Xem Nhiều 2/2023 #️ Quy Hoạch Sử Dụng Đất Là Gì? Và Quy Định Liên Quan # Top 2 Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Xem Nhiều 2/2023 # Quy Hoạch Sử Dụng Đất Là Gì? Và Quy Định Liên Quan # Top 2 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Quy Hoạch Sử Dụng Đất Là Gì? Và Quy Định Liên Quan mới nhất trên website 3mienmoloctrungvang.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Quy hoạch sử dụng đất là gì?

Theo Điều 3, Luật đất đai 2013 định nghĩa “Quy hoạch sử dụng đất là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế – xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định.”

Như vậy, có thể hiểu quy hoạch sử dụng đất là việc lập kế hoạch sử dụng đất ở từng địa phương, phân theo từng mục đích sử dụng được chia thành từng kỳ trong một khoảng thời gian nhất định.

Việc quy hoạch này được đưa ra để hoạch định chính sách, phát triển kinh tế địa phương, đảm bảo việc sử dụng quỹ đất một cách có hiệu quả và đây cũng là cơ sở để Nhà nước giao đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, hay là cơ sở để Nhà nước thực hiện việc đền bù về đất, chi phí về đất cho người dân khi có quy hoạch cần thu hồi đất.

Bản đồ quy hoạch sử dụng đất là gì?

Theo khoản 6, Điều 3, Luật đất đai quy định “Bản đồ quy hoạch sử dụng đất là bản đồ được lập tại thời điểm đầu kỳ quy hoạch, thể hiện sự phân bổ các loại đất tại thời điểm cuối kỳ của quy hoạch đó.”

Đất dính quy hoạch là sao?

Đất dính quy hoạch là đất nằm trong ranh quy hoạch một dự án quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường… hay bất kỳ mục đích nào khác. Đất dính quy hoạch sẽ bị giải tỏa đền bù theo khung giá nhà nước ban hành để thực hiện quy hoạch theo quy định của pháp luật.

Ví dụ về quy hoạch: Một số quy hoạch thường gặp như; Quy hoạch khu nhà ở Qi-island, quy hoạch sân bay Long Thành, quy hoạch đường cao tốc Bắc Nam, quy hoạch khu du lịch quốc gia Mũi Né, quy hoạch Khu công nghiệp – Đô thị Becamex…

Đất thuộc diện quy hoạch thì có được bán?

Khoản 2 Điều 49 Luật Đất đai 2013 quy định về việc đất thuộc diện quy hoạch thì có được bán hay không. Đối với vấn đề này sẽ được chia thành 2 trường hợp như sau:

Không có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện: Mặc dù đất nằm trong quy hoạch sử dụng đất dã được công bố nhưng chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì được phép bán và tặng cho, thừa kế, chuyến đổi, thế chấp…

Có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện: Trái lại với trường hợp trên, nếu đất thuộc diện quy hoạch và có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì người sử dụng đất vẫn được thực hiện các quyền của người sử dụng đất cho đến khi có quyết định thu hồi hoặc chuyển mục đích sử dụng đất theo kế hoạch. Tuy nhiên vẫn bị hạn chế một số quyền như không được xây nhà ở, công trình, trồng cây lâu năm…

Vậy có nên mua đất dính quy hoạch không?

Đất nằm trong diện quy hoạch khi có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ bị thu hồi và được đền bù theo quy định của Nhà nướcThông. Nên thường khi nghe “đất dính quy hoạch” thì người mua sẽ “quay xe” ngay. Tuy nhiên vẫn có người đi săn tìm đất quy hoạch để mua đất kiếm lời. Vì vậy còn tùy thuộc theo từng trường hợp mới có câu trả lời nên hay không nên.

*Lưu ý: Khung giá đất nhà nước ban hành luôn chênh lệch so với thị trường, cụ thể là luôn thấp hơn. Bên dưới có hướng dẫn xem bảng giá đất online.

Một số lưu ý khi mua đất đai có dính quy hoạch

Khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai 2013 quy định người sử dụng đất được thực hiện quyền chuyển nhượng khi có đủ điều kiện sau:

“a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất”.

Ngoài ra đối với đất thì còn phải xem xét 2 yếu tố sau

1. Miếng đất đó có nằm hết trong ranh quy hoạch không hay một phần?

2. Quy hoạch đó là gì?

Mua đất trong diện quy hoạch tồn tại nhiều nguy cơ rủi ro, tuy nhiên trong trong “nguy” thì luôn có “cơ”. Hãy tỉnh táo xem xét thấu đáo trước mọi quyết định.

Cách tra cứu bảng giá đất online

Bước 1: Truy cập vào đường link https://thuvienphapluat.vn/page/BangGiaDat.aspx

Bước 2: Nhập tỉnh/thành phố, huyện/quận, tên đường/khu vực sau đó bấm xem giá.

Thời hạn thu hồi đất dính quy hoạch là bao lâu?

Khoản 3, Điều 49, Luật Đất đai năm 2013 quy định rõ: Phần đất nằm trong diện quy hoạch sau 3 năm chưa có quyết định thu hồi thì cơ quan Nhà nước phải điều chỉnh, hủy bỏ và công bố việc điều chỉnh phần đất đó.

Trong trường hợp cơ quan điều chỉnh không tiến hành thì người sử dụng có thể tiếp tục thực hiện các quyền cơ bản của người sử dụng đất mà không bị ảnh hưởng bởi các thủ tục pháp lý.

Có khi nào bạn tự hỏi tại sao tại sao đất mình đang ở lại bị dính quy hoạch và bạn không đồng ý thì bị cưỡng chế giải tỏa không?

Thứ nhất: Bạn không có sở hữu miếng đất nào cả mà chỉ được trao quyền sử dụng đất.

Luật đất đai 2013 quy định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này.”

Thứ hai:Theo điều 13, Luật đất đai 2013 quy định về “Quyền của đại diện chủ sở hữu về đất đai” như sau;

Quyết định quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất

Quyết định mục đích sử dụng đất

Quy định hạn mức sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất.

Quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất.

Quyết định giá đất.

Quyết định trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất.

Quyết định chính sách tài chính về đất đai.

Quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.

Xem quy hoạch sử dụng đất ở đâu?

Toàn bộ nội dung quy hoạch sử dụng đất cấp huyện sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phải được công bố công khai theo quy định sau đây:

b) Việc công bố công khai được thực hiện chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

c) Việc công khai được thực hiện trong suốt thời kỳ quy hoạch sử dụng đất.

Một số website, ứng dụng xem quy hoạch hiện nay (2021)

Tỉnh thành Website App (ứng dụng)

Hồ Chí Minh Thông tin quy hoạch TP.HCM

Bình Dương Thông Tin Quy Hoạch Bình Dương

Đồng Nai DNAI.LIS

Bà Rịa – Vũng Tàu Quy hoạch Bà Rịa – Vũng Tàu

Hà Nội Quy hoạch sử dụng đất TP Hà Nội

Đà Nẵng

Nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

1. Phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh.

2. Được lập từ tổng thể đến chi tiết; quy hoạch sử dụng đất của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của cấp trên; kế hoạch sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia phải bảo đảm tính đặc thù, liên kết của các vùng kinh tế – xã hội; quy hoạch sử dụng đất cấp huyện phải thể hiện nội dung sử dụng đất của cấp xã.

3. Sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả.

4. Khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; thích ứng với biến đổi khí hậu.

5. Bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh.

6. Dân chủ và công khai.

7. Bảo đảm ưu tiên quỹ đất cho mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng, an ninh lương thực và bảo vệ môi trường.

8. Quy hoạch, kế hoạch của ngành, lĩnh vực, địa phương có sử dụng đất phải bảo đảm phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt.

Thời kỳ quy hoạch sử dụng đất là bao nhiêu năm?

