Xem Nhiều 1/2023 #️ Suy Tuyến Yên Toàn Bộ # Top 2 Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Xem Nhiều 1/2023 # Suy Tuyến Yên Toàn Bộ # Top 2 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Suy Tuyến Yên Toàn Bộ mới nhất trên website 3mienmoloctrungvang.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nồng độ T4 tự do và TSH cần được xác định. Nồng độ của cả hai thường thấp trong suy tuyến yên toàn bộ; một mẫu TSH bình thường với T4 tự do thấp cũng có thể xảy ra. Ngược lại, tăng nồng độ TSH với mức độ T4 tự do thấp chỉ ra một bất thường của tuyến giáp.

Nồng độ cortisol huyết thanh đơn thuần không phải là chỉ số đáng tin cậy về chức năng của trục ACTH – thượng thận, mặc dù mức cortisol huyết thanh vào buổi sáng rất thấp (<3,5 μg / dL trong khoảng thời gian 7:30 đến 9:00 sáng) gần như chắc chắn cho thấy sự thiếu hụt cortisol. Một trong những thử nghiệm kích thích nên được thực hiện. Test kích thích ACTH ngắn là một test kích thích cortisol an toàn và ít cần làm các xét nghiệm chuyên sâu về thiếu hụt cortisol hơn so với test dung nạp insulin. Trong khi thực hiện test kích thích ACTH ngắn, dùng ACTH 250 mcg tổng hợp tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp (test liều chuẩn) hoặc 1 mcg tiêm tĩnh mạch (test liều thấp) và mức cortisol máu được đo ngay trước và sau 30 và 60 phút sau khi dùng ACTH tổng hợp. Cortisol sẽ tăng đáng kể; đỉnh cortíol < 20 μg / dL là bất thường. Tuy nhiên, test kích thích ACTH ngắn là bất thường trong thiếu hụt cortisol thứ phát chỉ khi xét nghiệm được thực hiện ít nhất 2-4 tuần sau khi xuất hiện sự thiếu hụt; trước thời điểm này, các tuyến thượng thận chưa bị teo và vẫn đáp ứng với ACTH ngoại sinh.

Cả test kích thích ACTH ngắn và test dung nạp insulin đơn thuần sẽ phân biệt giữa bệnh suy tuyến thượng thận tiên phát (bệnh Addison) và suy thượng thận thứ phát (suy tuyến yên). Các xét nghiệm làm rõ sự khác biệt này và để đánh giá trục dưới đồi- tuyến yên- thượng thận được mô tả dưới bệnh Addison.

Test kích thích hormon bài tiết corticotropin (CRH) được thực hiện để phân biệt giữa các rối loạn nguyên phát, thứ phát (tuyến yên), và tam phát (dưới đồi) gây suy thượng thận. CRH 1 mcg / kg được tiêm tĩnh mạch nhanh. Nồng độ ACTH và cortisol huyết thanh được đo tại thời điểm 15 phút trước, sau đó là lúc mẫu nền và 15, 30, 60, 90 và 120 phút sau khi tiêm. Tác dụng ngoại ý bao gồm giữ nước tạm thời, mùi vị kim loại trong miệng, và hạ huyết áp nhẹ thoáng qua.

Nồng độ Prolactin thường được đo thường quy hormon này thường tăng lên đến 5 lần giá trị bình thường khi có một khối u tuyến yên lớn, thậm chí nếu u không sản xuất prolactin. Khối u chèn ép cuống tuyến yên, ngăn dopamine xuống tuyến yên, chất ức chế sản xuất và giải phóng prolactin từ tuyến yên. Bệnh nhân có tăng prolactin máu như thế thường có suy các hormon sinh dục và biểu hiện chứng suy sinh dục.

Việc kiểm tra thiếu hụt GH ở người lớn không được khuyến cáo trừ khi điều trị GH được dự tính (ví dụ như giảm năng lượng không giải thích được và chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân suy tuyến yên, trong khi các hoóc môn khác đã được thay thế hoàn toàn). Thiếu GH bị nghi ngờ nếu có thiếu hụt ≥ 2 hormon khác của tuyến yên. Vì mức GH thay đổi theo thời gian trong ngày và các yếu tố khác và khó giải thích, nồng độ yếu tố tăng trưởng giống insulin 1 (IGF-1), phản ánh nồng độ GH, được sử dụng; mức thấp gợi ý thiếu hụt GH, nhưng mức bình thường không loại trừ chẩn đoán. Một test kích thích giải phóng hormon GH (xem Thiếu hormone tăng trưởng ở trẻ em : Chẩn đoán) có thể cần thiết.

