lý. Mục tiêu phải lượng hoá được bằng các con số cụ thể, có tính khả thi nhưng thể hiện sự phấn đấu vươn lên trong mối quan hệ chặt chẽ với các đối thủ cạnh tranh khác. Mỗi thành viên cần hiểu rõ mục tiêu, năng suất đặt ra để có kế hoạch hành động thích hợp.

Phân tích, đánh giá quá trình sản xuất phát hiện những khâu yếu nhất – “nút cổ chai” để có những biện pháp khắc phục. Đây là khâu quyết định đến năng suất của toàn bộ hệ thống sản xuất. Tìm kiếm và phát hiện khâu yếu nhất là công việc đòi hỏi phải có sự nghiên cứu thận trọng, đánh giá tất cả các khâu, các bộ phận, về khả năng kỹ thuật, thiết bị, con người, nguyên liệu và sự phối hợp đồng bộ giữa các nhân tố này.

Tăng cường các biện pháp và phương pháp khuyến khích động viên người lao động như các nhóm lao động, nhóm chất lượng.

Định kỳ đánh giá kết quả của các biện pháp hoàn thiện tăng năng suất và công bố rộng rãi, khen thưởng kịp thời.

Áp dụng linh hoạt phần mềm quản lý sản xuất

ERPViet

Đặc Điểm Chất Lượng Và Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Tới Báo Cáo Tài Chính

Báo cáo tài chính là sản phẩm của kế toán tài chính, là đầu ra của hệ thống thông tin kế toán. Nguồn: internet

Đặc điểm chất lượng của báo cáo tài chính

Theo Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IASB) và Ủy ban Chuẩn mực Kế toán Tài chính (FASB), các đặc điểm chất lượng của thông tin tài chính hữu ích được phân ra thành các đặc điểm chất lượng cơ bản và các đặc điểm chất lượng bổ sung. Các đặc điểm chất lượng cơ bản gồm: Thích hợp và trình bày trung thực; Các đặc điểm chất lượng bổ sung gồm: Có thể so sánh; có thể kiểm chứng; kịp thời và có thể hiểu.

Trình bày trung thực: Thông tin được trình bày trung thực khi nó mô tả đầy đủ, trung lập và không mắc lỗi (IASB, 2010a). Thông tin đầy đủ bao gồm tất cả các thông tin cần thiết cho người sử dụng hiểu được các hiện tượng, bao gồm tất cả các mô tả và giải thích cần thiết. Đối với một số khoản mục, thông tin đầy đủ cũng đòi hỏi có sự giải thích các sự kiện quan trọng về chất lượng và tính chất của khoản mục, các yếu tố và điều kiện ảnh hưởng đến bản chất của khoản mục.

Thông tin trung lập khi không có sự thiên vị trong việc lựa chọn hoặc trình bày, không bị thiên lệch nhằm đạt đến một kết quả định trước hay chịu ảnh hưởng của một thái độ cá biệt. Trình bày trung thực không có nghĩa là chính xác trong tất cả các khía cạnh. Không mắc lỗi có nghĩa là không có sai sót hoặc thiếu sót trong các mô tả và quy trình soạn thảo thông tin.

Các đặc điểm chất lượng bổ sung

Có thể so sánh, có thể kiểm chứng, kịp thời và có thể hiểu là những đặc điểm chất lượng nhằm nâng cao tính hữu ích của thông tin thích hợp và được trình bày trung thực tại báo cáo tài chính (BCTC).

Có thể kiểm chứng: Có thể kiểm chứng giúp đảm bảo với người sử dụng rằng những thông tin trình bày trung thực đối với các hiện tượng kinh tế. Có thể kiểm chứng có nghĩa là những người quan sát và đánh giá đủ năng lực và độc lập khác nhau có thể đạt được sự đồng thuận, mặc dù không phải là hoàn toàn về việc thông tin được trình bày trung thực. Kiểm chứng có thể được thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp.