1. Thời kỳ quy hoạch sử dụng đất là 10 năm. Tầm nhìn của quy hoạch sử dụng đất quốc gia là từ 30 năm đến 50 năm và cấp huyện là từ 20 năm đến 30 năm.

2. Thời kỳ kế hoạch sử dụng đất quốc gia, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng và kế hoạch sử dụng đất an ninh là 05 năm; kế hoạch sử dụng đất cấp huyện được lập hàng năm.

Ai có thẩm quyền quyết định, phê duyệt quy hoạch sử dụng đất?

Việc quyết định, phê duyệt quy hoạch sử dụng đất quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc phòng, quy hoạch sử dụng đất an ninh được thực hiện theo quy định của pháp luật về quy hoạch;

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt quy hoạch sử dụng đất cấp huyện.

Ủy ban nhân dân cấp huyện trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua quy hoạch sử dụng đất cấp huyện trước khi trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt.

Quy định về điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất mới nhất

1. Việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc phòng, quy hoạch sử dụng đất an ninh được thực hiện theo quy định của pháp luật về quy hoạch.

2. Việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất cấp huyện được thực hiện khi có một trong các căn cứ sau đây:

– Có sự điều chỉnh chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh của quốc gia, quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh mà sự điều chỉnh đó làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất;

– Do tác động của thiên tai, chiến tranh làm thay đổi mục đích, cơ cấu, vị trí, diện tích sử dụng đất;

– Có sự điều chỉnh địa giới hành chính của địa phương.

3. Việc điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất chỉ được thực hiện khi có sự điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất hoặc có sự thay đổi về khả năng thực hiện kế hoạch sử dụng đất.

4. Nội dung điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất là một phần của quy hoạch sử dụng đất đã được quyết định, phê duyệt. Nội dung điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất là một phần của kế hoạch sử dụng đất đã được quyết định, phê duyệt.

Việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, kế hoạch sử dụng đất thực hiện theo quy định tại các điều 42, 43, 44 và 48 Luật Đất đai 2013.

5. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp nào thì có thẩm quyền quyết định, phê duyệt điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp đó.

Quy hoạch sử dụng đất được phân cấp như thế nào?

Quy hoạch sử dụng đất bao gồm:

a) Quy hoạch sử dụng đất quốc gia;

b) Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện;

c) Quy hoạch sử dụng đất quốc phòng;

d) Quy hoạch sử dụng đất an ninh.

Đối với cấp tỉnh, phương án phân bổ và khoanh vùng đất đai theo khu chức năng và theo loại đất đến từng đơn vị hành chính cấp huyện là một nội dung của quy hoạch tỉnh.

Màu, ký hiệu trong bản đồ hiện trạng SDD và quy hoạch sử dụng đất

Nguồn: Thông tư 12/2016/tt-bxd quy định về hồ sơ của nhiệm vụ và đồ án quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch đô thị và quy hoạch xây dựng khu chức năng đặc thù

Nội dung tham khảo

Quy Hoạch Xây Dựng Theo Quy Định Mới Nhất ? Có Được Phép Xây Nhà Trên Phần Đất Quy Hoạch ?

Trong thời gian qua, với chính sách đổi mới, hội nhập, cùng với sự phát triển nhanh về các mặt kinh tế – xã hội, hệ thống các đô thị ở nước ta đã phát triển nhanh chóng cả về số lượng, chất lượng và quy mô. Tính đến nay cả nước ta đã có 752 đô thị các loại (bao gồm từ đô thị loại 5 đến đô thị loại đặc biệt) trong đó có 2 đô thị loại đặc biệt (thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh), 7 đô thị loại I, 14 đô thị loại II, 45 đô thị loại III, 38 đô thị loại IV, 646 đô thị loại V. Tỷ lệ đô thị hoá đạt gần 30%. Thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, là trái tim của cả nước, các đô thị lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ… là những trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học, công nghệ, đang đóng vai trò đầu tàu cho sự phát triển kinh tế – xã hội của từng vùng và cả nước. Ngoài ra, cả nước hiện đang có trên 160 khu công nghiệp tập trung, 10 đô thị mới, 28 khu kinh tế cửa khẩu và khu kinh tế đặc thù, góp phần mở rộng mạng lưới đô thị quốc gia, tạo tiền đề cho sự phát triển đô thị tại các vùng ven biển và biên giới. Nhiều khu đô thị mới đã và đang được hình thành với hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại, góp phần giải quyết nhiều vấn đề bức xúc của các đô thị hiện nay, nhất là vấn đề nhà ở và các dịch vụ đô thị. Bộ mặt đô thị Việt Nam nói chung đã có nhiều khởi sắc theo hướng văn minh, hiện đại. Những thành tựu nêu trên có sự đóng góp quan trọng của các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến các địa phương và sự tham gia tích cực của các thành phần kinh tế trong xã hội. Đặc biệt là 5 năm gần đây, kể từ khi Luật Xây dựng được ban hành, công tác quản lý quy hoạch xây dựng đã có nhiều chuyển biến tích cực.

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, thực tế phát triển đô thị ở nước ta vẫn còn một số vấn đề tồn tại làm ảnh hưởng xấu đến sự phát triển các đô thị nói riêng và kinh tế – xã hội nói chung. Việc quản lý, sử dụng đất đai trong đô thị còn nhiều lãng phí. Tình trạng ô nhiễm môi trường đô thị chậm được cải thiện. Các vấn đề về nhà ở, giao thông đô thị đang gây nhiều bức xúc. Kiến trúc đô thị còn chắp vá, thiếu bản sắc. Công tác quy hoạch và quản lý phát triển đô thị theo quy hoạch còn nhiều bất cập.

Việc lập quy hoạch còn chậm, chưa đáp ứng đòi hỏi của thực tế xã hội và yêu cầu quản lý. Nhiều địa phương chưa quan tâm đúng mức, chưa tập trung các nguồn lực cần thiết cho công tác lập quy hoạch dẫn đến tình trạng quy hoạch chưa đi trước, thiếu cơ sở cho quản lý phát triển đô thị. Việc tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch còn nhiều bất cập, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành dẫn đến tình trạng không thống nhất giữa quy hoạch đô thị với các quy hoạch chuyên ngành khác, chưa bảo đảm sự kết nối, nhất là sự liên thông, đồng bộ về hạ tầng trong đô thị và giữa đô thị với khu vực lân cận. Tính chuyên nghiệp của đội ngũ lập quy hoạch chưa cao. Trong quá trình lập quy hoạch chưa thu hút được sự tham gia rộng rãi của cộng đồng, đặc biệt là của các nhà chuyên môn. Những vấn đề nêu trên dẫn đến chất lượng quy hoạch còn thấp, thiếu tính khả thi không phù hợp với xu thế phát triển của xã hội, phải điều chỉnh nhiều và chưa thu hút được các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư phát triển đô thị theo quy hoạch.

Công tác quản lý phát triển đô thị theo quy hoạch trên thực tế còn nhiều yếu kém, hiệu quả chưa cao. Việc công bố, công khai quy hoạch được duyệt còn chậm và mang tính hình thức. Việc triển khai đưa các chỉ giới, mốc giới ra ngoài thực địa thực hiện chưa tốt dẫn đến tình trạng vi phạm chỉ giới quy hoạch, lấn chiếm đất công còn phổ biến ở nhiều nơi. Việc cung cấp thông tin quy hoạch, giới thiệu địa điểm, cấp chứng chỉ quy hoạch, cấp giấy phép xây dựng còn phức tạp về thủ tục, gây phiền hà cho các nhà đầu tư, hệ quả là công trình xây dựng không phép, sai phép còn chiếm tỷ lệ lớn, chính quyền địa phương không kiểm soát được việc tuân thủ quy hoạch trong hoạt động xây dựng tại đô thị. Việc quản lý kiến trúc đô thị còn lúng túng làm cho diện mạo đô thị không có định hướng, chắp vá, lộn xộn và thiếu bản sắc. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật và các dịch vụ đô thị thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tế của các đô thị. Nhiều chỉ tiêu quan trọng về hạ tầng đô thị chưa đạt quy chuẩn và chưa theo kịp các nước trong khu vực[1]. Việc đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị thiếu kế hoạch, thiếu sự phối hợp giữa các ngành, dẫn đến sự lãng phí lớn, gây nhiều bức xúc trong đời sống đô thị. Nguồn nhân lực phục vụ cho công tác lập quy hoạch cũng như triển khai thực hiện quy hoạch còn thiếu về số lượng và chất lượng chưa cao.