Mặc dù sự hữu ích của test kích thích chức năng tuyến yên sử dụng các hormon kích thích vẫn được thiết lập, nếu xét nghiệm được chọn, hiệu quả nhất để đánh giá nhiều hormon đồng thời. Hormon kích thích tăng trưởng (1 mcg / kg), CRH (1 mcg / kg), TRH (200 mcg) và GnRH (100 mcg) được cho kết hợp với nhau trong khoảng từ 15 đến 30 giây. Glucose, cortisol, GH, TSH, prolactin, LH, FSH, và ACTH được đo trong khoảng thời gian thường xuyên cho 180 phút tiếp theo. Đáp ứng thông thường tương tự như những đáp ứng đã được mô tả trước đó cho từng thử nghiệm riêng lẻ.

Hậu Quả Của Suy Giảm Chức Năng Tuyến Yên

Suy giảm chức năng tuyến yên hay là giảm hormone tuyến yên là tình trạng tuyến yên hoạt động yếu đi, không đủ khả năng hoạt động sản sinh ra đủ hormone cần thiết cho cơ thể. Tình trạng này dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng cho người mắc phải.

1. Nguyên nhân gây suy giảm chức năng tuyến yên

Có nhiều nguyên nhân gây ra suy giảm chức năng tuyến yên. Các bác sĩ chuyên gia đưa ra các nguyên nhân chủ yếu là:

Do người bệnh bị viêm nhiễm các bệnh giang mai, lao, nấm, nhiễm khuẩn mủ gây viêm não, màng não;

Người bệnh bị nghẽn mạch trong xoang, viêm động mạch thái dương, phình động mạch cảnh, chấn thương sọ não gây chảy máu não;

Bị hoại tử tuyến yên sau sinh: Rối loạn tuần hoàn và chảy máu nhiều, nhiễm khuẩn huyết trong thời gian sinh hoặc nạo phá thai, do co thắt động mạch, nghẽn tắc trong các mạch máu tuyến yên dẫn đến hoại tử thuỳ trước tuyến yên;

Nhồi máu trong tuyến yên ở những bệnh nhân tiểu đường bị thoái hóa mạch máu.

2. Hậu quả của suy giảm chức năng tuyến yên

Và khi bị suy giảm chức năng tuyến yên đồng nghĩa với việc sản xuất các hormone tại tuyến yên không còn bình thường. Cụ thể là các hormone tuyến yên có tác dụng kích thích sự hoạt động các tuyến khác trong cơ thể gây nên hậu quả nặng nề như:

Thiếu hormone hướng sinh dục: Gồm LH và FSH, có tác dụng kích thích tinh hoàn ở nam và buồng trứng ở nữ, ảnh hưởng đến sự sinh sản.

Thiếu hormone kích thích tuyến giáp (TSH), gây suy giáp.

Thiếu hormone hướng vỏ thượng thận (corticotropin, ACTH…).

Thiếu hormone tăng trưởng (GH): Tình trạng này nếu xảy ra trước tuổi dậy thì sẽ gây chậm tăng trưởng. Người trưởng thành cũng bị ảnh hưởng.

Tình trạng suy giảm chức năng tuyến yên thường diễn ra từ từ và càng trở nên trầm trọng nếu không được điều trị kịp thời. Người bệnh sẽ có các triệu chứng không đặc hiệu, khó nhận biết như mệt mỏi, lạnh, yếu cơ, ăn không ngon, sụt cân, đau bụng, huyết áp thấp, nhức đầu, rối loạn thị giác.

Cụ thể hơn đối với phụ nữ bị suy giảm chức năng tuyến yên thường có dấu hiệu mãn kinh sớm, bốc hỏa, khô âm đạo và đau khi giao hợp. Ở nam giới thường bị rối loạn tình dục và giảm hệ lông ở cả hai giới.

3. Điều trị suy giảm chức năng tuyến yên

Để điều trị suy giảm chức năng tuyến yên, người bệnh cần tuân thủ chỉ định dùng thuốc của bác sĩ. Đối với bệnh nhân thiếu hormone sinh dục, bác sĩ sẽ cho dùng oestrogen (nữ) hoặc testosterone (nam) ở liều thấp nhất có thể đem lại hiệu quả. Bệnh nhân bị suy tuyến yên do bệnh lý của vùng dưới đồi cũng có thể điều trị thành công bằng hormone GnRH giúp phục hồi khả năng sinh dục và sinh sản cho cả nam và nữ.

Trong khi bệnh nhân bị thiếu hormone tuyến giáp do suy chức năng tuyến yên sẽ được chỉ định làm xét nghiệm chức năng tuyến thượng thận và điều trị bằng steroid trước khi dùng hormone tuyến giáp thay thế. Người bị thiếu hormone vỏ thượng thận sẽ được dùng hydrocortisone hay cortisone.

Việc điều trị suy giảm chức năng tuyến yên, người bệnh nên xác định phải điều trị suốt đời, liên tục và được theo dõi điều trị chặt chẽ. Việc sử dụng thuốc điều trị cần được tuân thủ nghiêm khắc như không tự ý ngưng thuốc, không tự ý dùng thuốc, khám, tái khám theo dặn dò của bác sĩ và khi có dấu hiệu sốt, buồn nôn, nôn mửa, yếu, hoa mắt cần báo ngay cho bác sĩ điều trị.

Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là một trong những bệnh viện không những đảm bảo chất lượng chuyên môn với đội ngũ y bác sĩ đầu ngành, hệ thống trang thiết bị công nghệ hiện đại mà còn nổi bật với dịch vụ khám, tư vấn và chữa bệnh toàn diện, chuyên nghiệp; không gian khám chữa bệnh văn minh, lịch sự, an toàn và tiệt trùng tối đa.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

Chức Năng Tuyến Yên Là Gì? Tuyến Yên Nằm Ở Đâu?

Tuyến yên là một trong những tuyến nội tiết quan trọng nhất của cơ thể. Chính vì vậy khi tuyến yên bị suy giảm thường gây ra nhiều bệnh lý nghiêm trọng cho cơ thể. Vậy vị trí và chức năng tuyến yê n cụ thể là gì?

1. Vị trí tuyến yên ở đâu?

Tuyến yên nằm ở nền sọ, phía sau mũi với kích thước bằng khoảng hạt đậu. Tuyến yên rất gần với một phần khác của não bộ, được gọi là vùng dưới đồi (hạ đồi). Nó nằm dính liền dưới não và được che chở bằng một cấu trúc xương.

Mặc dù nhỏ như vậy, tuyến yên cũng được chia thành hai ngăn gọi là hai “thùy”. Thùy trước hơi lớn hơn thùy sau. Thùy sau là nơi tập trung của khoảng 50.000 đầu mối dây thần kinh liên lạc khắp mọi phần trong cơ thể. Hai phần chính này của tuyến yên phóng thích tiết nội tiết tố khác nhau nhắm đến các cơ quan đích khác nhau của cơ thể.

2. Chức năng tuyến yên là gì?

Tuyến yên trước có vai trò sản xuất các hormone có tác dụng điều hòa các hoạt động của cơ thể trên phạm vi rất rộng, từ tăng trưởng đến sinh sản. Sự sản xuất hormone từ thùy trước tuyến yên được kiểm soát bởi vùng dưới đồi. Có ít nhất bảy loại hormone khác nhau được tiết ra bởi thùy trước tuyến yên. Thùy sau tuyến yên chỉ sản xuất hai loại hormone.

Các hormone tuyến yên sau đó có thể kích thích tuyến nội tiết đích để chúng sản xuất hormone riêng của nó giúp làm tăng tốc độ chuyển hóa của cơ thể.

Những hóa chất do các tuyến yên tiết ra đi thẳng vào máu để được dẫn đi khắp cơ thể. Hệ thống nội tiết như một cơ quan điều tiết nhiều hoạt động diễn ra trong cơ thể. Tuyến yên, một bộ phận của hệ thống nội tiết, điều khiển và kiểm soát nhiều chức năng trong cơ thể. Thật ra tuyến yên là thành phần quan trọng nhất của cơ thể trong việc điều tiết sự tăng trưởng, tạo sữa và kiểm soát hoạt động của tất cả các tuyến nội tiết khác.

Tuyến yên cũng điều khiển cả sự tình dục của con người. Nó cũng điều hòa quá trình trao đổi chất, tức là quá trình biến đổi thực hành nhiều dạng năng lượng khác nhau. Đồng thời chính tuyến yên có ảnh hưởng đến hoạt động của vài bắp cơ, của thận và nhiều cơ quan khác.

3. Coi chừng suy tuyến yên

Có thể thấy, chức năng tuyến yên đóng vai trò quan trọng đối với cơ thể. Do đó bạn cần cảnh giác với bệnh lý suy tuyến yên. Tình trạng suy tuyến yên thường xảy ra từ từ, có thể hàng tháng đến hàng năm. Sau đó bệnh khởi phát triệu chứng một cách đột ngột. Các triệu chứng thường không đặc hiệu. Bao gồm: mệt mỏi, lạnh, yếu cơ, ăn không ngon, sụt cân, đau bụng, huyết áp thấp, nhức đầu, rối loạn thị giác,…

Suy giảm tuyến yên thường gây ra nhiều bệnh lý nghiêm trọng cho cơ thể. Chậm tăng trưởng, mất khả năng sinh sản, suy giảm chức năng tuyến giáp … là những hệ quả thường xảy ra ở những người mắc căn bệnh này. Bệnh suy tuyến yên thậm chí còn đe dọa tính mạng người bệnh, nhất là trường hợp suy cấp do có khối u lớn.

Vì vậy khi có triệu chứng cảnh báo tình trạng suy tuyến yên, người bệnh nên đến ngay bệnh viện để được bác sĩ chuyên khoa thăm khám, chẩn đoán và tư vấn điều trị hiệu quả.

