Top 6 # Cấu Trúc Hệ Tiêu Hóa Ở Người Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Cấu Tạo Hệ Tiêu Hóa Ở Gia Cầm

Đăng ngày: 18/10/2013 21:57

hệ tiêu hóa gia cầm

Lưỡi của gia cầm khá phát triển và có dạng như mỏ của nó. Ở gà, phần gốc lưỡi hơi rộng, đầu lưỡi nhọn còn ở thuỷ cầm gốc lưỡi và đầu lưỡi có độ rộng như nhau.

Quá trình tiêu hoá ở gia cầm diễn ra nhất nhanh. Ở gà, thức ăn chuyển qua đường tiêu hoá khoảng 8 giờ, ở vịt khoảng 16-26 giờ. Do vậy cấu tạo ống tiêu hoá ở gia cầm có khác với gia súc. Trong quá trình phát triển của phôi, ban đầu hệ tiêu hoá chỉ là một ống thẳng, về sau nó hình thành xoang miệng, thực quản, diều, dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột (ruột non, ruột già) tận cùng là hậu môn (hình 2.4).

Gia cầm có mỏ (thay cho môi ở gia súc), phần sừng của mỏ khá phát triển. Tác dụng của mỏ là để lấy thức ăn.

Lưỡi của gia cầm khá phát triển và có dạng như mỏ của nó. Ở gà, phần gốc lưỡi hơi rộng, đầu lưỡi nhọn còn ở thuỷ cầm gốc lưỡi và đầu lưỡi có độ rộng như nhau.

Ở xoang miệng không diễn ra quá trình tiêu hoá, không có răng. Sau khi vào xoang miệng thức ăn được chuyển theo thực quản. Ở gia cầm trên cạn (gà, gà tây, bồ câu…) thực quản phình to tạo thành một túi nhỏ gọi là diều, còn ở thuỷ cầm (vịt, ngỗng) sự phình to này ít hơn và tạo thành dạng ống (hình chai). Sự sai khác về giải phẫu này cho phép nhồi béo thuỷ cầm mà ở gà không làm được.

Diều là một túi chứa thức ăn ở gia cầm. Sức chứa của diều từ 100-200g. Thức ăn được giữ ở diều với thời gian phụ thuộc vào loại gia cầm và các loại thức ăn. Thức ăn cứng khoảng 10-15 giờ, thức ăn mềm, bột khoảng 3-4 giờ. Thức ăn từ diều được chuyển dần xuống dạ dày tuyến.

Hình 2.4: Hệ tiêu hoá của gia cầm

1- mỏ; 2- thực quản; 3- hầu; 4- diều; 5- dạ dày tuyến; 6- dạ dày cơ;

7- gan; 8- tuỵ; 9- ruột non; 10- manh tràng; 11- lỗ huyệt

Ruột của gia cầm có độ dài ngắn khác nhau phụ thuộc vào loài, giống, cá thể, tuổi, phương thức nuôi, loại thức ăn… Ruột non bắt đầu từ nơi tiếp giáp với dạ dày cơ, kéo dài cho đến đoạn ruột thừa (túi mù, ruột tịt). Ruột già bắt đầu từ chỗ tiếp giáp ruột non đến hậu môn. Tiêu hoá và hấp thu các chất dinh dưỡng diễn ra chủ yếu ở ruột non. Ở ruột già có nhiều vi sinh vật, nó giúp cho việc lên men và tiêu hoá xenlulô, chất không được tiêu hoá được bài tiết qua hậu môn (ổ nhớp) phần tận cùng của ống tiêu hoá.

→ TẢI TÀI LIỆU

Cấu Trúc Ống Tiêu Hóa Có Ở Động Vật Nào?

Chủ đề :

Hướng dẫn Trắc nghiệm Online và Tích lũy điểm thưởng

CÂU HỎI KHÁC

Ở động vật chưa có cơ quan tiêu hóa, thức ăn được

Ở động vật có túi tiêu hóa, thức ăn được

Ở động vật có ống tiêu hóa, thức ăn được tiêu hoá theo kiểu

Tiêu hóa là quá trình gì ?

