Top 5 # Cấu Tạo Xương Chính Mũi Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Tìm Hiểu Về Cấu Trúc Xương Sụn Của Mũi

Mũi là một phần trong hệ hô hấp đảm nhiệm chức vụ chủ yếu là dẫn khí, làm sạch và sưởi ấm không khí trước khi vào phổi. Hình dạng của mũi được cấu tạo bởi xương mũi, sụn mũi, vách ngăn và các khoang mũi.

1. Cấu tạo của mũi

Mũi là một trong những cơ quan của hệ hô hấp, cấu tạo của mũi gồm các thành phần sau:

1.1 Mũi ngoài

Hình dạng và cấu trúc: Mũi ngoài lồi lên ở giữa mặt, có dạng hình tháp 3 mặt mà mặt nhỏ nhất là 2 lỗ mũi trước, 2 mặt bên nằm ở 2 bên của mũi. Phía trên là gốc mũi, ở giữa 2 mắt, một đường gờ dọc tiếp tục từ gốc mũi xuống dưới là sống mũi và tận cùng là đỉnh mũi. Sau sống mũi là vách mũi, hai bên là 2 cánh mũi, giữa vách mũi và cánh mũi là 2 lỗ mũi ở phía trước. Giữa cánh mũi và má là rãnh mũi má.

Mũi ngoài được cấu tạo bởi một khung xương mũi và sụn, bao bọc bởi cơ và da, phía bên trong được lót bởi niêm mạc mũi.

1.2 Mũi trong

Mũi trong gồm 2 ổ mũi, nằm ngay dưới nền sọ và phía trên khẩu cái cứng, hai ổ cách nhau bởi vách ngăn mũi, thông với bên ngoài qua lỗ mũi trước và thông với vùng hầu họng ở sau qua lỗ mũi sau.

1.2.1 Tiền đình mũi

Là phần đầu tiên của ổ mũi, tiền đình mũi hơi phình ra, tương ứng với phần sụn cánh mũi lớn. Phần lớn tiền đình mũi được lót bởi da và có nhiều lông, tuyến nhầy để cản bụi.

1.2.2 Lỗ mũi sau

Ở phía sau của khoang mũi có 2 lỗ cách nhau bởi vách mũi, là nơi thông thương giữa ổ mũi với tỵ hầu, có chức năng đưa không khí đi vào vòm họng và đường hô hấp dưới.

1.2.3 Vách mũi

Vách mũi hay thành mũi trong có hai phần là phần sụn và phần xương

Phần sụn: Ở phía trước, gồm trụ trong sụn cánh mũi lớn và sụn vách mũi, sụn lá mía mũi.

Phần xương: Ở sau, do mảnh thẳng đứng của xương sàng và xương lá mía tạo nên.

1.2.4 Trần ổ mũi

Trần của ổ mũi do một phần của các xương bao gồm: Xương mũi, trán, sàng và thân xương bướm tạo nên.

1.2.5 Nền ổ mũi

Nền ổ mũi là khẩu cái cứng, giúp ngăn cách giữa ổ mũi và ổ miệng.

1.2.6 Thành mũi ngoài

Tạo nên bởi xương hàm trên, xương mũi, xương lệ, mảnh thẳng xương khẩu cái, mê đạo sàng và mỏm chân bướm. Có 3-4 mảnh xương cuốn cong, nhô vào ổ mũi gọi là các xoăn mũi (gồm có xoăn mũi dưới, xoăn mũi giữa, xoăn mũi trên) và đôi khi có thêm xoăn mũi trên cùng. Các xương xoăn mũi tạo với thành ngoài ổ mũi các ngách mũi tương ứng. Các ngách mũi này thông với xoang mũi, giúp dẫn lưu dịch từ các xoang.

1.2.7 Niêm mạc mũi

Lót mặt trong ổ mũi là lớp biểu mô trụ tầng có nhiều lông chuyển, liên tục và có cấu tạo tương tự với niêm mạc các xoang, niêm mạc hầu. Niêm mạc mũi được chia thành 2 vùng là vùng khứu giác và vùng hô hấp:

Vùng khứu giác, gần trần ổ mũi, niêm mạc có nhiều đầu mút thần kinh khứu giác, giúp cảm nhận các mùi khác nhau.

Vùng hô hấp: Phần lớn phía dưới ổ mũi. Niêm mạc có nhiều mạch máu, tuyến niêm mạc và tổ chức bạch huyết có chức năng sưởi ấm, làm ẩm không khí, lọc bớt bụi và sát trùng không khí trước khi không khí đi vào phổi.

1.3 Các xoang cạnh mũi

Gồm có 4 đôi là: Xoang hàm trên, xoang trán, xoang sàng và xoang bướm. Bình thường trong xoang đều rỗng và thoáng, chứa không khí lưu thông có nhiệm vụ cộng hưởng âm thanh, làm ẩm niêm mạc mũi, sưởi ấm không khí, cân bằng và làm nhẹ khối xương đầu mặt.

2. Cấu trúc xương mũi

2.1 Xương mũi

Xương mũi bắt đầu từ khoảng giữa chân mày và kết thúc bằng một rãnh mũi răng cưa. Các xương mũi thường thuôn, dài, nhỏ có thể khác nhau về kích thước và hình thức ở từng các nhân. Xương mũi thường được chia thành hai phần đối xứng nhau ở giữa khuôn mặt. Hai xương mũi được nối với nhau bằng đường khâu giữa mũi và tạo thành sống mũi.

Chức năng của xương mũi là giúp mũi ngoài không bị xẹp xuống và có thể đảm bảo cho không khí lưu thông qua khoang mũi.

Xương mũi trong bao gồm:

Xương sàng và xương lá mía: Là thành phần cấu tạo nên vách mũi.

Xương mũi, trán, sàng và thân xương bướm: Tạo nên phần trần của ổ mũi. Giúp ngăn cách mũi với vùng nền sọ.

Khẩu cái cứng giúp ngăn cách giữa mũi và khoang miệng.

Xương hàm trên, xương mũi, xương lệ, mảnh thẳng xương khẩu cái và mỏm chân xương bướm: Giúp cấu tạo nên thành ngoài của mũi.

Xương xoăn mũi: Kết hợp với thành ngoài của mũi tạo thành các ngách mũi, gồm ngạch mũi trước giữa và sau. Giúp lưu thông dịch từ các xoang cạnh mũi.

2.2 Sụn mũi

Sụn mũi có cấu tạo từ collagen, protein, nước và các thành phần khác. Sụn mũi bao gồm:

Sụn mũi nhỏ tác dụng liên kết các xương mũi lớn với sụn mũi bên.