Dược Lý Hormon Tuyến Yên Và Hormon Tuyến Vỏ Thượng Thận

Central Pharmacy

Dược Sĩ Lưu Anh , 12 phút đọc

Cập nhật lần cuối:

1 ĐẠI CƯƠNG VỀ HORMON

1.1 Khái niệm hormon

Hormon (còn gọi là nội tiết tố) là những sản phẩm hóa học được tiết ra từ tuyến nội tiết. Ngày nay nhờ khoa học phát triển người ta nhận thấy ngoài tuyến nội tiết còn nhiều tổ chức tế bào khác, thậm chí cả tế bào thần kinh cũng tiết ra nội tiết tố. Chính vì thế định nghĩa cổ điển về hormon không còn phù hợp.

Hiện nay người ta định nghĩa hormon là những chất truyền tin hoá học được các tế bào đặc biệt sản xuất ra với một lượng rất nhỏ. Hormon được bài tiết vào máu và được vận chuyển tới các tế bào đáp ứng để điều hoà chuyển hoá và hoạt động của các tế bào.

Khác với hormon, các chất dẫn truyền thần kinh được tế bào thần kinh bài tiết vào khe synap và tác dụng lên các receptor tại các tế bào thần kinh hoặc tế bào nhận liền kề. Tuy nhiên, hormon và chất dẫn truyền thần kinh rất giống nhau về cơ chế và có mối quan hệ mật thiết vối nhau nên hệ thần kinh và hệ nội tiết thưòng được gọi chung là hệ thống thần kinh – nội tiết.

1.2 Đặc điểm chung

– Mỗi hormon đều có tác dụng đặc hiệu trên một loại tế bào đích của cơ quan hoặc tổ chức nhất định của cơ thể.

– Hormon hoạt động theo cơ chế điều hoà xuôi và điều hoà ngược (feedback) qua trục vùng dưới đồi – tuyến yên – tuyến đích. Vì vậy một tuyến nào đó bị rối loạn sẽ ảnh hưởng tới sự bài tiết của hormon tuyến khác và sẽ gây rối loạn tuyến khác.

– Hormon bài tiết theo nhịp sinh học. Tuỳ loại hormon mà sự bài tiết có thể theo chu kỳ ngày đêm (glucocorticoid), theo tháng (hormon sinh dục nữ), theo mùa (hormon tuyến giáp).

– Hoạt tính của hormon được tính bằng đơn vị sinh học (ví dụ: đơn vị ếch, đơn vị thỏ, đơn vị mèo…), đơn vị quốc tế (IU) hoặc bằng đơn vị khối lượng (mg, fig…).

1.3 Áp dụng chung

Hormon thường được dùng trong các trường hợp sau:

– Dùng thay thế hoặc bổ sung khi cơ thể thiếu hormon: ví dụ dùng hormon sinh dục nữ cho phụ nữ cắt buồng trứng hoặc dùng các corticoid cho người thiểu năng tuyến vỏ thượng thận…

– Dùng chẩn đoán bệnh của tuyến nội tiết. Ví dụ: dùng dexamethason chẩn đoán hội chứng Cushing.

– Ngoài ra còn có các áp dụng khác tuỳ thuộc vào từng hormon cụ thể. Ví dụ: hormon glucocorticoid dùng làm thuốc chống viêm, chống dị ứng và ức chế miễn dịch, hormon androgen dùng làm thuốc tăng đồng hoá protid…

1.4 Phân loại

* Dựa vào cơ quan bài tiết có các nhóm sau:

* Dựa vào cấu trúc hoá học: chia 2 nhóm

– Hormon có cấu trúc protein và acid amin: hormon vùng dưới đồi, tuyến yên, tuyến tụy, tuyến giáp và tuyến cận giáp.

– Hormon tuyến tuỷ thượng thận (adrenalin) cấu trúc acid amin nhưng không trình bày ở chương này. Nhóm thuốc này được trình bày kỹ ở phần thuốc tác dụng trên hệ thần kinh thực vật.

– Hormon có cấu trúc steroid: hormon vỏ thượng thận, hormon sinh dục.

1.5 Cơ chế tác dụng của hormon

Cơ chế tác dụng của hormon chính là quá trình truyền thông tin từ ngoài vào trong tế bào đích. Tế bào đích mang thụ thể đặc hiệu cho mỗi hormon. Khi hormon được gắn với thụ thể thì phức hợp hormon – thụ thể, sẽ tạo ra một loạt các phản ứng nhằm truyền thông tin trên bề mặt vào trong tế bào đích. Tuỳ vào bản chất hoá học của mỗi hormon mà vị trí gắn của hormon với receptor có thể xảy ra trên màng, trong bào tương hay trong nhân tế bào.