Kịp thời: Kịp thời có nghĩa là có thông tin có sẵn cho người sử dụng ra quyết định đúng lúc. Thông tin cũ thì kém hữu ích hơn, nếu báo cáo chậm trễ thì thông tin sẽ mất đi tính thích hợp. Tuy nhiên, một số thông tin có thể vẫn hữu ích lâu sau khi kết thúc kỳ báo cáo, bởi vì người sử dụng cần các thông tin để xác định và đánh giá xu hướng phát triển.

Có thể hiểu: Thông tin có thể hiểu nếu nó được phân loại, mô tả và trình bày rõ ràng, xúc tích. BCTC được trình bày cho người sử dụng là những người có những kiến thức nhất định về kinh doanh và hoạt động kinh tế cũng như có khả năng nhất định trong đánh giá và phân tích thông tin. Việc loại trừ những thông tin này ra khỏi BCTC có thể làm cho thông tin dễ hiểu hơn, tuy nhiên, điều này làm cho báo cáo trở nên không đầy đủ và do vậy, có thể gây hiểu nhầm.

Các nhân tố tác động đến báo cáo tài chính

Ảnh hưởng môi trường là chìa khóa để giải thích hệ thống kế toán của một quốc gia. Nói cách khác, kế toán là sản phẩm của môi trường của nó, nghĩa là, “nó được hình thành, phản ánh và củng cố đặc điểm riêng độc đáo với môi trường quốc gia của mình” Với góc độ nhận diện sự tồn tại và tác động của các nhân tố tác động đến hệ thống kế toán và BCTC bài viết tập trung xem xét 5 nhóm nhân tố tác động đáng kể đến hệ thống kế toán và BCTC, bao gồm: Nhân tố kinh tế; nhân tố chính trị; nhân tố pháp lý; nhân tố văn hóa và quá trình toàn cầu hóa.

Sự phát triển của kế toán là một quá trình phụ thuộc và đan xen với phát triển kinh tế. Nói cách khác, môi trường kinh tế có ảnh hưởng quan trọng đối với sự phát triển của kế toán (Zhang, 2005). Các yếu tố đặc trưng của một nền kinh tế, như: Cơ chế quản lý, hình thức sở hữu chủ đạo (tư nhân, nhà nước, nước ngoài), định hướng phát triển (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, tri thức), đặc điểm sản xuất kinh doanh, quy mô, đặc điểm của thị trường hàng hoá…Cùng với hình thức kinh doanh chiếm ưu thế và phổ biến trong hoạt động của các DN, sẽ tác động đến các chính sách kế toán và đối tượng kế toán, nhằm làm tương thích với bản chất các quan hệ kinh tế, đáp ứng yêu cầu ghi nhận, xử lý và cung cấp thông tin.

Nguồn cung ứng tài chính sẽ quyết định đối tượng chủ yếu sử dụng thông tin tài chính và do vậy, quyết định đặc điểm của thông tin tài chính được cung cấp.

Hệ thống chính trị xác định cơ chế kinh tế của một quốc gia, vì vậy, xác định mô hình kế toán cho nền kinh tế quản lý tập trung phải khác với hệ thống kế toán tối ưu cho một nền kinh tế thị trường. Nhân tố này còn được đề cập dạng các thể chế chính trị trong đó Nhà nước can thiệp nhiều hay ít vào nền kinh tế.

Hệ thống chính trị cũng phát triển ra bên ngoài và du nhập các chuẩn mực và thông lệ kế toán. Chẳng hạn như: Đức đã sử dụng chính trị để ảnh hưởng đến kế toán tại Nhật Bản và Thụy Điển. Trong những năm gần đây, nhân tố chính trị còn được đề cập dưới dạng các chính sách của quốc gia trong tiến trình hội nhập quốc tế.

Môi trường pháp lý có tác động mạnh mẽ đến hệ thống kế toán và BCTC tại các quốc gia. Doupnik and Salter (1992) đã nghiên cứu tác động của hệ thống pháp luật trên sự phát triển của hệ thống kế toán tại các quốc gia khác nhau và đưa ra giả thuyết rằng, sự khác biệt về hệ thống pháp luật của các nước khác nhau có thể giải thích sự khác biệt trong sự phát triển của hệ thống kế toán. Các nhân tố chủ yếu của môi trường pháp lý tác động đến hệ thống kế toán bao gồm: Hệ thống pháp luật; vai trò của Nhà nước và tổ chức nghề nghiệp; và pháp luật về thuế.