Sụn Alar tạo thành cấu trúc của lỗ mũi.

Sụn mũi bên có cấu trúc hình tam giác và nằm bên dưới xương mũi.

Sụn vách ngăn còn được gọi là sụn tứ giác có tác dụng kết nối giữa xương mũi với sụn bên.

Sụn Vomeronasal còn được gọi với cái tên khác là sụn Jacobson có tác dụng kết nối các vạch ngăn và các xương mỏng ngăn cách 2 lỗ mũi.

Chức năng chính của sụn là giúp liên kết giữa các xương và sụn với nhau, năng đỡ mũi, hỗ trợ xương mũi giúp mũi không bị xẹp, để thực hiện chức năng thông khí.

3. Chức năng của mũi

Cấu tạo mũi giúp cho mũi đảm nhiệm được các chức năng quan trọng như:

2.1 Hô hấp

Mũi là cơ quan đầu tiên của đường hô hấp trên. Do đó chức năng chính của mũi là cung cấp và điều hòa không khí đưa vào phần còn lại của hệ thống hô hấp. Mũi giúp lọc không khí, loại bỏ bớt bụi và các hạt khác ra khỏi không khí bằng các lông mũi trước khi vào phổi.

Các cấu trúc bên trong khoang mũi tạo thành một hệ thống làm ẩm và làm ấm không khí, lọc không khí và duy trì môi trường lành mạnh bên trong phổi.

2.2 Khứu giác

Mũi đóng vai trò quan trọng trong hệ thống khứu giác. Niêm mạc mũi ở khoang trên chứa một tuyến khứu giác hoặc các tuyến hỗ trợ khứu giác. Điều này giúp cơ thể phân luồng không khí và đưa mùi đến vùng khứu giác. Một phần không khí khi vào mũi sẽ qua phần có các tế bào nhận cảm mùi, từ đó truyền lên não bộ và giúp chúng ta nhận biết được mùi.

2.3 Hỗ trợ trong việc hình thành âm thanh riêng biệt của mỗi người

Các xoang ở mũi giúp cộng hưởng âm thanh và tạo ra sự khác biệt âm thanh phát ra của môi người.

Một số người có thể phát ra lời nói bằng cách sử dụng không khí từ mũi, được gọi là âm mũi. Để phát ra âm thanh từ mũi, bạn cần hạ thấp vòm miệng để phát ra các nguyên âm và phụ âm bằng cách để không khí thoát ra từ miệng và mũi.

Mũi là bộ phận quan trọng trong hệ hô hấp, nhờ có hệ thống xương và sụn mũi mà mũi không bị xẹp xuống giúp lưu thông không khí. Một tác nhân nào đó làm cho hệ thống xương sụn bị tổn thương sẽ gây ảnh hưởng tới sự lưu thông khí ở mũi. Vì vậy, nếu bạn mũi bạn có những biểu hiện bất thường, nên sớm đến các cơ sở y tế để khám và điều trị kịp thời.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

Đặc Điểm Cấu Tạo Bộ Xương Người (Phần Iii): Các Phần Chính Của Bộ Xương Người

Các xương sọ khớp với nhau chủ yếu bằng khớp bất động tạo thành hộp sọ, có nhiệm vụ bảo vệ não bộ, các giác quan và phần đầu cơ quan tiêu hóa, hô hấp.

Hộp sọ gồm nhiều xương, được chia thành 2 phần: phần sọ não và phần sọ mặt. Tỉ lệ sọ não / sọ mặt là 2,5/1. (Trong khi đó ở loài Tinh Tinh là 1/1). Tỉ lệ đó làm cho khuôn mặt của người nhẹ nhõm hơn, phù hợp với tư thế đi thẳng.

+ Phần sọ não: gồm 8 xương: 1 xương trán, 2 xương đỉnh, 2 xương thái dương, 1 xương chẩm, 1 xương bướm, 1 xương sàng. Các xương sọ não đều là loại xương dẹt. Một số xương có xoang chứa khí (như xương trán, xương bướm, xương sàng).

– Xương trán. Nằm ở phần trước, tiếp khớp ở phía sau với xương đỉnh bởi đường khớp vành, với cánh lớn xương bướm bởi đường khớp bướm trán, ở phía dưới với xương gò má, với xương mũi và mỏm trán trên bởi bờ mũi.

– Xương đỉnh. Gồm 2 xương hình tứ giác nằm 2 bên đường khớp giữa của hộp sọ, thuộc phần trên của hộp so. Phía trước tiếp giáp với xương trán, phía sau giáp xương chẩm, phía bên tiếp giáp bờ xương thái dương.

– Xương thái dương. Cấu trúc phức tạp, gồm 3 phần: phần trai, phần đá và phần nhĩ. Phần trai tạo nên thành bên của hộp sọ, phía trên tiếp khớp với xương đỉnh; phía trước tiếp khớp với cánh lớn xương bướm; phía sau khớp với xương chẩm. Có mỏm chũm phát triển. Phần đá nằm chếch ở nền sọ, giữa xương bướm và xương chẩm, có hình tháp không đều. Có mỏm trâm dài nhọn. Phần nhĩ là mảnh xương cong hình lòng máng, tạo nên ống tai ngoài.

– Xương chẩm. Nằm ở phần sau và đáy sọ, gồm 3 phần: phần trai, phần nền và 2 bên. Phần trai chẩm ở mặt ngoài có u chẩm ngoài (có thể sờ thấy trên người sống), có mào chẩm ngoài và 2 đường cong chẩm trên (là nơi mắc cơ thang và cơ chẩm); Phần bên mặt ngoài có lồi cầu chẩm để khớp với đốt sống cổ1; Phần nền mặt ngoài hình vuông có củ hầu, phía trước củ hầu có hố lõm chứa tuyến hạnh nhân hầu. Mặt trong lõm để chứa hành não và cầu não. Có lỗ chẩm lớn

– Xương bướm. Nằm ở giữa nền sọ. Phía trước tiếp khớp với xương trán, xương sàng; phía sau tiếp khớp với xương chẩm; hai bên tiếp khớp với xương thái dương. Xương bướm hình con bướm, cấu tạo phức tạp gồm 1 thân bướm ở giữa, 1đôi cánh lớn,1đôi cánh nhỏ và ở mặt dưới thân có 2 chân bướm. Mặt trên thân có lõm yên ngựa chứa tuyến yên – là một tuyến nội tiết quan trọng. Xoang xương bướm chứa khí.