Cơ chế tác dụng chia 2 loại chính:

1.6 Hormon có cấu trúc protein hoặc acid amin

Phức hợp thụ thể và hormon sẽ hoạt hoá adenylcyclase trên màng tế bào. Sau đó dưới tác dụng của adenylcyclase đã hoạt hoá, AMP vòng (AMPc) được tạo thành từ ATP sẽ gắn với protein điều hoà làm tăng tổng hợp proteinkinase, do đó làm thay đổi chức năng tế bào. Như vậy, bằng cách này hormon chỉ tác động lên receptor trên màng để hoạt hoá enzym trên màng tế bào chứ không tác động trực tiếp vào những thay đổi ở bên trong tế bào. Chính AMPc gây ra tất cả các tác dụng còn lại của hormon ở trong tế bào. Bởi vậy gọi hormon là chất truyền tin thứ nhất (chất truyền tin ngoài tế bào) còn AMPc là chất truyền tin thứ 2 (chất truyền tin nội bào). Đây là con đường truyền thông tin chính từ ngoài tế bào vào trong tế bào của hầu hết các hormon có cấu trúc protein hoặc acid amin

Một số hormon sau khi kết hợp với receptor thì phức hợp hormon – receptor có tác dụng thuỷ phân phospholipid ở màng tế bào tạo ra những thông tin nội bào là inositol triphosphat (IP3) và diacyl glycerol (DG). IP3 có tác dụng mở kênh Ca++, còn DG hoạt hoá protein kinase.

Riêng insulin sau kết hợp với receptor trên màng sẽ làm thay đổi cấu trúc phân tử receptor và làm cho phần receptor bên trong tế bào trở thành proteinkinase hoạt hoá. Tiếp đó protein kinase này sẽ phosphoryl hóa nhiều chất khác nhau ở trong tế bào.

1.7 Hormon có cấu trúc steroid

Các hormon loại này tác dụng theo cơ chế hoàn toàn khác so với hormon có cấu trúc protein. Những hormon này có trọng lượng phân tử nhỏ (< 300 dalton) nên dễ dàng xâm nhập vào trong tế bào. Tới tế bào đích, hormon tách khỏi protein vận chuyển, qua màng tế bào bằng cách khuyếch tán thụ động, rồi kết hợp với receptor trong nhân (hoặc receptor ở bào tương và được vận chuyển thẳng vào nhân tế bào). Ở nhân, hormon được gắn vào những vị trí đặc hiệu của ADN. Những phức hợp hormon – receptor là những tác nhân kích thích sự sao chép thông tin. Trong phần tiếp theo chúng tôi chỉ trình bày một số hormon được dùng rộng rãi trong điều trị.

2 HORMON TUYẾN YÊN

2.1 Hormon kích thích vỏ thượng thận

ACTH (Adrenocorticotropic hormon)

ACTH kích thích vỏ thượng thận bài tiết ra corticosteroid, chủ yếu là glucocorticoid. Chính vì vậy tác dụng của glucocorticoid và ACTH tương tự như nhau. Điểm khác nhau là ACTH không ảnh hưỏng tới chức năng Chế phẩm làm thuốc của ACTH được chiết từ thùy sau tuyến yên của động vật. Thuốc dễ bị phân huỷ ở đường tiêu hoá nên chỉ dùng tiêm bắp và tĩnh mạch. Thời gian duy trì tác dụng 6 giờ. Để tăng thời gian tác dụng người ta phối hợp với kẽm phosphat (tác dụng kéo dài được 24 giờ).

Điều trị viêm khớp, viêm đa khớp không do nhiễm khuẩn.

Hen phế quản, tổn thương da, bệnh bạch cầu cấp, dị ứng.

Phòng suy thượng thận sau khi dùng glucocorticoid lâu dài.

Phù, tăng huyết áp, tăng dị hóa, chậm lớn, mất ngủ…

Tăng huyết áp nặng, đái đường, loét dạ dày, viêm nội tâm mạc cấp, thiểu năng tim nặng.

– Chế phẩm: có 2 dạng ACTH thường: 20 UI/mL, 40 UI/mL và 80 UI/mL. ACTH chậm (phối hợp với kẽm phosphat) ống lmg. lmg ACTH = 1 UI.

– Liều thường dùng: 40mg/24h chia 4 lần, tiêm bắp hoặc 5 – 10mg/24h truyền tĩnh mạch.

Oxytocin

Oxytocin bị phá huỷ bởi men tiêu hoá, do đó không dùng theo đường uống, chỉ sử dụng theo đường tiêm. Trong cơ thể oxytocin cũng dễ bị phá huỷ bởi enzym peptidase nên thời gian tác dụng ngắn. Thuốc thải trừ qua nước tiểu.

Oxytoxin được sử dụng trong các trường hợp sau:

Ống tiêm 1mL chứa 2, 5 và 10UI.

Liều khởi đầu thường dùng 5UI tiêm tĩnh mạch hoặc pha trong dịch truyền để truyền tĩnh mạch sau đó tuỳ tình trạng cụ thể có thể dùng thêm từ 5 – 20 UI.

2.2 Hormon chống bài niệu

– Chống bài niệu (Anti Diuretic Hormon), gọi tắt là ADH.

Do đó có 2 tên: ADH và vasopressin. Tên thường gọi là ADH. ADH được thuỳ sau tuyến yên bài tiết ra. Trong cơ thể cũng bị phá huỷ bởi peptidase nên thời gian tác dụng ngắn (30 phút – 2 giờ).