Các loài động vật tiêu hóa thức ăn bằng túi tiêu hóa là

Ở người thức ăn vào miệng rồi lần lượt qua các bộ phận nào?

Quá trình tiêu hoá thức ăn trong túi tiêu hoá là

Thứ tự các bộ phận trong ống tiêu hóa của người là gì

Thứ tự các bộ phận trong ống tiêu hóa của giun đất là

Thứ tự các bộ phận trong ống tiêu hóa của châu chấu là

Thứ tự các bộ phận trong ống tiêu hóa của chim là

Quá trình tiêu hoá ở động vật có ống tiêu hoá diễn ra như thế nào?

Quá trình tiêu hoá ở động vật chưa có cơ quan tiêu hoá diễn ra chủ yếu là

Ý không đúng với cấu tạo của ống tiêu hoá ở người là

Ở trùng biến hình, thức ăn được

Ở trùng roi, thức ăn được

Ở trùng giày, thức ăn được

Ở giun dẹp, thức ăn được

Ở giun đất, thức ăn được

Tiêu hóa hóa học trong ống tiêu hóa ở người diễn ra ở

Ý không đúng với sự tiêu hoá thức ăn trong các bộ phận của ống tiêu hoá ở người là

Sự tiến hóa của các hình thức tiêu hóa diễn ra theo hướng

Phát biểu nào không đúng khi nói tiêu hóa thức ăn trong ống tiêu hóa?

Sự hấp thụ các chất dinh dưỡng chủ yếu ở

Tiêu hóa nội bào là thức ăn được tiêu hóa

Các bộ phận tiêu hóa ở người vừa diễn ra tiêu hóa cơ học vừa diễn ra tiêu hóa hóa học

Giai đoạn quan trọng nhất trong quá trình tiêu hoá thức ăn là

Giới động vật có kiểu dinh dưỡng

Những ưu điểm của tiêu hóa thức ăn trong ống tiêu hóa so với trong túi tiêu hóa1.

Sự khác nhau giữa tiêu hóa nội bào và tiêu hóa ngoại bào là 1.

Để tiêu hóa tinh bột, tuyến nước bọt ở người đã tiết ra enzim nào sau đây?

Ở dạ dày, prôtêin được biến đổi hóa học nhờ tác dụng của

Cấu trúc ống tiêu hóa có ở động vật nào?

Ở ruột thức ăn được biến đổi hóa học nhờ tác dụng của

Động vật nào sau đây đã hình thành túi tiêu hóa?

Người bị phẫu thuật cắt 2/3 dạ dày, vẫn xảy ra quá trình biến đổi thức ăn vì

Ruột non là trung tâm của quá trình tiêu hóa vì(1) Thức ăn ở ruột non được biến đổi chủ yếu về mặt hóa học.