Điển luật là hệ thống pháp luật có nền tảng từ hệ thống pháp luật của Pháp, Đức, hiện được sử dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia trên thế giới. Đặc điểm của nó là sử dụng luật thành văn, dưới dạng các văn bản quy phạm pháp luật. Trong lĩnh vực kế toán, việc soạn thảo và trình bày BCTC được quy định chi tiết trong các đạo luật, thường là Luật Công ty hay Luật Thương mại.

Quá trình hòa hợp khu vực và quốc tế trong những năm gần đây cũng có những tác động đáng kể đến hệ thống kế toán và BCTC của các quốc gia. Kết quả của tiến trình toàn cầu hóa là sự gia tăng tính phụ thuộc của các quốc gia trong các luồng đầu tư và thương mại quốc tế, các quyết định về phân bổ nguồn lực, giá cả, các giao dịch quốc tế. Friedman (2005), trong “Thế giới phẳng” đã chỉ rõ, toàn cầu hóa đã thúc đẩy việc phát triển các quá trình kinh doanh được tiêu chuẩn hóa. Như vậy, quá trình toàn cầu đã dẫn đến nhu cầu phải có một tiêu chuẩn thống nhất trình bày và công bố thông tin về BCTC. Kết quả tất yếu của yêu cầu này là quá trình hòa hợp và hội tụ kế toán giữa các quốc gia trên thế giới.

Một số nhận xét

Thứ nhất, kế toán và sự phát triển của hệ thống kế toán và BCTC không tách rời mà phản ánh và tác động của môi trường kinh tế, chính trị, pháp lý và văn hóa tại mỗi quốc gia và khu vực. Các nhân tố này không độc lập mà có mối quan hệ với nhau khá chặt chẽ. Chẳng hạn, các quốc gia theo điển chế luật phần lớn có thị trường vốn không mạnh và kế toán có mối quan hệ với thuế, các giá trị kế toán thiên về hướng thận trọng, bảo mật, thống nhất và tuân thủ. Ngược lại, các quốc gia theo hướng thông luật có nguồn cung cấp vốn chủ yếu từ thị trường vốn, không có quan hệ chặt chẽ giữa kế toán và thuế, các giá trị kế toán thiên về hướng minh bạch, linh hoạt và phát triển nghề nghiệp.

Thứ hai, quá trình toàn cầu hóa trong những năm gần đây trở thành một nhân tố quan trọng, tác động mạnh đến hệ thống kế toán và BCTC của các quốc gia. Quá trình này một mặt tác động đến các nhân tố kinh tế, văn hóa, pháp lý, một mặt tạo ra nhu cầu phải có một tiêu chuẩn thống nhất trong trình bày và công bố thông tin về BCTC. Quá trình hòa nhập khu vực và quốc tế tuy không phải là nhân tố trực tiếp, song nó là yếu tố gián tiếp có tác động quan trọng đến hệ thống kế toán và BCTC tại nhiều quốc gia.

Thứ ba, việc xác định các nhân tố, phạm vi ảnh hưởng và khả năng tác động của nó đến hệ thống kế toán và BCTC cần được xem xét trong những điều kiện cụ thể của quá trình phát triển hệ thống kế toán tại từng quốc gia. Bởi lẽ, bản thân các nhân tố này thường xuyên thay đổi, có mối quan hệ đan xen với nhau và với nhiều nhân tố khác.