– Xương sàng. Là một xương của phần trước nền sọ nằm khuất trong sọ mặt, tham gia tạo thành hốc mũi và hốc mắt. Xương sàng có cấu tạo phức tạp, hình dáng giống chiếc cân, gồm có 3 phần: mảnh thẳng, mảnh sàng (mảnh ngang) và mê đạo sàng. Mảnh sàng là một mảnh xương nằm ngang có nhiều lỗ nhỏ (gọi là lỗ sàng) để thần kinh khứu giác từ mũi đi qua. Ở giữa mảnh sàng nhô lên một mấu xương dày hình tam giác gọi là mào gà cho liềm của đại não bám. Bờ trước của mào gà ngắn, tạo nên cánh mào gà để khớp với xương trán. Mảnh thẳng đứng là một mảnh xương thẳng góc với mảnh sàng. Mảnh này ở dưới tạo thành một phần của vách mũi chia khoang mũi thành 2 ngăn, ở trên nhô lên tiếp với mào gà. Mê đạo sàng gồm 2 khối xương có nhiều hốc chứa khí, đó là các xoang sàng được treo ở dưới 2 bên mảnh sàng.

+ Phần sọ mặt: gồm 14 xương: 2 xương hàm trên, 2 xương gò má, 2 xương mũi, 2 xương lệ, 2 xương xoăn, 2 xương hàm dưới, 2 xương lá mía. Ngoài ra còn có 1 xương móng không trực tiếp nối với sọ. Xương móng là nơi bám của nhiều cơ dưới hàm, cơ lưỡi.

– Xương hàm trên cấu tạo phức tạp, nó tham gia vào hình thành hốc mắt, hốc mũi, vòm miệng. Thân xương hàm trên có xoang chứa khí thông với xoang mũi.

– Xương gò má nối xương hàm trên với hộp sọ.

– Xương mũi là xương nhỏ và dài, tạo nên sống mũi

– Xương lệ. là xương rất nhỏ và mỏng nằm ở thành trước trong của ổ mắt, có rãnh lệ thông với xoang mũi (khi khóc nước mắt qua ống lệ tràn vào mũi)

– Xương xoăn nằm phía ngoài 2 bên khoang mũi.

– Xương khẩu cái tạo thành vòm khẩu cái ngăn cách khoang mũi và miệng

– Xương lá mía là xương lẻ rất mỏng, nằm sau vách mũi, tạo nên vách ngăn dọc khoang mũi.

– Xương hàm dưới là xương lẻ duy nhất có khả năng cử động. Phía trước thân xương nhô ra tạo lồi cằm. Nhánh lên của xương hàm tạo thành quai hàm, có mỏm lồi cầu khớp với xương thái dương.

– Xương móng là một xương nhỏ, nằm ở cổ, dưới lưỡi, trên xương ức, hình chữ U. Nó không trực tiếp nối với sọ. Cấu tạo gồm có một thân, cặp sừng lớn, cặp sừng nhỏ. Xương móng là nơi bám của nhiều cơ vùng cổ.

Nhìn chung các xương sọ mặt cấu tạo phức tạp, liên kết với nhau bằng khớp liên kết bất động. Chỉ có một xương duy nhất cử động được là xương hàm dưới.

2. Các xương và khớp thân mình Gồm cột sống và lồng ngực.

Cột sống người trưởng thành, nhìn nghiêng là một trục cong hình chữ S, có 2 đoạn lồi về trước là đoạn cổ và thắt lưng và 2 đoạn lồi về sau là đoạn ngực và đoạn cùng.

Cột sống gồm 33 – 34 đốt sống lớn dần từ trên xuống, được nối với nhau bởi các dây chằng và các đĩa sụn gian đốt. Ở giữa là một ống xương rỗng chứa tủy sống. Hai bên cột sống có các lỗ gian đốt sống để dây thần kinh tủy đi qua.

Mỗi đốt sống gồm có cấu tạo chung gồm: 1 thân đốt sống nằm ở phía trước; 1cung đốt sống nằm ở phía sau; hai bên có mấu ngang nằm; phía sau có 1 mấu gai. Phần cung của mỗi đốt sống còn có 2 đôi diện khớp (1 đôi trên và 1 đôi dưới) và có 1 khuyết trên, 1 khuyết dưới. Các khuyết của 2 đôt sống cạnh nhau tạo thành lỗ gian đốt. Thân và cung đốt sống tạo nên lỗ đốt sống

Cột sống được chia thành 5 đoạn:

– Đoạn cổ gồm 7 đốt, có lỗ đốt sống to ở giữa và 2 lỗ nhỏ ở hai bên mấu ngang.

Mấu gai dài dần từ đốt cổ 2 đến 7 và thường chẻ làm đôi (trừ đốt 7). Mặt thân đốt sống cổ nhỏ, dẹt, hình yên ngựa (làm cho đầu và cổ cử động linh hoạt). Trong quá trình tiến hóa, đốt sống cổ đã có sự biến đổi đặc biệt: đốt 1 biến đổi thành đốt đội; đốt 2 biến đổi thành đốt trục. Đốt đội có hình vòng khuyên, không có thân, mỏm gai, các khuyết và mấu khớp mà có 2 cung trước và sau, có mỏm ngang dài, mặt trên của khối bên có hõm khớp hình bầu dục để khớp với lồi cầu chẩm. Đốt trục có 1 thân nhỏ, trên thân có mỏm răng làm trục quay cho đốt đội. Hai bên mỏm răng có các diện khớp.

– Đoạn ngực gồm 12 đốt, có đặc điểm chung là các đốt sống tương đối lớn, có một thân. Mỗi bên thân đốt sống có 2 diện khớp sườn (trên và dưới) để khớp với các đầu sườn. Mỏm ngang của các đốt sống ngực đều có hố sườn ngang để khớp với củ lồi sườn. Trên cung mỗi đốt sống có một khuyết làm thành lỗ gian đốt sống. Các mỏm gai dài dần và hướng xuống dưới, nhằm hạn chế sự cử động của phần ngực. Riêng đốt sống ngực 10 không có diện sườn dưới. Đốt ngực 11 và 12 chỉ có 1 hồ sườn để khớp với các xương sườn tương ứng, các mỏm ngang không có hố sườn ngang.

– Đoạn thắt lưng có 5 đốt, có đặc điểm chung là thân đốt sống dày và lớn nhất, lỗ đốt sống lớn. Diện khớp phát triển mạnh và theo chiều hướng đứng thẳng. Mấu gai to, dày và nằm ngang tạo kiều kiện cho cử động vùng thắt lưng dễ dàng.