Quá trình tiêu hóa thức ăn ở ống tiêu hóa bao gồm

Các chất dinh dưỡng sau khi được biến đổi sẽ được hấp thụ vào máu theo cơ chế

Hệ Tiêu Hóa Trẻ Em

TRƯỜNG CĐ SP SÓC TRĂNGKHOA TỰ NHIÊNTỔ SINH-KTNNBÀI HỆ TIÊU HÓAGV Điền Huỳnh Ngọc Tuyết 2MỤC TIÊU– Sinh viên biết được đặc điểm cấu tạo của hệ tiêu hóa ở trẻ em.– Giải thích được các hiện tượng, số số bệnh về tiêu hóa ở trẻ em.– Vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn.3Câu hỏi tìm hiểu bàiNêu đặc điểm cấu tạo và chức năng của hệ tiêu hóa.Nêu đặc điểm cấu tạo ống tiêu hóa và tuyến tiêu hóa trẻ em. 3. Trình bày sự tiêu hóa thức ăn trong ống tiêu hóa.4. Cho biết sự hấp thu và thải bả. Tìm những điểm khác biệt trong hấp thu và thải bả ở trẻ em.5.Sự chuyển hoá các chất dinh dưỡng trong cơ thể4KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG Đọc cá nhân theo câu hỏi đã gợi ý.Phân 1 số câu hỏi cho các nhóm.Đại diện nhóm trình bày Nhóm trả lời thắc mắc.Hệ thống bài5Kiến thức cũ6 Nội dung bài 2. Hệ tiêu hoá của trẻ em Ống tiêu hóaTuyến tiêu hóa72. Nêu đặc điểm cấu tạo ống tiêu hóa và tuyến tiêu hóa trẻ em. 3. Là giáo viên MN em sẽ làm gì giúp tránh những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của trẻ?8 Chú ý:– Những điểm khác biệt so với người lớn.– Giải thích các hiện tượng thường gặp ở trẻ:+ Trẻ dễ bị nghẹn khi ăn + Trẻ dễ bị sâu-sún răng.+ Trẻ bị tưa miệng.+ Dễ bị dị ứng gan, sa ruột, lồng ruột, rối loạn tiêu hóa, nôn trớ9Mời đại diện nhóm trình bày và giải đáp thắc mắcThời gian: 10′10HỆ THỐNG BÀI112. Hệ tiêu hoá của TE a. Ống tiêu hoá – Lưỡi: rộng, dày, nhiều gai vị giác.122. Hệ tiêu hoá của trẻ em a. Ống tiêu hoá – Răng+ Răng sữa bắt đầu mọc + Thời gian mọc phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng, cơ thể, tính di truyền.+ 6 tuổi bắt đầu thay răng 132. Hệ tiêu hoá của trẻ em a. Ống tiêu hoá – Răng+ Men răng: mỏng, dễ vỡ, dễ bị sâu, sún  cần chú ý chăm sóc trẻ để bảo vệ răng.1415b. Thực quản-Thực quản trẻ sơ sinh hình chóp nón.16b. Thực quản-Thành thực quản mỏng, tổ chức đàn hồi và cơ chưa phát triển đầy đủ-Lớp niêm mạc mỏng, mịn, nhiều mạch máu, tổ chức tuyến ít.17 c. Dạ dày – Ở trẻ nhỏ, dạ dày nằm ngang, cao. – Trẻ biết đi: chuyển dần sang đứng– Tuổi mẫu giáo: vị trí như người lớn 2/3 đứng, 1/3 nằm ngang .18 c. Dạ dày – Trẻ sơ sinh dạ dày có hình hơi tròn– 1 tuổi có hình thuôn dài.19 c. Dạ dày – Lớp cơ thành dạ dày chưa phát triển, cơ thắt tâm vị phát triển yếu, cơ thắt môn vị phát triển tốt, đóng rất chặt, lỗ tâm vị rộng– Kích thước của dạ dày thay đổi theo tuổiTâm vị 20d. Ruột-Phát triển nhanh trong ba năm đầu-Trẻ 6 tháng: chiều dài ruột gấp 6 lần chiều dài cơ thể 21d. Ruột-Lớp niêm mạc:+ Rất phát triển+ Diện tích hấp thụ lớn mạch máu nhiều + dễ dàng hấp thụ sản phẩm trung gian + vi khuẩn xâm nhập dễ dàng. 22d. Ruột-Màng treo ruột dài-Manh tràng ngắn và di động lồng ruột, xoắn ruột.– Ruột thừa hình phễu, không cố định– Trực tràng dài– Lớp niêm mạc lỏng lẻo-Tổ chức mỡ bao quanh ít  sa trực tràng.23Bổ sung242. Hệ tiêu hoá TE a. Ống tiêu hoá *Khoang miệng của trẻ dưới 1 năm nhỏ, hẹp, lớp niêm mạc mịn, mỏng nhiều mạch máu, dễ xây xát25– Khoang miệng nhỏ vì xương hàm ít phát triển– Răng sữa bị sâu có thể không rụng được và răng vĩnh viễn sẽ mọc lẫy.26– Thời kỳ mẹ có thai và giai đoạn trẻ ăn thêm: Cung cấp thức ăn đủ vitamin A,C,D, khoáng Ca, P  răng được vôi hóa và phát triển tốt.27– Khi trẻ biết nhai phải dạy trẻ nhai kỹ để hàm phát triển.28– Lớp niêm mạc mịn, mỏng nhiều mạch máu, dễ xây xátdễ bị tưa miệng do nấm.29 Dạ dày nối thực quản qua tâm vị và nối với ruột non qua môn vị. Đến 2 tuổi lớp cơ thành dạ dày giống người lớn.Tâm vị30