Tóm lại, bản chất của BCTC là đầu ra của hệ thống thông tin kế toán, cung cấp thông tin cho những người có quan hệ lợi ích với DN trong việc ra các quyết định kinh tế. Trong bối cảnh Việt Nam đang nỗ lực hội nhập kinh tế quốc tế, việc nghiên cứu các khái niệm, các luận điểm về BCTC cũng như quá trình áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế đối với hệ thống kế toán và BCTC tại các quốc gia, trong đó có Việt Nam có ý nghĩa quan trọng. Nghiên cứu này giúp hình thành một góc nhìn khách quan và khoa học, làm cơ sở đánh giá đúng thực trạng và đề ra các quan điểm, giải pháp phát triển, hoàn thiện hệ thống BCTC DN.

1. Bộ Tài chính (2001), Chuẩn mực kế toán, ban hành theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC; 2. Bộ Tài Chính (2002), Chuẩn mực kế toán, ban hành theo quyết định số 162/2002/QĐ-BTC; 3. Lê Hoàng Phúc (2014), Vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế để hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp trong điều kiện ở Việt Nam, Luận án Tiến sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh; 4. FASB (2008), SFAC 7- Using Cash Flow Information and Present Value in Accounting Measurements; 5. FASB (2010), Conceptual Framework for Financial Reporting.

Cấu Trúc Vốn Tối Ưu Và Nhân Tố Ảnh Hưởng

(i) tối đa hóa EPS,

(ii) tối thiểu hóa rủi ro

(iii) tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn.

Một công ty có thể có một cấu trúc vốn tối ưu bằng cách sử dụng đòn bẩy tài chính phù hợp. Như vậy Công ty có thể hạ thấp chi phí sử dụng vốn thông qua việc gia tăng sử dụng nợ (vì khi sử dụng nợ Công ty sẽ được hưởng lợi ích từ tấm chắn thuế). Tuy nhiên khi tỷ lệ nợ gia tăng thì rủi ro cũng gia tăng do đó nhà đầu tư sẽ gia tăng tỷ lệ lợi nhuận đòi hỏi rE. Mặc dù sự gia tăng rE lúc đầu cũng không hoàn toàn xóa sạch lợi ích của việc sử dụng nợ như là một nguồn vốn rẻ hơn cho đến khi nào nhà đầu tư tiếp tục gia tăng lợi nhuận đòi hỏi khiến cho lợi ích của việc sử dụng nợ không còn nữa.

Khi thiết lập, cấu trúc vốn tối ưu thường chiu ảnh hưởng của một số yếu tố sau:

Thứ nhất, rủi ro doanh nghiệp và thuế thu nhập doanh nghiệp: rủi ro phát sinh đối với tài sản của công ty ngay cả khi công ty không sử dụng nợ. Công ty nào có rủi ro doanh nghiệp càng lớn thì càng hạ thấp tỉ lệ nợ tối ưu. Do lãi vay là yếu tố chi phí trước thuế nên sử dụng nợ giúp công ty tiết kiệm thuế. Tuy nhiên điều này sẽ không còn ý nghĩa nữa đối với những công ty nào được ưu đãi hay vì lý do gì đó mà thuế thu nhập ở mức thấp.

Thứ hai,sự chủ động về tài chính: sử dụng nợ nhiều làm giảm đi sự chủ động về tài chính đồng thời làm xấu đi tình hình bảng cân đối kế toán khiến cho những nhà cung cấp vốn ngần ngại cho vay hay đầu tư vốn vào công ty.

Thứ ba, các tiêu chuẩn ngành: cấu trúc vốn giữa các ngành công nghiệp khác nhau rất nhiều. Các nhà phân tích tài chính, các Ngân Hàng đầu tư, các cơ quan xếp hạng trái phiếu, các nhà đầu tư cổ phần thường và các Ngân Hàng thương mại thường so sánh rủi ro tài chính của doanh nghiệp, đo lường bởi các tỷ số khả năng thanh toán lãi vay, khả năng thanh toán chi phí tài chính cố định và tỷ lệ đòn bẩy với các tiêu chuẩn hay định mức của ngành hoạt động. Tóm lại các nghiên cứu về tác động của ngành hoạt động đối với cấu trúc vốn thường đi tới kết luận là có một cấu trúc vốn tối ưu cho các doanh nghiệp cá thể.