Điều hoà tái hấp thu nước ở ống lượn xa và co cơ trơn mạch máu, trong đó tác dụng trên chuyển hoá nước là tác dụng chính. Cơ chế tác dụng chủ yếu là do giải phóng enzym hyaluzonidase làm tăng tái hấp thu nước và chống bài niệu.

Tác dụng trên cơ trơn chỉ thể hiện rõ khi dùng liều rất cao (hàng trăm lần so với liều chống bài niệu): gây co cơ trơn mao mạch và động mạch, cơ trơn dạ dày, ruột và tử cung. Tử cung không có thai hoặc có thai ở giai đoạn đầu nhạy cảm với vasopressin hơn oxytocin. Những tháng CUỐI thì ngược lại.

Điều trị bệnh đái tháo nhạt.

Ống tiêm 4microgam/mL hoặc 20 UI/mL. Dung dịch nhỏ mũi (vì thuốc hấp thu qua niêm mạc mũi gây tác dụng toàn thân) 0,l microgam/mL hoặc 20 UI/mL, 50 UI/mL, lọ 2,5; 5 và 12mL. (1UI tương đương 2 – 3 microgam). Tiêm bắp 2 – 5 IU (ống tiêm lmL chứa 5 IU).

3 HORMON VỎ THƯỢNG THẬN

Hormon vỏ thượng thận gồm 3 loại: Mineralocorticoid do lớp cầu (lớp ngoài cùng) tiết ra. Glucocorticoid do lớp bó (lớp giữa) tiết ra. Androgen do lớp lưới (lớp trong) tiết ra.

3.1 Glucocorticoid

Glucorticoid tự nhiên do vùng bó vỏ thượng thận sản xuất ra gồm có 2 chất là hydrocortison (cortisol) và cortison.

Glucocorticoid tổng hợp gồm rất nhiều chất khác nhau.

Các glucocorticoid tự nhiên và dẫn xuất của nó được dùng qua nhiều đường: uống, tiêm bắp, tiêm dưới da, tiêm tĩnh mạch, phun mù và bôi trên da.

Nhìn chung các glucocorticoid hấp thu tốt qua đường tiêu hoá. Phân bố vào tất cả các mô trong cơ thể, qua được nhau thai và sữa mẹ một lượng nhỏ.

Thuốc liên kết với protein huyết tương trên 90%, chủ yếu là globulin. Chuyển hoá ở gan và thải trừ chủ yếu qua thận.

Ở nồng độ sinh lý, các glucocorticoid góp phần vào quá trình cân bằng nội môi, đồng thời tăng khả năng chịu đựng của cơ thể trước stress, áp lực. Ngoài ra nó còn có tác dụng duy trì các chức năng khác của cơ thể.

Glucocorticoid có tác dụng trên chuyển hoá glucid, protid, lipid và chuyển hoá muối nước.

– Chuyển hoá glucid: glucocorticoid làm tăng quá trinhg tạo glycogen ở gan, cùng với đó kích thích enzym gan tăng tạo glucose từ protein và acid amin. Ngoài ra, nó còn làm tăng tổng hợp glucagon, giảm tổng hợp insulin và đối kháng với tác dụng của insulin vì vậy làm tăng đường huyết. Khi dùng lâu dài có thể gây tháo đưòng và làm nặng thêm bệnh đái tháo đường.

– Chuyển hoá protid: glucocorticoid ức chế quá trình tổng hợp protid, đồng thời tăng dị hoá protid, chuyển acid amin từ các bộ phận như cơ, xương vào gan, nhằm tăng tân tạo glucose. Do đó khi điều trị dài ngày vơi glucocorticoid sẽ gây teo cơ, xốp xương, tổ chức liên kết kém bền vững.

– Chuyển hoá lipid: làm thay đổi sự phân bố lipid trong cơ thể: tăng tổng hợp mỡ ở thân, giảm tổng hợp mỡ ở chi. Khi dùng corticoid lâu dài, mỡ sẽ tập trung nhiều ở mặt, nửa thân trên gây hội chứng mặt trăng tròn hay gù trâu – “Cushing syndrom”.

Glucocorticoid cũng kích thích dị hoá lipid trong các mô mỡ và làm tăng tác dụng của các chất gây tiêu mỡ khác (chủ yếu ỏ phần chi). Hậu quả là làm tăng acid béo tự do trong huyết tương và tăng tạo các chất cetonic trong cơ thể.

Glucocorticoid tăng thải kali qua nước tiểu gây giảm K + máu.

Tăng thải calci qua thận, giảm tái hấp thu calci ở ruột (đối kháng với tác dụng của vitamin D) làm nồng độ Ca++ máu giảm. Khi nồng độ Ca++ máu giảm, cơ thể sẽ điều hoà nồng độ Ca++ máu bằng cách gây cường tuyến cận giáp, kích thích các hủy cốt bào, làm tiêu xương để rút Ca++ ra. Hậu quả là làm xương thưa, xốp, dễ gãy, còi xương, chậm lớn.