– Đoạn cùng gồm 5 đốt dính lại với nhau tạo thành một khối hình tháp đỉnh hướng xuống dưới. Mặt trước có 4 đôi lỗ cùng trước, mặt sau lồi có 4 đôi lỗ cùng sau (các lỗ này để dây thần kinh chậu đi qua). Cuối xương cùng có đoạn ống chứa phần cuối tủy sống. Hai bên xương cùng có diện khớp với xương chậu tạo thành chậu – hông.

– Đoạn cụt gồm 4 -5 đốt phát triển không đầy đủ, dính lại với nhau. Đây là vết tích đuôi của động vật có xương sống.

Các đốt sống liên kết với nhau bởi các đĩa sụn gian đốt và các dây chằng. Cả cột sống có 23 đĩa sụn được bố trí từ đốt sống cổ 2 đến đốt thắt lưng 5. Trong mỗi đĩa sụn có một hạch bằng chất keo và được bao quanh bởi sụn có tính đàn hồi (nhờ đặc tính này của hạch làm cho cột sống cử động và giảm các chấn động khi cơ thể vận động). Tùy theo vị trí và độ dày của các đĩa sụn mà độ linh hoạt giữa các đoạn sống có khác nhau. Các đĩa sụn ở đoạn thắt lưng dày nhất, đĩa sụn đoạn ngực mỏng nhất, do vậy đoạn ngực kém linh hoạt hơn.

Hệ thống dây chằng gồm các dây chằng dọc trước rộng, chắc, có tác dụng hạn chế việc ngửa người ra sau. Các dây chằng dọc sau nhỏ và kém bền hơn, nhưng có độ đàn hồi tốt nên cơ thể gậ̣p thân về trước dễ dàng. Dây chằng giữa các đốt sống nối 2 cung đốt sống lại với nhau. Dây chằng nối các mấu ngang và các mấu gai (trừ đốt sống cổ).

So với động vật, cột sống của người linh hoạt hơn nhờ các khớp giữa các đốt sống. Các khớp cột sống là những khớp bán động, phạm vi hoạt động giữa 2 đốt sống rất bé, nhưng cả cột sống thì hoạt động rộng hơn, quay theo 3 trục và thực hiện được nhiều động tác:

– Vận động quanh trục ngang trước – sau: cho động tác nghiêng phải, trái.

– Vận động quanh trục thẳng đứng: cho động tác vặn người sang 2 bên.( xoay vòng)

– Vận động quanh trục ngang trái – phải: cho động tác gập, duỗi người.

– Vận động nhún kiểu lò xo: Khi nhún để nhảy hay khi nhún người lên cao.

Riêng ở đoạn ngực cử động hạn chế, thích nghi với chức năng bảo vệ.

Lồng ngực được tạo bởi 12 đốt sống ngực, 12 đôi xương sườn, 1 xương ức và hệ thống dây chằng liên kết các phần đốt sống. Khác với động vật, lồng ngực người có đường kính ngang lớn hơn đường kính trước sau để thích nghi với tư thế đứng thẳng, chứa và bảo vệ những cơ quan quan trọng của cơ thể như tim, phổi. Lồng ngực nữ ngắn, tròn hơn lồng ngực nam. Ở trẻ sơ sinh lồng ngực vẫn hẹp bề ngang, rộng theo hướng trước sau. Trong quá trình phát triển, lồng ngực dần dần phát triển rộng 2 bên, hẹp trước sau. Ở người luyện tập TDTT, lồng ngực có thể vừa rộng ngang, vừa nở trước sau, thể tích lớn.

+ Xương sườn: Là phần chủ yếu của lồng ngực, gồm 12 đôi xương sườn sắp xếp đối xứng hai bên đoạn sống ngực và dược chia thành 3 loại:

– Sườn thật: là sườn nối trực tiếp vào xương ức bằng sụn sườn (đôi 1 – 7)

– Sườn giả là những sườn cùng chung đoạn sụn với sườn 7 để hợp thành cung sườn (đôi 8 – 10)

– Sườn cụt (sườn lửng): không nối với xương ức.

Mỗi xương sườn là một tấm xương dài, cong và dẹt, gồm có 2 đầu và 1 thân. Đầu sau cao, có chỏm để khớp với hõm sườn trên thân đốt sống ngực. tiếp theo chỏm là cổ sườn, gần cổ có củ sườn để khớp với diện khớp trên mỏm ngang của đốt sống ngực. Đầu trước rộng bản và thấp hơn đầu sau có sụn sườn khớp với xương ức (trừ đôi 11 và 12)

+ Xương ức: Là một xương lẻ dẹt và dài nằm phía trước lồng ngực, gồm 3 phần: cán ức, thân ức, mỏm kiếm. Cán xương ức là phần rộng và dày nhất của xương ức, có hõm khớp để khớp với xương đòn, sụn sườn 1 và một phần sụn sườn 2. Các sụn sườn khác khớp với thân xương ức. Thân xương ức hai bên có diện khớp để khớp với các sụn sườn. Mỏm kiếm là phần cuối của xương ức, dẹt, mảnh, nhọn, thường cấu tạo bằng sụn. Xương ức nam thường dài hơn xương ức nữ khoảng 2 cm.

3. Các xương và khớp chi trên

Xương đai vai có tác dụng nâng và làm giá đỡ cho chi trên tự do và nối chi trên vào thân, bao gồm xương bả vai và xương đòn.

Là xương dẹt mỏng nằm phía lưng, hình tam giác, đáy trên đỉnh, đỉnh dưới. Xương có 2 mặt (trước và sau) 3 cạnh (trên, trong, ngoài), tương ứng với 3 góc. Ở mặt lưng có gai vai (gai bả), chia mặt lưng thành 2 hố: hố trên gai nhỏ và hố dưới gai lớn (Là chỗ bám của cơ trên gai và cơ dưới gai. Mặt trước (mặt bụng) áp vào xương sườn làm thành hố dưới vai (là nơi bám của cơ dưới vai). Bờ trên có khuyết mẻ, có dây thần kinh đi qua. Bờ trong mỏng sắc, song song với cột sống. Bờ ngoài (bờ nách) phía trên có hõm khớp (gọi là ổ chảo) để khớp với chỏm cầu xương cánh tay. Ở đây có 1 sụn viền làm cho hõm khớp sâu và rộng thêm nhằm tăng sức bền cho khớp. Góc ngoài có mỏm cùng vai và mỏm quạ.

Là một xương ống dài khoảng 13,5 -14cm, hình chữ S, dẹt theo hướng trên dưới. Xương gồm hai đầu và một thân. Đầu trong dày nối với xương ức (gọi là đầu ức), đầu ngoài dẹt nối với mỏm cùng vai (gọi là đầu cùng). Xương đòn có tác dụng giữ khoảng cách nhất định giữa xương bả vai và xương ức giúp cho chi trên cử động tự do.

