Top 10 # Cấu Trúc Mạng Tinh Thể Của Nguyên Tử Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Tinh Thể Nguyên Tử, Tinh Thể Phân Tử

I. TINH THỂ NGUYÊN TỬ

 

1. Khái niệm về tinh thể nguyên tử

 

 - Những nguyên tử được sắp xếp một cách đều đặn theo một trật tự nhất định trong không gian tạo thành một mạng tinh thể. 

 - Liên kết hóa học chủ yếu giữa những nguyên tử với nhau bằng liên kết cộng hoá trị.

 

2. Tính chất chung của tinh thể nguyên tử

 

 - Nhận xét: Lực liên kết cộng hoá trị trong tinh thể nguyên tử rất lớn. 

→ Tinh thể nguyên tử bền vững, rất cứng, nhiệt độ nóng chảy và nhiệt độ sôi khá cao.

 

Ví dụ: Mạng tinh thể kim cương mỗi nguyên tử cacbon liên kết với 4 nguyên tử cacbon lân cận gần nhất bằng 4 cặp electron chung, đó là 4 liên kết cộng hoá trị. Các nguyên tử cacbon này nằm trên 4 đỉnh của một tứ diện đều (hình 3.4).

 

 → Kim cương có độ cứng lớn nhất so với các tinh thể đã biết nên được quy ước có độ cứng là 10 đơn vị. Đó là đơn vị để so sánh độ cứng của các chất.

 

II. TINH THỂ PHÂN TỬ

 

1. Tinh thể phân tử

 

 - Tinh thể phân tử cấu tạo từ những phân tử được sắp xếp một cách đều đặn, theo một trật tự nhất định trong không gian tạo thành một mạng tinh thể. Ở các điểm nút của mạng tinh thể là những phân tử liên kết với nhau bằng lực tương tác yếu giữa các phân tử.

 

 - Phần lớn các chất hữu cơ, các đơn chất phi kim ở nhiệt độ thấp đều kết tinh thành mạng lưới tinh thể phân tử (phân tử có thể gồm một nguyên tử như các khí hiếm, hoặc nhiều nguyên tử như các halogen, O2, N2, H2, H2O, H2S, CO2…). 

 

2. Tính chất chung của tinh thể phân tử

 

  - Nhận xét: Trong tinh thể phân tử, các phân tử vẫn tồn tại như những đơn vị độc lập và hút nhau bằng lực tương tác yếu giữa các phân tử. 

 

→ Tinh thể phân tử dễ nóng chảy, dễ bay hơi. Ngay ở nhiệt độ thường, một phần tinh thể như naphtalen (băng phiến) và iot đã bị phá huỷ, các phân tử tách rời khỏi mạng tinh thể và khuếch tán vào không khí làm cho ta dễ nhận ra mùi của chúng. 

 

 - Các tinh thể phân tử không phân cực dễ hoà tan trong các dung môi không phân cực như benzen, toluen, cacbon tetraclorua…

 

Thí dụ 1: Tinh thể phân tử iot (I2) (hình 3.5). Phân tử iot là phân tử hai nguyên tử, các phân tử iot nằm trên các đỉnh và tâm các mặt của hình lập phương, gọi là tinh thể lập phương tâm diện 

 - Tính chất: Tinh thể phân tử iot không bền, iot có thể chuyển thẳng từ thể rắn sang thể hơi (sự thăng hoa).

 

Thí dụ 2: Mạng tinh thể nước đá thuộc loại tinh thể phân tử. Mỗi phân tử liên kết với bốn phân tử khác gần nó nhất nằm trên bốn đỉnh của một hình tứ diện đều (hình  

3.143.14).

Cấu trúc của tinh thể phân tử nước đá thuộc cấu trúc tứ diện, là cấu trúc rỗng nên nước đá có tỉ khối nhỏ hơn khi nước ở trạng thái lỏng, thể tích nước đá ở trạng thái đông đặc lớn hơn khi ở trạng thái lỏng.

 

 - Tính chất: Tinh thể nước đá không bền dễ chuyển sang trạng thái lỏng

 

Trung tâm luyện thi, gia sư – dạy kèm tại nhà NTIC Đà Nẵng

LIÊN HỆ NGAY VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ BIẾT THÊM THÔNG TIN CHI TIẾT

ĐÀO TẠO NTIC  

Địa chỉ: Đường nguyễn lương bằng, P.Hoà Khánh Bắc, Q.Liêu Chiểu, Tp.Đà Nẵng Hotline: 0905540067 - 0778494857 

Email: daotaontic@gmail.com

Tinh Thể Nguyên Tử. Tinh Thể Phân Tử

I – TINH THỂ NGUYÊN TỬ

1. Thí dụ

Mạng tinh thế kim cương:Mạng tinh thể kim cương được tạo bởi các nguyên tử cacbon.Trong tinh hể kim cương, mỗi nguyên tử cacbon ở trạng thái lai hóa  $sp^3$  liên kết cộng hóa trị với bốn nguyên tử cacbon gần nhất nằm ở bốn đỉnh của một tứ diện đều bằng bốn cặp electron  chung. Mỗi nguyên tử cacbon ở đỉnh lại liên kết với các nguyên tử cacbon khác. Khoảng cách giưa hai nguyên tử cacbon cạnh nhau trong mạng tinh thể kim cương là  $0,154  nm$  (hình  $3.12$), gần với độ dài liên kết đơn  $C-C$  trong phân tử hiđrocacbon no.