Tăng tái hấp thu natri và nước do đó gây phù và tăng huyết áp.

– Trên thần kinh trung ương: thuốc gây kích thích như bồn chồn, mất ngủ, ảo giác hoặc các rối loạn về tâm thần khác.

– Tiêu hoá: tăng tiết dịch vị (acid và pepsin), giảm sản xuất chất nhày (chất bảo vệ) do đó dễ gây loét dạ dày tá tràng.

– Trên máu: làm giảm bạch cầu ưa acid, giảm số lượng tế bào lympho, tế bào mono và tế bào ưa base. Nhưng tăng tạo hồng cầu, tiểu cầu, bạch cầu trung tính và tăng quá trình đông máu.

– Tổ chức hạt: ức chế tái tạo tổ chức hạt và nguyên bào sợi làm chậm lên sẹo và chậm lành vết thương.

Glucocorticoid ức chế enzym phospholipase A2 bằng cách kích thích tổng hợp lipocortin, đồng thời làm giảm tổng hợp leucotrien cũng như prostaglandin.

Ngoài ra nó còn có tác dụng ức chế dòng bạch cầu đơn nhân, đa nhân, lympho bào đi vào mô để gây khởi phát phản ứng viêm.

Vì vậy thuốc có tác dụng chống viêm do mọi nguyên nhân (cơ học, hoá học, miễn dịch và nhiễm khuẩn).

Khi dị nguyên xâm nhập vào cơ thể, nó sẽ kết hợp đặc hiệu với kháng thể IgE. Phức hợp này sẽ gắn vào bề mặt của dưỡng bào (tế bào mast) và bạch cầu làm hoạt hoá phospholipase C. Phospholipase C xúc tác cho quá trình chuyển phosphatidyl inositoldiphosphat để tạo ra diacylglycerol và inositol triphosphat. Từ đó làm thay đổi tính thấm của dưỡng bào và làm vỡ bạch cầu, giải phóng ra các chất trung gian của phản ứng dị ứng như histamin, serotonin, bradykinin…

Glucocorticoid ức chế phospholipase C do đó làm giảm giải phóng histamin và các chất trung gian hoá học gây dị ứng. Vì vậy thuốc có tác dụng chống dị ứng.

Glucocorticoid ức chế miễn dịch do làm giảm số lượng tế bào lympho (vì thuốc làm teo các cơ quan lympho), ức chế chức năng thực bào, ức chế sản xuất kháng thể, ức chế giải phóng và tác dụng của các enzym tiểu thể, ức chế hoá hướng động bạch cầu, ức chế sự di chuyển của bạch cầu.

Phù, tăng huyết áp do giữ natri và nước. Loét dạ dày, tá tràng. Vết thương chậm lên sẹo. Dễ nhiễm trùng. Tăng đưòng huyết hoặc làm nặng thêm bệnh đái tháo đường. Nhược cơ, teo cơ, mỏi cơ. Loãng xương, xốp xương. Rối loạn phân bố mỡ. suy thượng thận cấp khi ngừng thuốc đột ngột.

Ngoài ra có thể gặp các tác dụng không mong muốn khác như: đục thuỷ tinh thể, mất ngủ, rối loạn tâm thần. Khi dùng tại chỗ có thể gây viêm da, teo da, rạn da…

– Điều trị thay thế khi vỏ thượng thận không tiết đủ hormon (thiểu năng vỏ thượng thận cấp và mạn hoặc thiểu năng thượng thận thứ phát do rối loạn vùng dưới dồi, rối loạn tuyến yên).

– Điều trị các bệnh tự miễn như: viêm khớp dạng thấp, thấp tim, lupus ban đỏ hệ thống.

– Dùng trong các phẫu thuật cấy ghép các cơ quan, nội tạng trong cơ thể để chống phản ứng thải ghép.

– Điều trị viêm cơ, khớp, viêm da…

– Chẩn đoán hội chứng Cushing.

– Chống chỉ định: loét dạ dày, tá tràng; mẫn cảm với thuốc; nhiễm nấm, virus; đang dùng vaccin sống.

– Thận trọng: đái tháo đường; phù, cao huyết áp; loãng xương. Do đó phải theo dõi huyết áp và glucose/máu.

Các thuốc trong nhóm dù có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp đều có các đặc điểm tác dụng như nhau chỉ khác nhau về mức độ chống viêm, giữ muối nước và thời gian tác dụng. Dựa vào thời gian tác dụng chia 3 nhóm.

Hydrocortison (Cortisol), cortison. Cortison và hydrocortison là sản phẩm tự nhiên, tác dụng chông viêm yếu hơn các dẫn xuất tổng hợp, hai thuốc này có mức độ tác dụng tương tự như nhau. Chúng thường được dùng điều trị các bệnh do thiểu năng tuyến thượng thận và dùng thay thế khi cơ thể thiếu hormon tuyến thượng thận.