Thứ tư, tác động của tín hiệu: khi doanh nghiệp phát hành chứng khoán mới, sự kiện này có thể được coi là đang cung cấp một tín hiệu cho thị trường tài chính về viễn cảnh tương lai của doanh nghiệp hay các hoạt động tương lai do các Giám đốc của doanh nghiệp hoạch định. Những tín hiệu do các thay đổi cấu trúc vốn cung cấp là đáng tin cậy vì nếu các dòng tiền tương lai không xảy ra, doanh nghiệp phải chịu số tiền phạt tức chi phí phá sản có thể có. Nói chung, các nghiên cứu về thay đổi cấu trúc vốn đều cho rằng việc cung ứng chứng khoán mới đưa tới các giá đáp ứng của chứng khoán giảm.

Việc mua lại cổ phần thường là sẽ đưa tới các lợi nhuận được công bố dương lớn từ cổ phần thường của doanh nghiệp. Các hành động làm tăng đòn bẩy tài chính thường gắn với thu nhập cổ phần dương và các hành động làm giảm đòn bẩy tài chính gắn với thu nhập cổ phần âm. Vì vậy khi một doanh nghiệp thực hiện quyết định thay đổi về cấu trúc vốn, doanh nghiệp phải chú ý đến tín hiệu có thể có về các viễn cảnh thu nhập tương lai và hiện tại của doanh nghiệp cũng như các dự định của các giám đốc mà giao dịch được đề xuất sẽ chuyển đến thị trường.

Thứ sáu, các hàm ý về quản trị của lý thuyết cấu trúc vốn: quyết định cấu trúc vốn là một trong những quyết định trọng tâm quan trọng mà các giám đốc tài chính phải quan tâm. Trước hết, hầu như chắc chắn rằng các thay đổi trong cấu trúc vốn sẽ đưa đến các thay đổi trong giá trị thị trường của doanh nghiệp. Thứ hai, lợi ích của tấm chắn thuế từ nợ đưa đến giá trị doanh nghiệp gia tăng, ít nhất là đến điểm mà chi phí đại lý và chi phí phá sản gia tăng làm bù trừ lợi thế về thuế của nợ. Thứ ba, cấu trúc vốn tối ưu chịu ảnh hưởng nặng nề bởi rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp. Thứ tư, khi các giám đốc thực hiện các thay đổi thể hiện trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp, các hành động này sẽ chuyển các thông tin quan trọng đến các nhà đầu tư.

Có phải việc duy trì số lượng nhân viên và các cơ sở hoạt động không hiệu quả làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác vì lợi ích lâu dài của nhân viên hay không?

Trong các giao dịch mua lại bằng vốn vay, các trái chủ có thực sự bị thiệt hại khi tính đến các điều khoản bảo vệ trong hợp đồng ký kết lúc họ mua trái phiếu với mối liên hệ giữa lợi tức trái phiếu và thỏa hiệp bảo vệ không?

Thứ tám, các đòi hỏi của nhà cho vay và các cơ quan xếp hạng trái phiếu: các đòi hỏi này thường định ra các giới hạn cho việc chọn lựa cấu trúc vốn của doanh nghiệp như là một điều kiện để cung cấp tín dụng hay duy trì xếp hạng của trái phiếu hoặc cổ phần ưu đãi.