Là loại xương dài, trung bình khoảng 30cm, gồm 2 đầu và 1 thân. Đầu trên có 1 chỏm bán cầu, tiếp là cổ giải phẩu (là chỗ bám của bao khớp). Phía dưới cổ giải phẩu có 2 mấu lồi, gọi là mấu chuyển (hay mấu động): mấu lớn ở ngoài, mấu bé ở trong. Giữa 2 mấu có rãnh liên mấu. Đầu dưới: rộng dẹt theo hướng trước sau, có diện khớp ròng rọc. Mặt trước ròng rọc có hố vẹt (để khớp với mỏm vẹt xương trụ). Mặt sau ròng rọc có hố khuỷu (để khớp với mỏm khuỷu xương trụ). Thân xương dài hình lăng trụ 3 mặt (sau, ngoài, trong) khoảng giữa mặt ngoài có một gờ hình V (gọi là ấn đenta).

d. Xương cẳng tay : gồm xương trụ và xương quay.

Xương trụ là xương dài gồm 2 đầu 1 thân. Đầu trên to, có hõm khớp bán nguyệt (để khớp với diện khớp ròng rọc xương cánh tay). Đầu dưới bé, có đài quay để khớp với lồi cầu ương cánh tay và đầu dưới xương quay). Thân xương hình lăng trụ 3 mặt (trước, sau, ngoài), tương ứng với 3 cạnh (cạnh ngoài sắc, gọi là mào liên cốt).

Xương quay song song với xương trụ. Đầu trên khớp với lồi cầu xương cánh tay. Mặt bên đài quay có diện khớp ngoài (để khớp với hõm quay xương trụ). Tiếp là cổ xương quay, phía dưới cổ có củ xương quay (là chỗ bám của gân cơ nhị đầu). Đầu dưới lớn và rộng, có diện khớp (để khớp với xương cổ tay). Mặt trong có diện khớp với đầu dưới xương trụ.

e. Xương bàn tay : Gồm xương cổ tay, xương đốt bàn tay, xương đốt ngón tay.

Xương cổ tay thuộc loại xương ngắn, nhỏ, hình khối nhiều mặt. Gồm 8 xương xếp thành 2 hàng. Thứ tự từ ngoài vào trong gồm: Hàng trên: xương thuyền, xương nguyệt, xương tháp, xương đậu; hàng dưới gồm xương thang, xương thê, xương cả, xương móc.

Xương đốt bàn tay. Gồm 5 xương tương tự nhau, đánh số từ ngoài vào là I g V. Mỗi xương có 2 đầu và 1 thân. Đầu trên bẹt là đầu nền, đầu dưới tròn là đầu chỏm. Các đốt bàn đều sắp xếp trên 1mặt phẳng và ngắn dần từ II g V. Riêng đốt bàn I (đốt bàn ngón cái) được tách ra khỏi mặt phẳng bàn tay. Nhờ đó ngón cái có thể tiếp xúc được với các ngón khác, thích nghi với việc cầm nắm.

Xương đốt ngón tay. Ngón cái có 2 đốt. Các ngón còn lại đều có 3 đốt , thuộc loại xương ngắn. Mỗi đốt cũng có 2 đầu 1 thân. Đầu trên là đầu nền, đầu dưới là đầu chỏm. Thân các đốt ngón tay đều cong theo trục dọc (lồi ở mặt lưng (mu tay), lõm ở mặt gan tay.

Vậy các xương chi trên được khớp với nhau bởi những khớp nào?

Các xương chi trên được khớp với nhau bởi các khớp sau :

– Khớp ức – đòn. Là khớp giữa góc trên xương ức và đầu trong xương đòn. Mặt khớp hình yên ngựa. Khớp được giữ bởi dây chằng ức đòn, liên đòn, sườn đòn. Khớp hoạt động theo 3 trục, thực hiện động tác đưa vai ra sau, nâng vai lên, hạ vai xuống và xoay vai.

– Khớp vai – đòn. Khớp giữa đầu ngoài và xương đòn và mỏm cùng vai. Mặt khớp phẳng được phủ bởi dây chằng đòn vai, dây chằng quạ đòn. Hoạt động của khớp theo 3 trụ nhưng biên độ động tác hạn chế hơn

– Khớp vai. Khớp giữa đầu trên xương cánh tay và hõm khớp xương bả vai. Là loại khớp cầu, có vành sụn viền, bao khớp mỏng; được giữ bởi dây chằng quạ – cánh tay. Hoạt động của khớp cho phép cánh tay có thể gập, duỗi, khép, dạng và quay vòng.

– Khớp khuỷu tay. Là khớp phức tạp gồm 3 khớp nằm chung trong một bao khớp là: khớp cánh tay – trụ; cánh tay – quạy, trụ – quay. Khớp được giữ bởi nhiều dây chằng, như dây chằng trụ bên (3 bó), dây chằng trước, dây chằng trước, dây chằng trước sau, dây chằng trước vòng. Hoạt động của khớp theo 2 trục: trục trái – phải, thực hiện động tác gập – duỗi; trục trên – dưới, thực hiện động tác sấp, ngửa bàn tay.

– Khớp trụ quay. Là khớp giữa đầu dưới xương trụ và đầu dưới xương quay. Khớp được giữ bởi dây chằng trụ trước và và trụ sau. Hoạt động của khớp gây cử động sấp ngửa bàn tay

– Khớp cổ tay. Gồm khớp quay – cổ tay (3 xương hàng trên (trừ xương đậu) và khớp liên cổ tay.

– Khớp cổ – bàn. Là khớp giữa hàng dưới xương cổ tay (thang, thê, cả, móc) với đầu nền các xương đốt bàn (trong đó khớp giữa xương thang và xương đốt bàn I có hình yên ngựa làm ngón cái cử động dễ dàng). Còn lại là khớp dẹt, khớp có nhiều dây chằng bám chặt, ép sát nhau nên ít cử động.

– Khớp bàn – ngón. Là khớp giữa đầu chỏm xương đốt bàn với đầu nền xương đốt ngón 1 (ngón trên). Hoạt động của khớp gây cử động nắm, duỗi, khép, dạng ngón tay.

– Khớp liên đốt ngón. Thuộc loại khớp ròng rọc. Khớp có 2 dây chằng 2 bên nên chỉ cử động theo trục ngang trái – phải.