Prednison, prednisolon, methylprednisolon và triamcinolon. Các thuốc này có tác dụng chống viêm mạnh hơn hydrocortison 4 -5 lần, đồng thời ít giữ natri và nước nên ít gây phù và tăng huyết áp hơn, nhưng ức chế ACTH mạnh.

Prednison, prednisolon và methylprednisolon chủ yếu dùng làm thuốc chống viêm, thuốc ức chế miễn dịch (điều trị các bệnh tự miễn). Triamcinolon chủ yếu dùng chống viêm. Thuốc này ít ảnh hưởng tới chuyển hoá muối nước nhưng gây nhiều tác dụng không mong muốn với cơ, xương, khớp nhất là triamcinolon chậm (Kenacort). Triamcinolon không dùng cho người dưới 16 tuổi.

Dexamethason và betamethason là dẫn xuất có chứa fiuor của prednisolon, ít ảnh hưởng tới chuyển hoá muối nước, có tác dụng chống viêm mạnh hơn hydrocortison khoảng 30 lần, thời gian tác dụng kéo dài. Vì vậy chúng thường dùng điều trị các trường hợp viêm cấp, chống sốc phản vệ hay phù não cấp.

Thuốc ức chế mạnh sự tăng trưởng, làm tăng tỉ lệ mất xương và ức chế trục vùng dưới đồi – tuyến vên – tuyến thượng thận nên 2 thuốc này không phải là thuốc lựa chọn hàng đầu cho điều trị viêm mạn.

Các glucocorticoid dùng ngoài cũng có nhiều dạng: bôi tại chỗ, nhỏ mắt, nhỏ tai, phun mù… chủ yếu điều trị viêm da và niêm mạc.

Các chế phẩm chứa clo, flo của các corticoid: fluocinolon, fluometason, clobetason ít hấp thu qua da hay được dùng điều trị viêm da dị ứng. Tuy nhiên khi bôi các chế phẩm này trên da, chúng cũng có khả năng hấp thu một lượng nhất định. Đặc biệt, khi da bị tổn thương khả năng hấp thu thuốc qua da sẽ tăng, vì vậy dùng thận trọng với các vết thương hở.

Các chế phẩm dạng khí dung betametason, beclometason (Becotide), budesonid (Rhinocort), flunisonid…thường được dùng điều trị hen phế quản, viêm mũi dị ứng.

Tác dụng không mong muốn thường gặp: khô miệng, khàn giọng, nhiễm nấm ở miệng và cổ họng. Để giảm các tác dụng không mong muốn này thì phải súc miệng với nưốc sau khi dùng thuốc.

3.2 Mineralocorticoid

Mineralocorticoid tự nhiên có 2 chất cơ bản là aldosteron và desoxycorticosteron (DOC), trong đó aldosteron có tác dụng mạnh hơn DOC khoảng 30 lần. Tuy nhiên trong lâm sàng hay dùng DOC hơn vì aldosteron tác dụng quá mạnh. Mineralocorticoid tổng hợp là fludrocortison.

Các mineralocorticoid có tác dụng điều hoà áp suất thẩm thấu của dịch ngoại bào và thể tích máu trong cơ thể thông qua các cơ chế sau:

Vì vậy khi dùng liều cao hoặc kéo dài sẽ gây phù, tăng huyết áp, giảm K+ huyết và nhiễm kiềm.

Các mineralocorticoid nói chung ít ảnh hưởng tới chuyển hoá đường, không có tác dụng chống viêm và chống dị ứng.

Các thuốc trong nhóm được chỉ định trong các trường hợp sau:

Thiểu năng tuyến thượng thận mạn (bệnh Addison).

Sốc nhiễm khuẩn và ngộ độc cấp.

Ngoài ra DOC còn được dùng trong nhược cơ vì nó có tác dụng tăng trương lực cơ.

Một số tác dụng không mong muốn đã xuất hiện trên lâm sàng như: Phù, tăng huyết áp, trường hợp nặng gây phù phổi.

Desoxycorticosteron (Percorten, Syncortyl). Viên cấy dưới da dạng tác dụng kéo dài, dung dịch tiêm 5mg/mL.

Liều tấn công 10 – 15mg/24h.

Liều duy trì 5mg X 2 lần/tuần.

Mineralocorticoid tổng hợp

Hấp thu tốt qua đường uống, liên kết nhiều với protein huyết tương. Nửa đời sinh học trong huyết tương là 3 -5 giờ. Thời gian tác dụng kéo dài 1,5-3 ngày. Chuyển hoá chủ yếu ở gan, một phần ở thận, thải trừ chủ yếu qua nước tiểu.

Liều dùng: Người lớn: 0,05 – 0,2mg/24h. Trẻ em: 0,05 – 0,1mg/24h.

Giáo trình Dược lý học, tập 2, Nhà xuất bản Y học, 2012, trang 283-296.

Hỏi đáp về bài viết

Khách hàng đánh giá

Bạn đang xem bài viết Suy Tuyến Yên Toàn Bộ trên website 3mienmoloctrungvang.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!