-Hình dạng, vị trí– Cấu tạo của dạ dày– Đặc điểm thức ăn Trẻ dễ bị nôn trớ sau khi ăn.

-Hình dạng, vị trí– Cấu tạo của dạ dày– Đặc điểm thức ăn Trẻ dễ bị nôn trớ sau khi ăn.31Liên hệ thực tế(trả lời các câu hỏi đã gợi ý)32Mời đại diện nhóm trình bày và giải đáp thắc mắcThời gian: 10′332. Tuyến tiêu hoáa. Tuyến nước bọt– Trẻ sơ sinh:+ tuyến nước bọt chưa biệt hoá+ trung tâm bài tiết chưa phát triển nước bọt rất ít, chưa tiêu hoá chất bột.342. Tuyến tiêu hoáa. Tuyến nước bọt-Trẻ 3 – 4 tháng:+ phát triển hoàn toàn+ số lượng nước bọt dần dần tăng 352. Tuyến tiêu hoáa. Tuyến nước bọt– Nước bọt của trẻ nhỏ trung tính và axít nhẹ.-Trong nước bọt của trẻ có đủ các men amilaza, ptyalin, mantaza.– Hoạt tính của các men tăng dần theo tuổi 3637TUYẾN VỊ TRÊN THÀNH DẠ DÀY38b. Tuyến vị– Sự bài tiết dịch vị: + Trẻ sơ sinh còn yếu +Tăng dần theo lứa tuổi.– Tính chất và số lượng dịch vị phụ thuộc vào thành phần, tính chất của thức ăn.39b. Tuyến vị-Thành phần dịch vị: + Tương tự như ở người lớn. + Chất lượng và số lượng kém dịch vị của người lớn. + Sự bài tiết axit thấp + Số lượng men pepxin thấp ở trẻ bú mẹ.40Tuyến Tuỵ41c. Tuyến tuỵ– Ở trẻ sơ sinh:+ Hình lăng trụ 3 mặt+Đầu nhỏ hơn thân và đuôi.– 5-6 tuổi: hình thể giống người lớn.42c.Tuyến tuỵ– Tuyến tụy hoạt động ngay từ khi sơ sinh, dịch tụy của trẻ có đủ các men tiêu hoá như người lớn. – Hoạt tính của men tăng dần từ tháng thứ 3 tới 2 tuổi đạt những người lớn.43d. Gan – Gan của trẻ em so với cơ thể tương đối to. + Trẻ sơ sinh trọng lượng gan là 4,4% trọng lượng cơ thể (người lớn là 2,4%). + Tháng thứ 10 trọng lượng tăng gấp đôi+ 3 tuổi tăng 3 lần 44d. Gan– Dễ di động, thay đổi vị trí theo tư thế hoặc bị chèn ép– Gan có nhiều mạch máu, chức phận chưa hoàn thiện  dễ có phản ứng ở gan, gan bị thoái hoá mỡ.45 Trong tế bào gan trẻ em có những hốc có thể sản xuất máu.46e. Tuyến ruột– Nằm dưới lớp niêm mạc ruột, tiết ra dịch ruột có thành phần và men tiêu hoá như người lớn.