Xương chi dưới có cấu tạo tương tự như xương chi trên nhưng to và chất xương dày hơn, phù hợp với chức năng di chuyển và chống đỡ. Xương chi dưới gồm 2 phần là đai hông (đai chậu) và phần xương chi dưới tự do. Xương đai hông gồm 2 xương chậu, xương cùng, xương cụt.

Được tạo bởi 2 xương chậu, 1 xương cùng và 1 xương cụt. (xương cùng và xương cụt là phần dưới của cột sống đã được mô tả ở phần xương thân). Mỗi xương chậu là một xương dẹt, hình dạng phức tạp, do 3 xương dính lại (sau 12 tuổi) là xương cánh chậu ở phía trên, xương mu (xương háng) ở phía trước và xương ngồi ở phía sau. Xương chậu giống hình chong chóng có 2 mặt (trong, ngoài), 4 bờ (trước, sau, trên, dưới) và 4 góc.

– Mặt ngoài: Ở chính giữa có 1 hõm khớp khá sâu (gọi là ổ cối để khớp với chỏm cầu xương đùi). Phía dưới hõm khớp có 1 lỗ lớn gọi là lỗ bịt và được che bởi màng bịt, trong đó có thần kinh và mạch máu chạy qua.

– Mặt trong: Ở chính giữa có 1 gờ nổi lên (gọi là gờ vô danh) chia xương chậu thành 2 phần, phần trên là hố chậu lớn, phần dưới là hố chậu bé.

– Bờ trước cong queo, từ trên xuống dưới gồm có gai chậu trước trên, khuyết mẻ 1, gai chậu trước dưới, khuyết mẻ 2, ụ háng.

– Bờ sau cũng cong queo như bờ trước, từ trên xuống dưới gồm có gai chậu sau trên, gai chậu sau dưới, khuyết hông lớn, gai hông, khuyết hông bé và ụ ngồi.

– Bờ trên gọi là mào chậu rộng, cong hình chữ S, có 3 gờ song song là nơi bám của các cơ thành bụng (như cơ chéo lớn, cơ chéo bé, cơ ngang bụng)

– Bờ dưới hơi chếch về sau, do ngành xuống của xương háng, ngành lên của xương ngồi tạo nên.

Xương chậu cùng với xương cụt làm thành chậu hông. Từ gờ vô danh trở lên là chậu hông lớn, nửa dưới là chậu hông bé.

Ở trẻ em, chậu hông trai gái giống nhau. Ở nữ đến tuổi dậy thì, khi có sự xuất hiện kinh nguyệt, chậu hông lớn phát triển rộng và thấp hơn chậu hông của nam giới. Cửa ra chậu hông bé của nữ rộng hơn nam. Đặc điểm cấu tạo này phù hợp với chức năng sinh sản, mang thai của phụ nữ.

Là xương dài chắc, chiếm ¼ chiều cao của cơ thể, hơi cong về trước. Gồm 2 đầu và một thân. Đầu trên có chỏm cầu, đỉnh chỏm có 1 lỗ nhỏ để dây chằng tròn bám vào. Tiếp chỏm cầu là cổ xương (còn gọi là cổ giải phẫu) là nơi bám của bao khớp. Chỗ tiếp giáp giữa cổ và thân xương có mấu chuyển lớn (ở phía ngoài) và mấu chuyển bé (ở phía trong). Giữa 2 mấu có gờ liên mấu. Đầu dưới, hình khối vuông, hơi cong ra sau, phía trước có diện khớp ròng rọc (để khớp với xương bánh chè); phía dưới có 2 lỗi cầu (trong và ngoài). Phía sau có hố khoeo hình tam giác. Thân xương hình lăng trụ tam giác, có 3 mặt (mặt trước, trong và ngoài) và 3 bờ, bờ sau sắc gọi là đường ráp

Gồm xương chày, to ở trong và xương mác, bé ở ngoài.

Xương chày : Là xương chắc nhất cơ thể, dài khoảng 32 cm, có hai đầu và một thân. Đầu trên phát triển mạnh mang 2 lồi củ 2 bên. Trên hai lồi củ có hai hõm khớp (để khớp với hai lồi cầu xương đùi). Giữa hai hõm khớp có hai gai chày nhỏ. Mặt trước có lồi củ xương chày là nơi bám của cơ tứ đầu đùi. Phía ngoài có diện khớp với xương mác. Đầu dưới hình hơi vuông, phía trong có mỏm trâm để khớp với xương sên của bàn chân tạo thành mắt cá trong. Phía ngoài có hõm khớp với xương mác. Thân xương chày hình lăng trụ tam giác 3 mặt (trước, ngoài, sau), tương ứng với 3 bờ (trước, trong, ngoài). Bờ trước rất sắc gọi là mào liên cốt có thể sờ thấy qua da.

Xương mác : Là xương nhỏ chắc. Đầu trên không khớp với đầu xương đùi mà chỉ dính vào xương chày. Đầu dưới nhọn, phình ra tạo nên mắt cá ngoài. Thân xương hình lăng trụ, có 3 mặt, 3 bờ. Bờ trong sắc là nơi bám của màng liên cốt. Mắt cá trong và mắt cá ngoài tạo thành gọng kìm, kẹp lấy xương sên của gót chân, tạo sự vững chắc khi hoạt động.

Xương bánh chè : Là loại xương vừng lớn nhất cơ thể, nằm trước khớp gối, có tác dụng không cho xương cẳng chân gập về trước.

Gồm các xương cổ chân, các xương đốt bàn chân, các xương đốt ngón chân.

Xương cổ chân: Gồm 7 xương xếp thành 2 hàng. Hàng trước gồm xương ghe, xương hộp và 3 xương chêm (châm I, II, III, tính từ trong ra). Hàng sau gồm xương sên ở trước và xương gót ở phía sau. Xương sên hình ốc sên, khớp với xương cẳng chân qua 3 diện khớp và chịu toàn bộ sức nặng của cơ thể. Xương gót là xương to nhất của bàn chân, kéo dài về phía sau tạo thành củ gót. Phía trên khớp với xương sên, phía trước khớp với xương hộp.3 xương chêm, xương ghe, xương hộp và các xương đốt bàn tạo nên vòm chân Ở người có 3 loại vòm bàn chân: loại bình thường, loại vòm cao và loại vòm chân bẹt. Vòm bàn chân bẹt sức bền, sức bật kém đi bộ, chạy việt dã hay bị đau.

Vòm bàn chân có ý nghĩa lớn đền hoạt động của cơ thể:

– Làm giảm chấn động cho cơ thể, giúp cơ thể vận động nhanh nhẹn.

– Vòm giúp mạch máu, dây thần kinh ở gan bàn chân không bị bẹp.