Pháp luật hiện hành của nước ta đã có nhiều quy định về quy hoạch và quản lý phát triển đô thị. Tuy nhiên, các quy định này còn chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, hiệu lực pháp lý thấp, nhiều quy định lạc hậu so với thực tế, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý phát triển đô thị và hội nhập quốc tế. Đây là nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự bất cập trong công tác quy hoạch và quản lý phát triển đô thị ở nước ta hiện nay. Luật Xây dựng hiện hành đã có 1 chương quy định về quy hoạch xây dựng, tuy nhiên một số quy định của Luật còn mang tính nguyên tắc, thiếu các quy định cụ thể về quản lý phát triển đô thị theo quy hoạch cũng như các quy định về quy hoạch hệ thống hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ đô thị. Quy trình, thủ tục về lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch còn phức tạp, tốn nhiều thời gian. Các quy định về lấy ý kiến cộng đồng khi lập quy hoạch cũng như việc công khai, cung cấp thông tin quy hoạch chưa đầy đủ và chưa phù hợp với điều kiện thực tế. Sự phân công, phân cấp trong quản lý đô thị còn chưa thật phù hợp với điều kiện thực tế ở các địa phương. Trách nhiệm của chính quyền đô thị trong quản lý các vấn đề đặc thù của đô thị nhất là quản lý kiến trúc, cảnh quan đô thị chưa được thiết lập đầy đủ, rõ ràng dẫn đến lúng túng, trùng lắp và kém hiệu quả trong thực hiện. Một số vấn đề quan trọng khác như quy hoạch và quản lý không gian ngầm, kinh phí, nhân lực cho công tác lập và triển khai quy hoạch cũng như kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch… còn thiếu quy định cụ thể, chưa tạo ra được một hệ thống cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác quy hoạch và quản lý phát triển đô thị.

Qua nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trong khu vực và trên thế giới (như Anh, Pháp, Nga, Ai-len, Phần Lan, Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Trung Quốc…) cho thấy các nước đều coi quy hoạch đô thị là công cụ quan trọng để quản lý và phát triển đô thị. Nhiều nước có đạo luật riêng về quy hoạch đô thị. Trong số đó, Luật Quy hoạch đô thị của Trung Quốc được ban hành từ năm 1989 và được sửa đổi, bổ sung năm 2008 có nhiều quy định phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay.

Hầu hết luật các nước đều xác định nguyên tắc quản lý quy hoạch đô thị phải đi từ tổng quát đến cụ thể, thông qua quy trình từ quy hoạch chung, quy hoạch phân khu đến quy hoạch chi tiết. Trong quy hoạch của từng đô thị, phải định rõ các khu chức năng, trong đó Nhà nước đặc biệt quan tâm đến việc quản lý và thực hiện quy hoạch các khu chính trị – hành chính; đối với các khu chức năng khác, Nhà nước định hướng, tạo điều kiện để các tổ chức, doanh nghiệp được tham gia lập quy hoạch và đầu tư phát triển các dự án theo quy hoạch.Quy hoạch phải bảo đảm cho việc đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ đô thị đồng bộ và phải đi trước, tạo tiền đề cho việc xây dựng và thực hiện các dự án.

Luật pháp các nước đề cao tính công cộng, là đặc điểm quan trọng của đô thị, đưa ra các nguyên tắc quản lý và sử dụng không gian đô thị, kể cả không gian ngầm; thông qua kiến trúc sư trưởng nhằm quản lý hiệu quả cảnh quan, kiến trúc đô thị, bảo đảm bản sắc đô thị phù hợp với truyền thống văn hoá của dân tộc. Hầu hết các nước đều quản lý thực hiện quy hoạch thông qua việc cấp giấy phép quy hoạch. Bên cạnh đó, luật pháp các nước đều đưa ra các nguyên tắc để cộng đồng tham gia có hiệu quả vào việc xây dựng và thực hiện quy hoạch.

Chính vì vậy, việc xây dựng và trình Quốc hội thông qua Luật Quy hoạch đô thị là cần thiết nhằm tạo cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch đô thị hiệu lực, hiệu quả. Sau một thời gian xây dựng, ngày 17 tháng 6 năm 2009 tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII đã thông qua Luật Quy hoạch đô thị.Luật sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.

II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO SOẠN THẢO LUẬT QUY HOẠCH ĐÔ THỊ

Luật Quy hoạch đô thị được xây dựng trên các quan điểm chỉ đạo sau đây:

1. Luật Quy hoạch đô thị phải thể chế hoá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, luật pháp của Nhà nước về quản lý và phát triển đô thị. Quán triệt Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng: “Phát triển mạng lưới đô thị phân bố hợp lý trên các vùng. Hiện đại hoá dần các thành phố lớn, thúc đẩy quá trình đô thị hoá nông thôn. Không tập trung quá nhiều cơ sở công nghiệp và dân cư vào các đô thị lớn… Tăng cường công tác quy hoạch và quản lý đô thị, nâng cao thẩm mỹ kiến trúc… Xây dựng đồng bộ và từng bước hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, điện lực, thông tin, thuỷ lợi, cấp thoát nước…”.

3. Luật Quy hoạch đô thị phải kế thừa và phát huy những ưu điểm, khắc phục những tồn tại và là bước pháp điển hoá hệ thống pháp luật về quy hoạch xây dựng phát triển đô thị hiện hành; đồng thời bổ sung các quy định để điều chỉnh kịp thời các mối quan hệ mới phát sinh, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong hiện tại và xu thế phát triển trong tương lai.

4. Luật Quy hoạch đô thị phải bảo đảm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, quy định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị, của tổ chức và cá nhân tham gia các hoạt động quy hoạch đô thị; phân định quản lý nhà nước và quản lý của nhà đầu tư; góp phần thúc đẩy cải cách hành chính trong quản lý quy hoạch đô thị phù hợp với tiến trình cải cách hành chính của Nhà nước và hội nhập kinh tế quốc tế.

III. NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA LUẬT

Luật Quy hoạch đô thị gồm 6 chương, 76 điều, cụ thể như sau:

Chương I. Những quy định chung quy định về các vấn đề chung nhất, có tính nguyên tắc của vấn đề quy hoạch đô thị, cụ thể là:

1. Về phạm vi điều chỉnh: Luật này quy định về hoạt động quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch đô thị, bao gồm việc lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh quy hoạch đô thị, tổ chức thực hiện quy hoạch đô thị và quản lý phát triển đô thị theo quy hoạch đô thị đã được phê duyệt.

Chương này cũng quy định rõ về các từ ngữ được hiểu trong Luật về đô thị, đô thị mới, khu đô thị mới, quy hoạch đô thị, nhiệm vụ và đồ án quy hoạch đô thị, quy hoạch chung, quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết, thời hạn quy hoạch đô thị, thời gian hiệu lực của quy hoạch đô thị, kiến trúc đô thị, không gian đô thị, cảnh quan đô thị, chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch đô thị, chứng chỉ quy hoạch, giấy phép quy hoạch, hạ tầng kỹ thuật khung, không gian ngầm.