Canxi, Nhân Tố Chính Ảnh Hưởng Đến Chất Lượng Vỏ Trứng

Canxi, nhân tố chính ảnh hưởng đến chất lượng vỏ trứng

Chia sẻ

Lượt xem

5215

Chất lượng vỏ trứng là mối quan tâm lớn đối với người chăn nuôi và ngành gia cầm. Chỉ một vết nứt trên vỏ của nó là đủ để hạ cấp một quả trứng. Vì vậy, độ cứng vỏ trứng là một điều kiện rất quan trọng để tiếp thị trứng như một sản phẩm hoàn chỉnh. Những biện pháp phòng ngừa nào có thể được thực hiện để giảm số trứng bị nứt vỡ? Làm thế nào để vỏ trứng dày và cứng hơn? Số trứng bị hạ bậc chất lượng chiếm từ 3,5 đến 12% tổng số trứng được sản xuất. Tỷ lệ này tăng mạnh khi gà ở giai đoạn 60 đến 70 tuần đẻ và có thể đạt đến 20% vào cuối chu kỳ đẻ. Tuy nhiên, vỏ trứng thường có độ chắc chắn đáng kinh ngạc – trứng có lớp vỏ dày dưới 0,3 mm có thể chịu được trên 3 kg! Độ chắc chắn này là do cấu trúc của vỏ trứng và năng lượng từ sự kết hợp của các hợp chất trong vỏ mang lại, phốt pho và đặc biệt là canxi (hơn 90%). Vỏ được hình thành trong tử cung của gà mái do sự kết tủa của canxi cacbonat trên màng trứng. Để tạo vỏ trứng, gà mái chủ yếu sử dụng canxi có trong khẩu phần. Nếu khoáng chất này không có đủ, gà mái cần duy trì quá trình tạo vỏ bằng cách sử dụng canxi dự trữ trong xương của chúng.

Những yếu tố nào có thể ảnh hưởng đến chất lượng của vỏ trứng?

Ở gà mái già, lớp vỏ trứng yếu hơn. Trong khi kích cỡ trứng tăng lên theo tuổi đẻ, vỏ trứng của chúng có xu hướng mỏng đi và trở nên nhẹ hơn theo thời gian. Khẩu phần bổ sung canxi nên được cung cấp đủ lượng để gà không phải lấy quá nhiều canxi ra khỏi nguồn dự trữ trong xương. Làm thế nào có thể đạt được kết quả này? Cần cung cấp cho gà mái loại bột đá thô để nguồn canxi ăn vào sẽ ở lại trong mề lâu hơn. Như vậy gà mái có thể sử dụng nguồn canxi này liên tục trong ngày, không phải lấy canxi từ xương. Bố trí đàn hợp lý cũng như lập kế hoạch cho ăn đúng thời điểm cùng các chương trình chiếu sáng thích hợp cũng đóng góp vào việc cải thiện chất lượng của vỏ trứng.

Theo sau hiện tượng vỏ trứng mỏng, mềm là gì?

Việc sử dụng quá mức nguồn canxi dự trữ trong xương sẽ làm suy yếu cả hệ xương của gà mái và độ dày của vỏ trứng. Ngoài việc trứng đẻ ra có lớp vỏ mỏng manh, gà mài còn dễ mắc nguy cơ gãy xương, loãng xương. Hậu quả là gà mái có thể ngừng đẻ trứng và thậm chí chết. Đối với đàn gà đẻ trứng giống, mục tiêu là trứng phải có lớp vỏ đủ dày, tốt còn nguyên vẹn. Thật vậy, một quả trứng đã được thụ tinh mà bị dập, vỡ sẽ không thể ấp nở thành gà con. Ở cấp độ người tiêu dùng, vết nứt vỡ, vết rạn nhỏ trên vỏ quả trứng có thể gây nhiễm trùng thực phẩm như salmonellosis. Đây có thể là mối đe dọa đến sự an toàn của người tiêu dùng.

Tăng từ từ lượng caxi ăn vào để có trứng vỏ cứng.

Để đạt mục tiêu sản xuất trứng có chất lượng vỏ tốt nên có bước chuẩn bị từ trước thời kỳ gà vào đẻ. Tỷ lệ canxi trong khẩu phần nên được tăng dần theo thời gian, theo một lịch trình rất chặt chẽ. Trong thời gian đẻ, một phần của lượng canxi trong khẩu phần nên được cung cấp ở dạng hạt thô. Như vậy các nguồn cung canxi sẽ có sẵn trong thời gian gà mái bắt đầu tạo vỏ trứng của chúng, kết quả là gà mái có đủ canxi không cần hoặc ít phải sử dụng đến nguồn canxi dự trữ, đảm bảo sức khỏe đàn gà đẻ, sản lượng và chất lượng trứng. Nguồn: Biên dịch: Ecovet Team Chia sẻ