47Chú ý– HTK điều khiển hoạt động các tuyến – Bài tiết các dịch tiêu hoá + Theo cơ chế phản xạ + Phụ thuộc thành phần của thức ăn Ống tiêu hóa trẻ emTuyến tiêu hóa trẻ em 2. Hệ tiêu hóa trẻ emCần phải chăm sóc tốt để tránh những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của trẻ49

Chúc các em học tốt

Hệ Tiêu Hóa Của Gia Cầm

1 – Thực quản; 2 -Diều; 3 -Dạ dày tuyến; 4 – Dạ dày cơ; 5 – Lá lách; 6 – Túi mật; 7 – Gan; 8 – Ống mật; 9 – Tuyến tuỵ; 10 – Ruột hồi manh tràng; 1 1 – Ruột non; 12 – Ruột thừa (manh tràng); 13 – Ruột già; 14 – Ổ nhớp

Gia cầm có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật có vú. Cường độ tiêu hoá mạnh ở gia cầm được xác định bằng tốc độ di chuyển của thức ăn qua ống tiêu hoá. Ở gà còn non, tốc độ này là 30 – 39 cm trong 1 giờ; ở gà lớn hơn là 32 – 40cm và ở gà trưởng thành là 40 – 42cm (V.M. Xelianxki, 1986). Chiều dài của ống tiêu hoá gia cầm không lớn, thời gian mà khối thức ăn được giữ lại trong đó không v ượt quá 2 – 4 giờ, ngắn hơn rất nhiều so với động vật khác, do đó, để quá trình tiêu hoá thức ăn diễn ra thuận lợi và có hiệu quả cao, thức ăn cần phải phù hợp về với tuổi và trạng thái sinh lý, được chế biến thích hợp, đồng thời có hàm lượng xơ ở mức ít nhất.

Các cơ quan thị giác và xúc giác kiểm tra sự tiếp nhận thức ăn. Đối với gà và gà tây, các cơ quan vị giác và khứu giác rất kém phát triển. Khi không đủ ánh sáng, gà và gà tây sẽ ăn kém. Gia cầm thực hiện mổ và nuốt thức ăn nhờ các động tác nâng lên, hạ xuống linh hoạt của đầu. Gà thực hiện từ 180 – 240 động tác mổ trong 1 phút, gà tây 60. Số lượng thức ăn mà gia cầm ăn được trong 1 đơn vị thời gian phụ thuộc vào mức độ hấp dẫn của thức ăn, loài và tuổi của gia cầm. Khi gia cầm đói, nó mổ nhanh và ăn nhiều. Gia cầm tiếp nhận thức ăn lỏng và nước bằng cách nâng đầu rất nhanh rồi ngửa cổ lên để nuốt. Riêng chim bồ câu uống nước bằng cách thả mỏ, hút nước vào nhờ áp lực âm trong xoang miệng.

Khi thức ăn đi trong khoang miệng, nó được thấm ướt nước bọt đẻ dễ nuốt. Các tuyến nước bọt của gia cầm phát triển kém. Động tác nuốt ở gia cầm được thực hiện nhờ chuyển động rất nhanh của lưỡi, khi đó thức ăn được chuyển rất nhanh vào vùng trên của hầu vào thực quản. Thanh quản được nâng lên phía trước và lên trên, lối vào thanh quản bị ép tới đáy của xương dưới lưỡi và gốc lưỡi, ngăn không cho thức ăn rơi vào đường hô hấp. Viên thức ăn thu nhận được ở cuống lưỡi được đẩy vào lỗ thực quản và sau đó, do những co bóp nhu động của thành thực quản, nó được đẩy vào diều. Ở gia cầm đói, thức ăn được đẩy thẳng vào dạ dày, không qua diều. Trong thành thực quản có các tuyến nhầy hình ống, tiết ra chất nhầy, cũng có tác dụng làm ướt và trơn thức ăn khi nuốt.

Nếu làm thí nghiệm cắt diều của gà đi, thức ăn đi qua ống tiêu hoá nhanh hơn nhưng sự tiêu hoá lại giảm đi một cách đáng kể, gà đẻ sút cân. Sau một thời gian, cơ thể sẽ lại tạo ra một cái diều mới, bên trên chỗ diều cũ.