Theo quy định tại Chương này,quy hoạch đô thị là việc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở để tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống trong đô thị, được thể hiện thông qua đồ án quy hoạch đô thị.

3.Về yêu cầu đối với quy hoạch đô thị:

Để bảo đảm quy hoạch đô thị đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu dài; có tính khả thi, bền vững và phù hợp với yêu cầu thực tế của xã hội. Luật đã quy định các yêu cầu cụ thể đối với quy hoạch đô thị. Theo đó, quy hoạch đô thị phải bảo đảm:

– Bảo vệ môi trường, phòng ngừa hiểm hoạ ảnh hưởng đến cộng đồng, cải thiện cảnh quan, bảo tồn các di tích văn hoá, lịch sử và nét đặc trưng địa phương thông qua việc đánh giá môi trường chiến lược trong quá trình lập quy hoạch đô thị.

– Khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, hạn chế sử dụng đất nông nghiệp, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả đất đô thị nhằm tạo ra nguồn lực phát triển đô thị, tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững.

– Bảo đảm tính đồng bộ về không gian kiến trúc, hệ thống hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật đô thị và không gian ngầm; phát triển hài hoà giữa các khu vực trong đô thị.

– Đáp ứng nhu cầu sử dụng nhà ở, công trình y tế, giáo dục, văn hoá, thể thao, thương mại, công viên, cây xanh, mặt nước và công trình hạ tầng xã hội khác.

– Đáp ứng nhu cầu sử dụng hạ tầng kỹ thuật gồm hệ thống giao thông, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp nước, thoát nước, xử lý chất thải, thông tin liên lạc và các công trình hạ tầng kỹ thuật khác; bảo đảm sự kết nối, thống nhất giữa các hệ thống hạ tầng kỹ thuật trong đô thị và sự liên thông với các công trình hạ tầng kỹ thuật cấp vùng, quốc gia và quốc tế.

4. Về quản lý nhà nước: Luật quy định về nội dung và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, đặc biệt là trách nhiệm của chính quyền đô thị trong hoạt động quy hoạch và quản lý phát triển đô thị theo quy hoạch; phân công, phân cấp quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị.

5. Về kinh phí cho việc lập quy hoạch, Luật quy định rõ kinh phí cho công tác lập và quản lý quy hoạch được bảo đảm từ nguồn ngân sách nhà nước và các nguồn vốn huy động khác. Luật cũng có quy định nhằm khuyến khích các nhà đầu tư tham gia lập quy hoạch đối với các khu vực phát triển các dự án đô thị.

6. Về tư vấn lập quy hoạch đô thị: Để bảo đảm đồ án quy hoạch có chất lượng, Luật đã quy định rõ điều kiện, năng lực của các tổ chức tư vấn, cá nhân tham gia lập quy hoạch đô thị. Cụ thể: Đối với tổ chức tư vấn lập quy hoạch đô thị phải có tư cách pháp nhân; đủ điều kiện về số lượng, năng lực chuyên môn của cá nhân tham gia lập quy hoạch đô thị, năng lực quản lý và các điều kiện kỹ thuật phù hợp với công việc đảm nhận. Đối với cá nhân tham gia lập quy hoạch đô thị phải có chứng chỉ hành nghề do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp và có năng lực phù hợp với công việc được đảm nhận. Đối với tổ chức tư vấn, cá nhân nước ngoài tham gia lập quy hoạch đô thị tại Việt Nam ngoài việc phải đáp ứng các điều kiện quy định đối với tổ chức tư vấn, cá nhân trong nước còn phải được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam công nhận.

Ngoài ra, Luật cũng quy định tổ chức lập quy hoạch đô thị được lựa chọn thông qua hình thức chỉ định hoặc thi tuyển.

7. Luật cũng quy định rõ các hành vi bị cấm trong hoạt động quy hoạch đô thị. Theo đó, những hành vị như: không thực hiện trách nhiệm tổ chức lập quy hoạch đô thị; chọn tổ chức tư vấn lập quy hoạch đô thị không đủ điều kiện năng lực; lập, thẩm định, phê duyệt và điều chỉnh quy hoạch đô thị không đúng quy định; can thiệp trái pháp luật vào hoạt động quy hoạch đô thị; cấp giấy phép quy hoạch trái với quy định; cấp chứng chỉ quy hoạch tại các khu vực chưa có quy hoạch đô thị được phê duyệt; từ chối cung cấp thông tin, trừ trường hợp thông tin thuộc bí mật nhà nước; cung cấp sai thông tin về quy hoạch đô thị; cố ý vi phạm quy hoạch đô thị đã được phê duyệt; phá hoại không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị; cắm mốc giới sai lệch; phá hoại, làm sai lệch mốc giới quy hoạch đô thị; cản trở, gây khó khăn cho việc lập và thực hiện quy hoạch đô thị.

Chương II. Lập quy hoạch đô thị

Nội dung chủ yếu của Chương này quy định về việc tổ chức lập quy hoạch và nội dung của từng loại quy hoạch.

1. Về các loại quy hoạch đô thị:

Để tạo ra đủ cơ sở và công cụ quản lý phát triển đô thị, Luật đã quy định Quy hoạch đô thị gồm 3 loại quy hoạch. Quy hoạch chung được lập cho toàn bộ đô thị. Quy hoạch phân khu được lập cho các khu vực đô thị, nhằm cụ thể hoá nội dung quy hoạch chung, là cơ sở để xác định các dự án đầu tư xây dựng trong đô thị và lập quy hoạch chi tiết. Quy hoạch chi tiết được lập cho khu vực theo yêu cầu phát triển, quản lý đô thị hoặc nhu cầu đầu tư xây dựng, là cơ sở để cấp giấy phép xây dựng và lập dự án đầu tư xây dựng.

Luật cũng quy định rõ nội dung của từng loại đồ án quy hoạch đối với thành phố trực thuộc trung ương; thành phố thuộc tỉnh, thị xã, thị trấn. Chương này cũng quy định về nội dung quy hoạch các khu đô thị mới, quy hoạch cải tạo, chỉnh trang đô thị.

Đối với đô thị trực thuộc trung ương thì yêu cầu phải lập quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật.

2. Trách nhiệm tổ chức lập quy hoạch đô thị

Luật đã quy định cụ thể trách nhiệm tổ chức lập quy hoạch đô thị theo hướng phân cấp cho chính quyền địa phương nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm và tính chủ động cho các địa phương trong việc quản lý phát triển đô thị của mình; có quy định khuyến khích các nhà đầu tư tổ chức lập quy hoạch chi tiết trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

– Việc lấy ý kiến cộng đồng dân cư về nhiệm vụ và đồ án quy hoạch chung được thực hiện thông qua lấy ý kiến của đại diện cộng đồng dân cư bằng hình thức phát phiếu điều tra, phỏng vấn. Đại diện cộng đồng dân cư có trách nhiệm tổng hợp ý kiến của cộng đồng dân cư theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở.

– Việc lấy ý kiến cộng đồng dân cư về nhiệm vụ và đồ án quy hoạch phân khu và quy hoạch chi tiết được thực hiện bằng phiếu góp ý thông qua hình thức trưng bày công khai hoặc giới thiệu phương án quy hoạch trên phương tiện thông tin đại chúng.

– Thời gian lấy ý kiến ít nhất là 15 ngày đối với cơ quan, 30 ngày đối với tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư.

Luật cũng quy định các ý kiến đóng góp phải được tổng hợp đầy đủ, có giải trình, tiếp thu và báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét trước khi quyết định phê duyệt.

Chương III. Thẩm định, phê duyệt quy hoạch đô thị

Chương nàyquy định về thẩm định, phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch và các đồ án quy hoạch đô thị.

Về trình tự, thủ tục thẩm định, phê duyệt quy hoạch đô thị: Luật đưa ra các quy định mới nhằm cải tiến theo hướng đơn giản hoá, cải cách thủ tục hành chính, phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm quản lý của từng cơ quan nhà nước đối với từng loại quy hoạch đô thị.