– Là chỉ số đánh giá khả năng chịu lực, khả năng phát huy sức mạnh bột phát của chân trong hoạt động thể thao;

– Vòm bàn chân còn là bộ phận đế tựa cho cơ thể.

Xương đốt bàn chân: Gồm 5 xương ngắn, mỗi xương đều có 1 đầu nền (khớp với xương cổ chân), và 1 đầu chỏm (khớp với xương đốt ngón). Thân xương hình lăng trụ tam giác hơi cong lồi về phía mu chân.

Xương đốt ngón chân: Ngón cái có 2 đốt, 4 ngón còn lại có 3 đốt . Mỗi đốt gồm 1 thân, 1 đầu nền và 1 đầu chỏm. Các đốt ngón chân cấu tạo như đốt ngón tay, nhưng ngắn hơn, không có chỗ phình như ngón tay.

Vậy các xương chi dưới được liên kết với nhau qua những khớp nào?

Các xương chi dưới được liên kết với nhau qua các khớp. Nhờ đó làm cho sự cử động của chi dưới vừa linh hoạt vừa vững chắc.

Khớp cùng-chậu: là khớp giữa xương cánh chậu và xương cùng, thuộc loại khớp phẳng. Khớp được giữ chặt bởi nhiều dây chằng ngắn, chắc và khỏe.

Khớp hàng (khớp mu): là khớp giữa 2 xương háng ở hai bên khớp với nhau. Giữa khớp có một đĩa sụn. Trong đĩa sụn có một khe nhỏ chứa chất dịch. Đây là loại khớp bán động. Đĩa sụn này hoạt động mạnh trong thời gian mang thai, nhất là khi sinh nở

Khớp chậu đùi (khớp hông): khớp giữa chỏm cầu xương đùi và ổ cối xương chậu thuộc loại khớp chỏm điển hình. Khớp có sụn viền cao, ôm gần hết chỏm xương đùi.

Khớp gối: là khớp phức tạp nhất của người, nằm trong một bao khớp rộng, bao hoạt dịch có nhiều nếp gấp, nhiều ngăn. Bên trong khớp có dây chằng chéo trước và chéo sau. Ở hai bên bao khớp có dây chằng bên, phía sau có dây chằng sau. Các dây chằng giữ khớp gối khỏi trật theo chiều trước sau. Khớp gối hoạt động theo 1 trục và thực hiện 2 động tác: gấp và duỗi cẳng chân

Khớp chày mác: là khớp giữa đầu trên xương chày và đầu trên xương mác.

Khớp cẳng bàn: là khớp giữa đầu dưới xương chày và xương mác khớp với xương sên. Khớp có hình ròng rọc, quay theo trục ngang, gây cử động gấp duỗi bàn chân. Bao khớp ở đây mỏng nên được tăng cường bởi nhiều dây chằng vững chắc tỏa từ xương cẳng chân đến xương sên, xương ghe.

Ngoài ra cò có các khớp như : khớp liên cổ chân (7 xương cổ chân liên kết với nhau); khớp cổ bàn (khớp giữa xương cổ chân và xương đốt bàn, giữa xương hộp với xương đốt bàn IV, V.); khớp bàn ngón; khớp liên đốt ngón, hoạt động tương tự ở bàn tay nhưng ngón cái hoạt động hạn chế hơn.

Nâng Mũi 4D Cấu Trúc Chỉnh Xương Siêu Âm

Nâng mũi Model 4D cấu trúc chỉnh xương là thủ thuật tác động đến phần xương mũi, tái cấu trúc dáng mũi từ sâu bên trong với thiết bị siêu âm Ultrasonic chuyên dụng. Đây là giải pháp cho những ai muốn nâng mũi nhưng phần sống mũi gồ, thô, và to khiến kết quả thẩm mỹ không đảm bảo đẹp.

Người xương mũi gồ, mũi to, bè ngang, thô

Người có sống mũi và vách ngăn bị lệch, vẹo

Người muốn thu nhỏ sống mũi để hài hòa hơn với tổng thể gương mặt.

ƯU ĐIỂM NÂNG MŨI MODEL 4D CẤU TRÚC CHỈNH XƯƠNG SIÊU ÂM

NÂNG MŨI CẤU TRÚC 4D SIÊU ÂM – CÔNG NGHỆ SÓNG SIÊU ÂM ULTRASONIC HIỆN ĐẠI

Ultrasonic được thiết kế với đầu camera thông minh, đi sau vào phân tích cấu trúc xương và truyền sóng siêu âm để mài mòn phần xương gồ, to dễ dàng.

TÁI CẤU TRÚC MỌI DÁNG MŨI

Với mỗi tình trạng xương, Model 4D cấu trúc chỉnh xương có sự tác động khác nhau:

Sống mũi bè to: Bác sĩ sẽ phẫu thuật thu gọn xương mũi, khi đó vùng này sẽ bị co lại, do đó bác sĩ sẽ tiến hành mở rộng thêm góc mắt, để mũi không chỉ thu nhỏ mà khuôn mặt có được vẻ hài hòa.

Mũi to và gồ: Bác sĩ sẽ dùng kỹ thuật hạ xương mũi, mài thẳng sống mũi và kết hợp thu nhỏ đầu mũi nếu xương mũi và đầu mũi to bè.

Dịch vụ phẫu thuật nâng mũi Model 4D cấu trúc chỉnh xương được thực hiện theo đúng tiêu chuẩn quy trình của Bệnh viện Thẩm mỹ Đông Á cùng với sự kiểm duyệt khắt khe của Bộ Y Tế, đặc biệt khi kết hợp cùng với máy Ultrasonic và kỹ thuật thực hiện hiện đại, sẽ mang đến kết quả dáng mũi ưng ý.

THỜI GIAN THẨM MỸ NHANH CHÓNG

Chỉ sau 45 phút phẫu thuật, bạn đã xóa bỏ mọi khuyết điểm dáng mũi, ngoài ra với nâng mũi Model 4D cấu trúc chỉnh xương, khách hàng có thể xuất viện ngay trong ngày. Mũi đẹp sau 1 – 1,5 tháng.

KHÔNG ĐAU, KHÔNG ĐỂ LẠI SẸO

Trước khi thủ thuật thẩm mỹ, các bác sĩ đã thực hiện gây mê do đó bạn không hề cảm thấy đau đớn, sự tác động từ sóng siêu âm Utrasonic sẽ khoanh vùng mô sụn và mô xương cần loại bỏ, ngoài ra vết thẩm mỹ sẽ nằm trong hốc mũi, nhờ đó hạn chế xâm lấn, không gây tổn thương vùng xunh quanh.