Lượt xem

5215

Số trứng bị hạ bậc chất lượng chiếm từ 3,5 đến 12% tổng số trứng được sản xuất. Tỷ lệ này tăng mạnh khi gà ở giai đoạn 60 đến 70 tuần đẻ và có thể đạt đến 20% vào cuối chu kỳ đẻ. Tuy nhiên, vỏ trứng thường có độ chắc chắn đáng kinh ngạc – trứng có lớp vỏ dày dưới 0,3 mm có thể chịu được trên 3 kg! Độ chắc chắn này là do cấu trúc của vỏ trứng và năng lượng từ sự kết hợp của các hợp chất trong vỏ mang lại, phốt pho và đặc biệt là canxi (hơn 90%). Vỏ được hình thành trong tử cung của gà mái do sự kết tủa của canxi cacbonat trên màng trứng. Để tạo vỏ trứng, gà mái chủ yếu sử dụng canxi có trong khẩu phần. Nếu khoáng chất này không có đủ, gà mái cần duy trì quá trình tạo vỏ bằng cách sử dụng canxi dự trữ trong xương của chúng.Ở gà mái già, lớp vỏ trứng yếu hơn. Trong khi kích cỡ trứng tăng lên theo tuổi đẻ, vỏ trứng của chúng có xu hướng mỏng đi và trở nên nhẹ hơn theo thời gian. Khẩu phần bổ sung canxi nên được cung cấp đủ lượng để gà không phải lấy quá nhiều canxi ra khỏi nguồn dự trữ trong xương. Làm thế nào có thể đạt được kết quả này? Cần cung cấp cho gà mái loại bột đá thô để nguồn canxi ăn vào sẽ ở lại trong mề lâu hơn. Như vậy gà mái có thể sử dụng nguồn canxi này liên tục trong ngày, không phải lấy canxi từ xương. Bố trí đàn hợp lý cũng như lập kế hoạch cho ăn đúng thời điểm cùng các chương trình chiếu sáng thích hợp cũng đóng góp vào việc cải thiện chất lượng của vỏ trứng.Việc sử dụng quá mức nguồn canxi dự trữ trong xương sẽ làm suy yếu cả hệ xương của gà mái và độ dày của vỏ trứng. Ngoài việc trứng đẻ ra có lớp vỏ mỏng manh, gà mài còn dễ mắc nguy cơ gãy xương, loãng xương. Hậu quả là gà mái có thể ngừng đẻ trứng và thậm chí chết. Đối với đàn gà đẻ trứng giống, mục tiêu là trứng phải có lớp vỏ đủ dày, tốt còn nguyên vẹn. Thật vậy, một quả trứng đã được thụ tinh mà bị dập, vỡ sẽ không thể ấp nở thành gà con. Ở cấp độ người tiêu dùng, vết nứt vỡ, vết rạn nhỏ trên vỏ quả trứng có thể gây nhiễm trùng thực phẩm như salmonellosis. Đây có thể là mối đe dọa đến sự an toàn của người tiêu dùng.Để đạt mục tiêu sản xuất trứng có chất lượng vỏ tốt nên có bước chuẩn bị từ trước thời kỳ gà vào đẻ. Tỷ lệ canxi trong khẩu phần nên được tăng dần theo thời gian, theo một lịch trình rất chặt chẽ. Trong thời gian đẻ, một phần của lượng canxi trong khẩu phần nên được cung cấp ở dạng hạt thô. Như vậy các nguồn cung canxi sẽ có sẵn trong thời gian gà mái bắt đầu tạo vỏ trứng của chúng, kết quả là gà mái có đủ canxi không cần hoặc ít phải sử dụng đến nguồn canxi dự trữ, đảm bảo sức khỏe đàn gà đẻ, sản lượng và chất lượng trứng.Nguồn: FeedExpertise Biên dịch:

Bạn đang xem bài viết Quản Trị Sản Xuất: Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Tới Năng Suất trên website 3mienmoloctrungvang.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!