Về thẩm quyền phê duyệt quy hoạch, Luật quy định theo hướng phân cấp mạnh mẽ cho chính quyền địa phương. Thủ tướng Chính phủ chỉ phê duyệt nhiệm vụ và đồ án quy hoạch chung các đô thị trực thuộc Trung ương, đô thị loại I và các đô thị mới có quy mô dân số dự báo tương đương với đô thị loại III trở lên; quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật của đô thị loại đặc biệt; các quy hoạch đô thị khác có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về chính trị, văn hoá, lịch sử, kinh tế, xã hội của quốc gia.

Nội dung thẩm định cũng được quy định rõ đối với nhiệm vụ và đồ án quy hoạch đô thị, cụ thể: việc thẩm định nhiệm vụ quy hoạch đô thị bao gồm: Sự phù hợp của nhiệm vụ quy hoạch đô thị với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và quy hoạch đô thị cấp trên; Yêu cầu về nội dung đối với từng loại nhiệm vụ quy hoạch đô thị. Đối với thẩm định đồ án quy hoạch đô thị bao gồm: Việc đáp ứng các điều kiện của tổ chức tư vấn lập quy hoạch đô thị theo quy định; căn cứ lập đồ án quy hoạch đô thị theo quy định; Sự phù hợp của đồ án quy hoạch đô thị với nhiệm vụ và yêu cầu quy hoạch đô thị quy định và các yêu cầu về nội dung đối với từng loại đồ án.

Chương IV. Điều chỉnh quy hoạch đô thị

Trên thực tế, trong quá trình lập, triển khai thực hiện quy hoạch đô thị cũng cần có sự thay đổi, điều chỉnh. Tuy nhiên, để tránh việc điều chỉnh tuỳ tiện, gây ảnh hưởng xấu đến không gian, kiến trúc, cảnh quan và cộng đồng, Luật đã quy định chặt chẽ các điều kiện được tiến hành điều chỉnh quy hoạch đô thị, cụ thể như sau: khi có sự điều chỉnh về chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, định hướng quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị quốc gia, quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch đô thị cấp trên và địa giới hành chính làm ảnh hưởng lớn đến tính chất, chức năng, quy mô của đô thị hoặc khu vực lập quy hoạch; khi hình thành các dự án trọng điểm có ý nghĩa quốc gia làm ảnh hưởng lớn đến sử dụng đất, môi trường, bố cục không gian kiến trúc đô thị; khi quy hoạch đô thị không thực hiện được hoặc việc triển khai thực hiện gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, an sinh xã hội và môi trường sinh thái, di tích lịch sử, văn hóa được xác định thông qua việc rà soát, đánh giá thực hiện quy hoạch đô thị và ý kiến cộng đồng; khi có sự biến động về điều kiện khí hậu, địa chất, thủy văn; để phục vụ lợi ích quốc gia và lợi ích cộng đồng.

Việc điều chỉnh quy hoạch phải dựa trên cơ sở kết quả rà soát, đánh giá quy hoạch hiện hành và làm rõ nguyên nhân phát sinh những bất cập trong quá trình triển khai thực hiện quy hoạch. Việc điều chỉnh có thể ở mức độ điều chỉnh tổng thể hoặc điều chỉnh cục bộ.

Đối với điều chỉnh tổng thể quy hoạch đô thị được tiến hành khi tính chất, chức năng, quy mô của đô thị, của khu vực lập quy hoạch chi tiết thay đổi hoặc nội dung dự kiến điều chỉnh làm thay đổi cơ cấu, định hướng phát triển chung của đô thị; tính chất, chức năng, quy mô và các giải pháp quy hoạch chính của khu vực lập quy hoạch phân khu và quy hoạch chi tiết.

Điều chỉnh tổng thể quy hoạch đô thị phải bảo đảm đáp ứng được yêu cầu thực tế, phù hợp với xu thế phát triển kinh tế – xã hội và định hướng phát triển của đô thị trong tương lai, nâng cao chất lượng môi trường sống, cơ sở hạ tầng và cảnh quan đô thị; bảo đảm tính kế thừa, không ảnh hưởng lớn đến các dự án đầu tư đang triển khai.

Đối với điều chỉnh cục bộ quy hoạch đô thị được tiến hành khi nội dung dự kiến điều chỉnh không ảnh hưởng lớn đến tính chất, ranh giới, định hướng phát triển chung của đô thị; tính chất, chức năng, quy mô và các giải pháp quy hoạch chính của khu vực lập quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch chi tiết.

Điều chỉnh cục bộ quy hoạch đô thị phải xác định rõ phạm vi, mức độ, nội dung điều chỉnh; bảo đảm tính liên tục, đồng bộ của quy hoạch chung đô thị hoặc quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch chi tiết hiện có trên cơ sở phân tích, làm rõ các nguyên nhân dẫn đến việc phải điều chỉnh; hiệu quả kinh tế – xã hội của việc điều chỉnh; các giải pháp khắc phục những phát sinh do điều chỉnh quy hoạch.

Chương V. Tổ chức thực hiện và quản lý phát triển đô thị theo quy hoạch

1. Về tổ chức thực hiện quy hoạch: Luật quy định cụ thể trách nhiệm, hình thức công bố, công khai và cung cấp thông tin về quy hoạch, cấp chứng chỉ quy hoạch, cắm mốc giới theo quy hoạch đã được phê duyệt.

Luật cũng quy định cơ quan quản lý quy hoạch đô thị có trách nhiệm cập nhật đầy đủ tình hình triển khai thực hiện đồ án quy hoạch đô thị đã được phê duyệt để cơ quan có thẩm quyền công bố công khai kịp thời cho các tổ chức, cá nhân biết và giám sát thực hiện.

Ngoài ra, Luật cũng quy định cơ quan quản lý quy hoạch có trách nhiệm cung cấp thông tin quy hoạch, chứng chỉ quy hoạch cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu. Người có trách nhiệm cung cấp thông tin quy hoạch phải chịu trách nhiệm về thông tin mà mình cung cấp.

Đối với việc cắm mốc giới, Luật quy định: sau khiđồ án quy hoạch đô thị được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm: Tổ chức lập và phê duyệt hồ sơ cắm mốc giới theo quy hoạch đô thị đã được phê duyệt. Thời gian lập và phê duyệt hồ sơ cắm mốc giới không quá 30 ngày, kể từ ngày đồ án quy hoạch đô thị được phê duyệt; Tổ chức triển khai cắm mốc giới ngoài thực địa theo hồ sơ cắm mốc giới đã được phê duyệt. Việc cắm mốc giới ngoài thực địa phải được hoàn thành trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày hồ sơ cắm mốc giới được phê duyệt.

2. Về quản lý quy hoạch và kiến trúc đô thị:

Để bảo đảm không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị được quản lý thống nhất, Luật đã quy định cụ thể về nguyên tắc quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị, như sau là:

– Chủ sở hữu các vật thể kiến trúc có ảnh hưởng đến không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị phải có trách nhiệm bảo vệ, duy trì trong quá trình khai thác, sử dụng bảo đảm mỹ quan, an toàn, hài hoà với không gian xung quanh.

– Việc xây mới, cải tạo, chỉnh trang, sửa chữa và phá bỏ vật thể kiến trúc, cây xanh trong khu vực công cộng, khuôn viên công trình và nhà ở có ảnh hưởng đến không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị phải xin phép cơ quan quản lý có thẩm quyền.

– Trước khi lập dự án đầu tư xây dựng công trình có quy mô lớn, có ý nghĩa và vị trí quan trọng trong đô thị phải thi tuyển thiết kế kiến trúc.