QUY TRÌNH NÂNG MŨI MODEL 4D CẤU TRÚC CHỈNH XƯƠNG SIÊU ÂM

Bác sĩ tiến hành thăm khám, xác định cụ thể tình trạng mũi của khách hàng như xương mũi, sống mũi, đầu mũi, cánh mũi, và tư vấn cho khách hàng dáng mũi phù hợp với khuôn mặt.

Bác sĩ tiến hành xét nghiệm máu, đánh giá chức năng gan thận, đo điện tim…để nắm bắt tình trạng sức khỏe hiện tại của người tiến hành thẩm mỹ.

Trước khi bước vào quá trình phẫu thuật các bác sĩ sẽ tiến hành gây mê nhẹ nhằm giúp cho khách hàng tránh được cảm giác đau đớn và tiến hành lấy sụn vành tai hoặc sụn vách ngăn để dựng trụ mũi và bọc đầu mũi.

Dùng máy Ultrasonic điêu khắc lại dáng mũi, đính phần sụn tự thân vào những vị trí cần thiết và đóng kín vết mổ bằng chỉ khâu thẩm mỹ.

Chăm sóc sức khỏe sau quá trình phẫu thuật thu gọn xương mũi bè, tái khám định kì và cắt chỉ.

HÌNH ẢNH KHÁCH HÀNG ĐÃ NÂNG MŨI MODEL 4D CẤU TRÚC CHỈNH XƯƠNG SIÊU ÂM

CHI PHÍ NÂNG MŨI MODEL 4D CẤU TRÚC CHỈNH XƯƠNG SIÊU ÂM

ĐỊA CHỈ THẨM MỸ HÀNG ĐẦU VIỆT NAM

Nâng Mũi Có Ảnh Hưởng Đến Cấu Trúc Xương Không?

Nâng mũi có ảnh hưởng đến cấu trúc xương không?

Như các bạn đã biết, mũi của chúng ta bao gồm 2 bộ phận chính là mũi trong và mũi ngoài. Nhưng xét theo phương diện thẩm mỹ thì chúng ta chỉ cần quan tâm đến phần mũi ngoài. Cấu tạo của mũi ngoài bao gồm: Khung xương, các sụn, các cơ và da mũi. Trong đó khung xương là bộ phận giúp hình thành dáng mũi cơ bản, nó được tạo thành bởi 2 xương mũi và phần mũi của xương trán, mỏm trán và khuyết mũi của xương hàm trên.

Trong phẫu thuật nâng mũi, việc tác động đến cấu trúc xương chỉ xảy ra trong trường hợp kích cỡ của chiếc mũi quá to nên cần phải thay đổi. Hay nói cách khác là việc nâng mũi có ảnh hưởng đến cấu trúc xương hay không còn tùy thuộc vào tình trạng của chiếc mũi. Nếu bạn đã có sẵn dáng mũi đẹp và thon gọn nhưng chỉ thiếu độ cao thì chỉ cần tiêm chất làm đầy vào những vùng khuyết điểm hoặc đơn giản là chỉ cần bóc tách nhẹ nhàng để đưa chất liệu độn vào đặt ở dưới da, trên xương tháp mũi để nâng cao sóng mũi. Còn với những trường hợp chiếc mũi quá to, cánh mũi rộng bè do xương mũi có cấu trúc quá rộng thì cần phải tác động đến cấu trúc xương để chiếc mũi được cao gọn và thanh mảnh hơn.

Ngày xưa, để xử lý chiếc mũi quá cỡ thì các bác sĩ thường chọn sóng mũi to tương ứng nhằm che đi khuyết điểm này hoặc sử dụng kỹ thuật mài xương để thu gọn. Tuy nhiên, các phương pháp trên đều không khả quan, không khắc phục được triệt để tình trạng này, đôi khi còn gây nguy hiểm cho sức khỏe.

Hiện nay, phẫu thuật cắt xương thu gọn là kỹ thuật an toàn và triệt để nhất để thu gọn kích cỡ của chiếc mũi và mang đến cho bạn chiếc mũi cao gọn, thanh mảnh tự nhiên. Kỹ thuật này được thực hiện như sau: Sau khi gây mê, bác sĩ sẽ tiến hành rạch một đường nhỏ ở bên trong mũi, qua đường rạch này bác sĩ sẽ dùng các dụng cụ chuyên dụng để cắt và nén hai xương mũi bè để thu nhỏ lại. Thời gian thực hiện chỉ từ 35 – 40 phút là xong.

Mặc dù kỹ thuật này có những tác động nhất định đến xương để thu gọn kích cỡ của chiếc mũi nhưng nó không để lại ảnh hưởng gì nghiêm trọng đến cấu trúc của xương sau phẫu thuật. Vì thế, bạn có thể yên tâm và tự tin để làm đẹp chiếc mũi của mình.

Tuy nhiên, kỹ thuật này rất phức tạp nên đòi hỏi bác sĩ phẫu thuật phải là người có chuyên môn cao, khéo léo và tỉ mỉ trong từng bước đồng thời phải có sự hỗ trợ của các dụng cụ chỉnh hình xương đặc biệt. Do đó, để an toàn và kết quả thu được hoàn hảo thì việc lựa chọn nơi thực hiện là việc làm quan trọng nhất. Bởi nếu không may lựa chọn phải trung tâm thẩm mỹ kém chất lượng với đội ngũ bác sĩ còn non kém, thiếu kinh nghiệm, thiết bị máy móc không đảm bảo thì không chỉ cấu trúc xương mà ngay cả các bộ phận khác của mũi cũng như sức khỏe của khách hàng cũng đều bị đe dọa.

Viện thẩm mỹ Nhật Hàn là một địa chỉ làm đẹp uy tín mà bạn không nên bỏ qua. Chúng tôi luôn tự hào là một trong những địa chỉ làm đẹp luôn đi đầu trong việc nghiên cứu và ứng dụng những công nghệ và kỹ thuật mới nhất để làm hài lòng cũng như đáp ứng được những tiêu chí về sự an toàn cho khách hàng. Bên cạnh đó, chúng tôi còn sở hữu đội ngũ bác sĩ lành nghề, luôn tận tâm và tỉ mỉ trong từng ca phẫu thuật. Hệ thống thiết bị, máy móc, dụng cụ chuyên dụng luôn được trang bị đầy đủ và hiện đại để có thể hỗ trợ các bác sĩ một cách hiệu quả. Đến với Viện thẩm mỹ Nhật Hàn bạn sẽ có được chiếc mũi cao đẹp, thon gọn tự nhiên và đảm bảo an toàn.