Ở gà, số lượng dịch dạ dày và độ axit tăng dần lên cùng với độ tuổi. Ở gà con vài ngày tuổi, dịch dạ dày có tính axit (pH = 4,2 – 4,4). Axit clohidric tự do không thường xuyên được tìm thấy trong khối chứa trong dạ dày của gà con có độ tuổi từ 1 – 5 ngày.

Trong việc tạo thành màng sừng có các tuyến của màng nhầy, biểu bì của những chỗ trũng ở dạ dày tham gia.

Màng sừng của mề luôn bị mòn đi, nhưng nhờ sự dày lên ở đáy nên chiều dày của nó được ổn định. Ngoài ý nghĩa cơ học, màng sừng còn giữ cho vách dạ dày khỏi bị tác động của những yếu tố bất lợi. Màng sừng bền với pepsin, không bị hoà tan trong các axit loãng, kiềm và các dung môi hữu cơ (Ju, T. T echver, 1984).

Các sản phẩm tiêu hoá, thức ăn, vi khuẩn không được hấp thu qua màng sừng, vách dạ dày. Chất lượng của màng sừng phụ thuộc vào kiểu cho ăn. Nếu trong thời gian dài chỉ cho gà ăn thức ăn ướt, thì màng sừng bị mềm đi và biến mất.

Lớp cơ của mề cấu tạo từ mô cơ phẳng, một đôi cơ lớn chính có dạng hình tam giác hướng các đáy lại với nhau đã tạo nên khối cơ của vách mề.

Sự co bóp nhịp nhàng của mề xảy ra trong 2 pha: trong pha đầu, 2 cơ chính co bóp; và sau đó là các cơ trung gian (pha thứ 2). Thời gian của mỗi nhịp co của 2 đôi cơ ở gà trong khoảng 2 – 3 giây, còn cả chu kỳ co bóp là 20 giây. Tần số co bóp phụ thuộc vào độ rắn của thức ăn. Khi ăn thức ăn ướt có 2 lần co bóp, còn thức ăn cứng – 3 lần trong 1 phút.

Trong dạ dày cơ, ngoài việc nghiền thức ăn cơ học, còn sảy ra quá trình hoạt động của các men. Dưới tác động của axit clohidric, các phân tử protein trở nên căng phồng và dễ bị phân giải.

Dịch ruột gà là một chất lỏng đục, có phản ứng kiềm yếu (pH – 7,42) với tỷ trọng 1,0076. Trong thành phần dịch ruột có các men proteolytic, aminolytic và lypolytic và cả men enterokinaza.

Dịch tuỵ là một chất lỏng không màu, hơi mặn, có phản ứng hơi toan hoặc hơi kiềm (pH 7,2 – 7,5). Trong chất khô của dịch, ngoài các men, còn có các axiTamin, lipit và các chất khoáng (NaCl, CaCl 2, NaHCO 3…).

Khả năng tiêu hoá chất xơ của gia cầm rất hạn chế. Cũng như ở động vật có vú, các tuyến tiêu hoá của gia cầm không tiết ra một men đặc hiệu nào để tiêu hoá xơ. Một lượng nhỏ chất xơ được phân giải trong manh tràng bằng các men do vi khuẩn tiết ra. Những gia cầm nào có manh tràng phát triển hơn như đà điểu, ngan, ngỗng… thì các chất xơ được tiêu hoá nhiều hơn.

Ở các loại gia cầm khác nhau thì chỉ có có trung bình từ 10 – 30% cất xơ được phân giải.

Cường độ hấp thu vitamin B 1 phụ thuộc vào nhu cầu của cơ thể và vào nồng độ của nó có trong thức ăn. Sự hấp thu xảy ra tốt hơn ở những phần bên trên của ruột non. Việc bổ sung các chất kháng sinh vào thức ăn làm tăng Cường sự hấp thu tiamin ở gà con. Vitamin E ở gà con được hấp thu với sự tham gia của dịch mật.