Luật cũng quy định trách nhiệm của chính quyền đô thị và cơ quan quản lý quy hoạch đô thị trong việc quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị.

Đồng thời, Luật cũng quy định, căn cứ đồ án quy hoạch được duyệt, Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm ban hành quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị phù hợp với yêu cầu thực tế của địa phương. Các loại đất trong đô thị phải được quản lý, sử dụng đúng mục đích, chức năng đã được xác định trong đồ án quy hoạch đô thị được duyệt.

3. Về quản lý không gian ngầm và công trình xây dựng ngầm

Trong quá trình phát triển đô thị theo hướng hiện đại, việc khai thác, sử dụng không gian ngầm để xây dựng công trình ngầm là cần thiết. Do đó, Luật đã quy định việc quản lý không gian ngầm và xây dựng các công trình ngầm phải tuân thủ quy hoạch đô thị được duyệt; quy chuẩn về xây dựng công trình ngầm, giấy phép quy hoạch và giấy phép xây dựng. Đồng thời, việc quản lý xây dựng các công trình trên mặt đất phải bảo đảm không ảnh hưởng đến không gian ngầm được xác định trong quy hoạch đô thị được duyệt.

Luật cũng quy định việc xây dựng công trình ngầm không được làm ảnh hưởng đến các công trình trên mặt đất, công trình ngầm và không gian ngầm đã có hoặc đã được xác định trong quy hoạch đô thị. Việc xây dựng tuyến giao thông và hệ thống công trình công cộng ngầm phải bảo đảm an toàn, phù hợp với việc tổ chức, khai thác sử dụng không gian ngầm và trên mặt đất; bảo đảm kết nối thuận tiện với các công trình giao thông ngầm và trên mặt đất. Việc xây dựng tuy nen, hào kỹ thuật cũng phải bảo đảm không ảnh hưởng đến việc sử dụng không gian trên mặt đất; an toàn trong khai thác, vận hành, sửa chữa và bảo dưỡng.

4. Về quản lý xây dựng theo quy hoạch đô thị:

Một nội dung quan trọng của Luật trong công tác quản lý xây dựng theo quy hoạch đô thị là quy định về vấn đề cấp giấy phép quy hoạch.

Trên thực tế, do nguồn kinh phí cho công tác quy hoạch còn hạn chế, nhiều khu vực trong đô thị chưa có quy hoạch chi tiết và thiết kế đô thị được duyệt. Để có cơ sở cho các chủ đầu tư lập quy hoạch chi tiết hoặc dự án đầu tư xây dựng công trình trong khu vực chưa có quy hoạch, chính quyền đô thị có trách nhiệm cấp giấy phép quy hoạch đô thị.

Mặt khác, đối với khu vực đã có quy hoạch được duyệt nhưng trong trường hợp cần phải điều chỉnh ranh giới hoặc một số chỉ tiêu sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình cũng thực hiện việc cấp giấy phép quy hoạch.

Việc cấp giấy phép quy hoạch phải căn cứ vào yêu cầu quản lý, kiểm soát phát triển thực tế của đô thị, Quy chuẩn về quy hoạch đô thị, Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị. Nội dung giấy phép quy hoạch bao gồm phạm vi, quy mô khu vực lập quy hoạch đô thị, chỉ tiêu sử dụng đất cho phép, các yêu cầu về khai thác sử dụng đất, tổ chức không gian kiến trúc, hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật đô thị trên mặt đất, dưới mặt đất, bảo vệ cảnh quan, môi trường đối với khu vực chủ đầu tư được giao đầu tư, thời hạn của Giấy phép quy hoạch.

Đây là một biện pháp nhằm cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý quy hoạch xây dựng đô thị, xác định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước với nhà đầu tư, tránh cho nhà đầu tư phải làm nhiều thủ tục, nhất là việc thoả thuận về quy hoạch như hiện nay đang gây phiền hà cho các nhà đầu tư, đồng thời dễ phát sinh tuỳ tiện, tiêu cực trong quản lý quy hoạch đô thị.

Chương VI. Điều khoản thi hành

Chương này quy định về thời điểm Luật bắt đầu hiệu lực thi hành, điều khoản chuyển tiếp và trách nhiệm hướng dẫn thi hành Luật.

– Nghị định quy định về lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch đô thị;

– Nghị định quy định về quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị;

– Nghị định quy định về quản lý không gian ngầm.

Dự kiến các Nghị định trên sẽ được trình Chính phủ vào đầu tháng 11 năm 2009.

Ngoài ra, theo quy định của Luật, Bộ Xây dựng sẽ trực tiếp ban hành các Thông tư quy định và hướng dẫn nội dung và hồ sơ quy hoạch đô thị; Thông tư quy định và hướng dẫn việc cắm mốc và quản lý mốc giới theo quy hoạch đô thị.

[1] Qua khảo sát thực tế cho thấy, tỷ lệ đất dành cho giao thông so với đất xây dựng đô thị ở nước ta là rất thấp (7,06% ở Hà Nội, 4,5% ở thành phố Hồ Chí Minh, trong đó quy chuẩn hiện hành là 24-26% và thực tế một số nước trong khu vực là 22-24%), đặc biệt, tỷ lệ đất dành cho giao thông tĩnh còn quá thấp: dưới 0,5% ở Hà Nội, 0,1% ở thành phố HCM, trong khi đó theo quy chuẩn, tỷ lệ này là 3% và tỷ lệ này ở các nước trong khu vực là 3-3,5%; nhiều chỉ tiêu về môi trường không đạt quy chuẩn, ví dụ như tỷ lệ đất cây xanh đô thị chỉ đạt 5,54m2/người ở Hà Nội, 3-5m2/người ở thành phố Hồ Chí Minh trong khi quy chuẩn là trên 15m2/người, của các nước trong khu vực là 15-20m2/người

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai – Công ty luật Minh Khuê (biên tập)

Tổng Quan Về Quy Hoạch Không Gian Biển

Tổng quan về Quy hoạch không gian biển

I/ Mở đầu Trên đất liền, quy hoạch không gian có một lịch sử lâu dài trong quá trình phát triển về đất đai, đô thị. Đối với biển, đặc biệt khu vực ngoài khơi, quy hoạch không gian ít được biết đến.

Trên biển, thước đo môi trường được chú trọng bởi tiếp cận hệ sinh thái, nó được xem như một nội dung quan trọng trong quy hoạch không gian biển. Áp dụng cách tiếp cận này, hệ sinh thái của khu vực được lập quy hoạch sẽ tạo ra cả nhu cầu thiết yếu và giới hạn cho công tác lập quy hoạch. Ý nghĩa thực tiễn là gì, ngoài việc xét đến bản chất liên ngành liên ngành, điều này đặt ra một câu hỏi cần phải trả lời.

Tiếp đó, quy hoạch không gian biển đưa ra những câu hỏi thuộc về hệ tư tưởng. Như mọi quy hoạch, quy hoạch không gian biển có nhiều khung hướng dẫn trong đó có thể đã tích hợp các lợi ích với nhau.

Việc lập quy hoạch không nên làm một cách độc lập, và hơn nữa nó cũng không cần phải tìm mọi cách để không thực hiện. Nó luôn luôn là một tiến trình chính trị, nó luôn gắn với một mô hình cụ thể hay quan điểm nào đó.

Trước khi lập quy hoạch không gian biển, không những phải xem xét tính hợp lý, mà cần phải xem cả về bản sắc văn hóa và đặc tính của biển, mối quan hệ giữa hoạt động của con người với môi trường biển xung quanh và ước mơ của họ về một tương lai tốt hơn.

II/ Một số khái niệm về quy hoạch không gian biển

- Theo khái niệm của UNESCO, quy hoạch không gian biển (QHKGB)  là quá trình phân tích và định hướng các hoạt động của con người để đạt được mục tiêu về môi trường, xã hội và kinh tế, và thường đạt được thông qua thỏa thuận về chính trị.

–  QHKGB được phát triển từ ý tưởng quản lý công viên biển quốc tế “Dải san hô lớn – Great Barrier Reef” ở Australia. Từ đó tới nay QHKGB đã được sử dụng ở nhiều nước với những cách hiểu khác nhau nhưng có mục đích chung là áp dụng cách tiếp cận dựa trên việc phân định các cách thức sử dụng không gian biển hợp lý để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.

Tháng 12 năm 2004, Cục Môi trường, Thực phẩm và các Vấn đề nông thôn Vương Quốc Anh (DEFRA) đã nghiên cứu lựa chọn xây dựng và áp dụng quy hoạch không gian biển tại vùng ven biển và vùng biển ven bờ của Vương Quốc Anh. Theo định nghĩa của họ, QHKGB là cách tiếp cận tổng hợp, dựa vào chính sách nhằm quy định, quản lý và bảo vệ môi trường biển bao gồm xác định vị trí không gian (điều này rất phức tạp), tích lũy và tiềm tàng các mâu thuẫn trong sử dụng vùng biển và bằng cách đó để tiến đến phát triển bền vững.

Quy hoạch không gian biển là một phương thức thực tiễn nhằm hình thành và thiết lập phương án sử dụng không gian biển và giải quyết các mối tương tác giữa các mục đích sử dụng, để từ đó cân bằng các nhu cầu phát triển và nhu cầu bảo vệ các HST biển, và đạt được các mục tiêu kinh tế và xã hội theo hướng mở và có kế hoạch (DEFRA, 2008).

Tại Mỹ, người ta xem QHKGB không tách rời với quy hoạch không gian vùng bờ biển (gọi tắt là vùng bờ). Quy hoạch không gian biển và vùng bờ được định nghĩa: là một quá trình quy hoạch không gian toàn diện, thích ứng, tổng hợp, dựa vào HST và minh bạch. Quy hoạch không gian biển phải dựa trên cơ sở khoa học, phân tích hiện trạng và dự báo việc sử dụng đại dương, vùng bờ và hồ lớn (Great Lake). Quy hoạch không gian biển và vùng bờ xác định vùng phù hợp nhất cho các loại, mức độ hoạt động khác nhau để giảm xung đột giữa các đối tượng sử dụng, giảm thiểu tác động môi trường, an ninh và mục tiêu xã hội. Đối với nhóm thực hiện, quy hoạch không gian biển và vùng bờ cung cấp một quy trình nhằm xác định cách làm thế nào tốt hơn để sử dụng bền vững đại dương, vùng bờ và các hồ lớn và bảo vệ cho thế hệ hiện tại và tương lai.

Theo NOAA (2009), QHKGB là một quá trình quy hoạch không gian toàn diện, tích hợp, có tính minh bạch, có tính thích nghi, dựa trên quan điểm về hệ sinh thái, dựa trên tính khoa học nhằm mục đích phân tích hiện trạng và dự báo tương lai đối với việc sử dụng, khai thác biển, đại dương. Nó sẽ xác định khu vực thích hợp nhất đối với những dạng hoạt động khác nhau nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường, thuận tiện trong việc sử dụng, khai thác, tăng tính hiệu quả về kinh tế – xã hội và an ninh.

 Định nghĩa được cho là phổ biến nhất và được nhiều tác giả trên thế giới sử dụng: Quy hoạch không gian biển là một quá trình phân tích và phân bổ (do cơ quan nhà nước thực hiện) các hoạt động của con người theo không gian và thời gian ở các vùng biển để đạt các mục tiêu kinh tế, xã hội và sinh thái mà thường do các nhà chính trị xác định.

III/ Cách tiếp cận QHKGB ở Việt Nam

Ở Việt Nam, vấn đề quản lý tổng hợp biển theo không gian và quy hoạch không gian biển đang còn là những vấn đề mới mẻ đối với không chỉ các nhà quản lý và hoạch định chính sách, mà còn đối với ngay cả các nhà khoa học và quy hoạch.

Để QHKGB hiệu quả, ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới đã và đang sử dụng cách tiếp cận khác nhau, cụ thể:

– Dựa vào hệ sinh thái, cân bằng giữa mục tiêu và mục đích kinh tế, xã hội, sinh thái hướng tới phát triển bền vững;

– Tổng hợp, giữa các ngành và các cơ quan, giữa các cấp của chính phủ;

–  Dựa trên vùng hoặc địa điểm;

– Thích ứng, có khả năng học hỏi kinh nghiệm;

– Có tính chiến lược và dự báo, tập trung cho dài hạn;

Cũng như các quốc gia khác trên thế giới, vấn đề QHKGB ở Việt Nam được nhìn nhận cùng với vấn đề phân vùng chức năng. Phân vùng chức năng được xem là giai đoạn đầu của một chu trình quy hoạch và là công cụ áp dụng phổ biến trong quy hoạch sử dụng đất và sau đó là phân vùng quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên trên đất liền. Trong công tác quy hoạch phát triển vùng bờ và quản lý khu bảo tồn biển ở Việt Nam thì phân vùng chức năng đã trở thành công cụ được áp dụng từ những năm 2000 trở lại đây. Tuy nhiên, ở Việt Nam, khái niệm phân vùng mới đựơc hiểu theo nghĩa hẹp, thường để ám chỉ giai đoạn tổ chức không gian phát triển đô thị ven biển và vùng lân cận, trong quy hoạch sử dụng đất ven biển.

Ở cấp địa phương, QHKGB chỉ nên tiến hành ở vùng nội thủy – nơi quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn như trên lãnh thổ đất liền. Các vùng biển còn lại thuộc về thẩm quyền quy hoạch và quản lý ở cấp quốc gia, địa phương tham gia khai thác, sử dụng và quản lý. Đây là các vùng biển phát triển các hoạt động hàng hải, khai thác dầu khí, đánh bắt thủy sản, một phần nuôi trồng hải sản trên biển,… Việc tranh chấp chủ quyền vùng biển giữa các quốc gia trong khu vực Biển Đông phức tạp và có khả năng lâu dài. Kéo theo là những xung đột lợi ích về tài nguyên, môi trường giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ.

QHKGB được thực hiện theo 10 bước cơ bản sau:

1. Xác định nhu cầu và thành lập cơ quan thực hiện

2. Tiếp nhận hỗ trợ về tài chính;

3. Chuẩn bị quy hoạch (giai đoạn tiền quy hoạch);

5. Xác định và phân tích các điều kiện hiện có (hiện trạng);

6. Xác định và phân tích các điều kiện trong tương lai;

7. Xây dựng và phê duyệt kế hoạch quản lý không gian;

8. Thực hiện kế hoạch quản lý không gian;

9. Giám sát và đánh giá việc thực hiện;

10. Điều chỉnh kế hoạch quản lý không gian biển.

Ở nhiều nước, hệ thống bản đồ này được quy định cụ thể theo dạng hệ thống “hải chính” (tương tự như “địa chính”) phục vụ công tác quản lý biển như Mỹ, Canada, Úc, Trung Quốc, v.v. Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng, hiện có rất nhiều đề xuất về tiêu chuẩn để xác định ranh giới cho các khu vực biển hay đơn vị không gian biển.

Việc xác định tiêu chí để phân vùng không gian biển không chỉ có ý nghĩa quan trọng      đối với việc xây dựng sơ đồ phân vùng chức năng hay phân vùng khai thác, sử dụng biển mà còn có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phân tích và đánh giá các phương án QHKGB. Hiện nay, các nhà nghiên cứu và quản lý thường sử dụng hai mô hình trong quá trình xây dựng quy hoạch:

+ Mô hình quan hệ sử dụng không gian biển nhằm phân tích, đánh giá mối quan hệ giữa một hoạt động sử dụng không gian biển nào đó với một hoạt động sử dụng khác;

+ Mô hình quan hệ giữa sử dụng biển và môi trường biển (gồm cả hợp phần tài nguyên thiên nhiên trong môi trường biển).

Tuy nhiên, việc áp dụng mô hình nào cũng cần đến quá trình xác định các vùng không gian biển. Do vậy, cần sớm pháp quy hóa khung cơ bản cho việc phân vùng, khoanh định và thể hiện các đơn vị không gian biển. Đây là cơ sở cho việc triển khai hạ tầng kỹ thuật phục vụ công tác quản lý tổng hợp, thống nhất biển và hải đảo ở nước ta. 

Chi cục Biển (Nguồn: Vasi.gov.vn)

 

  Theo dòng sự kiện

TẠP CHÍ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG

Danh sách tạp chí TNMT Tạp chí tài nguyên và môi trường tháng 09-2019 Tạp chí tài nguyên và môi trường tháng 08-2019 Tạp chí tài nguyên và môi trường tháng 07-2019

DỰ BÁO THỜI TIẾT

Ninh Thuận

TP PR-TC

KV ven biển

Đêm 27, ngày 28/8/2020

35 – 370C

25 – 270C

 Mây thay đổi, chiều tối có mưa rào và dông chủ yếu ở khu vực vùng núi thuộc khu vực huyện Ninh Sơn và Bác Ái; ngày nắng nóng. Gió tây nam cấp 2, cấp 3.

Đêm 27, ngày 28/8/2020

26 – 350C

26 – 350C

 Mây thay đổi, chủ yếu không mưa, ngày nắng nóng. Gió tây nam cấp 2, cấp 3.

Đêm 27, ngày 28/8/2020

 Mây thay đổi, có mưa dông vài nơi, trong cơn dông đề phòng lốc xoáy, gió giật mạnh. Gió tây nam cấp 4, có lúc cấp 5, giật cấp 6. Sóng biển cao 1.0 đến 2.0m. Biển động nhẹ.

ẢNH HOẠT HOẠT ĐỘNG

LIÊN KẾT TRANG

THỐNG KÊ

Đang truy cập: 898 Tổng lượt truy cập: 6,527,109

Chặn ‘Lợi Ích Nhóm Trong Quy Hoạch’

ĐBQH Tạ Văn Hạ. Ảnh: Quang Vinh. PV: Thưa ông, khi đề cập đến vấn đề tham nhũng, lợi ích nhóm, thì “lợi ích nhóm trong quy hoạch” là cái dễ nhìn nhận nhất. Ông nhìn nhận như thế nào về vấn đề này?

Ông Tạ Văn Hạ: Đúng là trước kia ở một số nơi, có chuyện lợi dụng quy hoạch để làm những việc chưa đúng. Chưa đúng ở đây là nói đến lợi ích nhóm trong quy hoạch. Và theo tôi lợi ích nhóm là yếu tố chính. Thứ hai là do buông lỏng trong công tác quản lý, trình độ năng lực của cán bộ trực tiếp làm công tác quy hoạch còn yếu kém, có nhiều mặt hạn chế. Nhưng nói gì thì nói yếu tố lợi ích nhóm vẫn là đầu tiên cho nên mới có việc quy định được xây dựng là như thế này nhưng anh lại cố tình điều chỉnh theo hướng tăng lên. Một khu đô thị theo quy định chỉ có 10 khối nhà nhưng anh làm tăng lên, tức là tăng diện tích xây dựng, tăng mật độ xây dựng, giảm mật độ cây xanh, không gian văn hóa, giáo dục, y tế. Đó là sai phạm nghiêm trọng và cần phải xử lý cũng như có giải pháp xử lý dứt điểm. Vì vậy, chúng ta phải công khai minh bạch để người dân có điều kiện giám sát, cơ quan quản lý sớm phát hiện, kịp thời xử lý, khắc phục những tình trạng như vậy.

Ông vừa đề cập đến việc cần công khai quy hoạch để dân giám sát nhưng việc thay đổi quy hoạch, điển hình là thay đổi công năng, xây dựng vượt tầng tại các dự án xây nhà chung cư đang diễn ra rất phổ biến ở nhiều tỉnh, thành trên cả nước. Việc thay đổi quy hoạch, xây thêm vượt tầng người dân đã nhìn thấy, cơ quan chức năng cũng biết. Vậy theo ông, tại sao các sai phạm vẫn cứ tồn tại?

– Trách nhiệm đầu tiên thuộc về cơ quan quản lý Nhà nước, sau đó là của các cấp chính quyền địa phương. Những sai phạm lớn như vậy anh phải thấy chứ? Để xảy ra những chuyện như vậy chính là sự lãng phí, thất thoát lớn của xã hội, nhân dân. Do đó cần xử lý nghiêm trách nhiệm của những người làm công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực xây dựng.

Chúng ta hay đề cập đến sự liên kết theo nhóm lợi ích giữa “khối trong Nhà nước” và khối “ngoài Nhà nước” và dường như, có tình trạng quy hoạch được cấp chính quyền điều chỉnh theo ý muốn của doanh nghiệp. Vậy theo ông làm sao khắc phục được tình trạng này?

– Thứ nhất cần công khai minh bạch. Dự án này, quy hoạch này phải được dân biết, dân bàn, dân kiểm tra. Lúc bấy giờ công khai rõ ràng, minh bạch rồi sẽ làm giảm đi lợi ích nhóm, hạn chế việc điều chỉnh quy hoạch theo ý muốn. Thứ hai song song với nó phải có chế tài, xử lý thật nghiêm đối với những người có trách nhiệm quản lý nhưng cố tình làm sai, làm không đúng quy định của pháp luật về vấn đề quy hoạch.

Cái mà chúng ta lo ngại nhất chính là việc “tham nhũng chính sách”, cấu kết để làm chính sách có lợi cho một nhóm lợi ích. Theo ông việc điều chỉnh quy hoạch theo ý muốn của doanh nghiệp có phải là tham nhũng chính sách? Chúng ta cần xử lý vấn đề này như thế nào?

– Chuyện tham nhũng chính sách chúng ta đã đặt ra nhưng theo tôi ranh giới để xác định thế nào là tham nhũng chính sách chưa rõ ràng. Ở đây chủ yếu là các cơ quan quản lý Nhà nước khi trình các dự án luật đều nghiêng về hướng làm sao cho mình dễ dàng quản lý. Cho nên mới có chuyện điều khoản a, b đặt ra các thủ tục hành chính để gây phiền hà, không cần thiết. Do đó, trong quá trình xây dựng luật, các Ủy ban của Quốc hội là những cơ quan thẩm tra cần phải nêu lên vấn đề này, còn các ĐBQH cần lắng nghe ý kiến của nhân dân, làm sao hạn chế tối đa những tư tưởng ấy.

Từ việc quy hoạch bị thay đổi, hay thay đổi công năng nên ở một số dự án nhà chung cư người dân không được cấp sổ hồng do chủ đầu tư mắc sai phạm, làm không đúng giấy phép xây dựng. Theo ông cần xử lý vấn đề trên như thế nào để đảm bảo lợi ích của người mua nhà?

– Muốn xây dựng Nhà nước pháp quyền thì vấn đề thượng tôn pháp luật phải được đặt lên trên hết. Chủ đầu tư làm sai phải xử phạt chủ đầu tư, còn các cán bộ quản lý trong lĩnh vực xây dựng sai cũng phải xử lý. Tất nhiên trong quá trình xử lý phải chú ý đảm bảo hài hòa lợi ích của người dân – là những người mua nhà có nhu cầu ở thực sự, làm sao để dân vừa không thiệt thòi về vật chất và đồng thời đảm bảo điều kiện sống cho họ.

Trân trọng cảm ơn ông!

Bạn đang xem bài viết Quy Hoạch Sử Dụng Đất Là Gì? Và Quy Định Liên Quan trên website 3mienmoloctrungvang.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!