2. Tính chất chung của tinh thể nguyên tử

Tinh thể tạo bởi các nguyên tử nằm ở các nút của mạng, liên kết với nhau bằng liên kết cộng hóa trị.Liên kết cộng hóa trị là liên kết bền nên các tinh thể nguyên tử  $(Si,  Ge…)$  đều có độ cứng lớn, nhiệt độ nóng chảy và nhiệt độ sôi cao. Thí dụ: Kim cương có độ cứng lớn nhất so với các tinh thể khác.

II – TINH THỂ PHÂN TỬ

1. Một số mạng tinh thể phân tử

a) Mạng tinh thể phân tử của iot

Phân tử iot là phân tử hai nguyên tử, các phân tử iot nằm trên các đỉnh và tâm các mặt của hình lập phương, gọi là tinh thể lập phương tâm diện  (hình  $3.13$).Tinh thể phân tử iot không bền, iot có thể chuyển thẳng từ thể rắn sang thể hơi (sự thăng hoa).

b) Mạng tính thể phân tử của nước đá

Mạng tinh thể nước đá thuộc loại tinh thể phân tử. Mỗi phân tử liên kết với bốn phân tử khác gần nó nhất nằm trên bốn đỉnh của một hình tứ diện đều (hình  $3.14$).

2. Tính chất chung của tinh thể phân tử

Lực tương tác giữa các phân tử rất yếu nên các chất có cấu tạo tinh thể phân tử thường mềm, có nhiệt độ nóng chảy thấp, dễ bay hơi.

Mạng tinh thế kim cương:Mạng tinh thể kim cương được tạo bởi các nguyên tử cacbon.Trong tinh hể kim cương, mỗi nguyên tử cacbon ở trạng thái lai hóa $sp^3$ liên kết cộng hóa trị với bốn nguyên tử cacbon gần nhất nằm ở bốn đỉnh của một tứ diện đều bằng bốn cặp electron chung. Mỗi nguyên tử cacbon ở đỉnh lại liên kết với các nguyên tử cacbon khác. Khoảng cách giưa hai nguyên tử cacbon cạnh nhau trong mạng tinh thể kim cương là $0,154 nm$ (hình $3.12$), gần với độ dài liên kết đơn $C-C$ trong phân tử hiđrocacbon chúng tôi thể tạo bởi các nguyên tử nằm ở các nút của mạng, liên kết với nhau bằng liên kết cộng hóa trị.Liên kết cộng hóa trị là liên kết bền nên các tinh thể nguyên tử $(Si, Ge…)$ đều có độ cứng lớn, nhiệt độ nóng chảy và nhiệt độ sôi cao. Thí dụ: Kim cương có độ cứng lớn nhất so với các tinh thể khác.Phân tử iot là phân tử hai nguyên tử, các phân tử iot nằm trên các đỉnh và tâm các mặt của hình lập phương, gọi là tinh thể lập phương tâm diện (hình $3.13$).Tinh thể phân tử iot không bền, iot có thể chuyển thẳng từ thể rắn sang thể hơi (sự thăng hoa).Mạng tinh thể nước đá thuộc loại tinh thể phân tử. Mỗi phân tử liên kết với bốn phân tử khác gần nó nhất nằm trên bốn đỉnh của một hình tứ diện đều (hình $3.14$).Cấu trúc của tinh thể phân tử nước đá thuộc cấu trúc tứ diện, là cấu trúc rỗng nên nước đá có tỉ khối nhỏ hơn khi nước ở trạng thái lỏng, thể tích nước đá ở trạng thái đông đặc lớn hơn khi ở trạng thái lỏng.Lực tương tác giữa các phân tử rất yếu nên các chất có cấu tạo tinh thể phân tử thường mềm, có nhiệt độ nóng chảy thấp, dễ bay hơi.

Cấu Tạo Mạng Tinh Thể Của Kim Loại Nguyên Chất

Vật rắn chia làm 2 nhóm: Tinh thể và vô định hình

Trong vật rắn tinh thể, các chất điểm sắp xếp theo một quy luật trật tự hình học nhất định. Trong các vật rắn vô định hình các chất điểm sắp xếp hỗn loạn

Tất cả các kim loại và hợp chất của chúng ở trạng thái rắn đều là vật tinh thể (có cấu tạo tinh thể). Chúng có nhiệt độ nóng chảy hoặc đông đặc xác định

Để nghiên cứu các quy luật sắp xếp các chất điểm trong vật tinh thể người ta nêu ra khái niệm về mạng không gian (mạng tinh thể) hình 3a

+Trong điều kiện thường và áp suất khí quyển hầu hết các kim loại tồn tại ở trạng thái rắn ngoại trừ thủy ngân. Ở trạng thái này các nguyên tử của các kim loại xắp xếp theo một trật tự nhất định trong không gian tạo thành mạng tinh thể.

+Mạng tinh thể là mô hình không gian mô tả quy luật hình học của sự sắp xếp

các chất điểm(nguyên tử, ion hay phân tử) trong vật tinh thể.

+Mạng tinh thể bao gồm các mặt đi qua chất điểm, các mặt này luôn luôn song

song cách đều nhau và được gọi là mặt tinh thể.

+Khối cơ bản là các khối đơn giản giống nhau mà xếp theo ba chiều đo thì có được mạng tinh thể.. khối cơ bản là hình khối nhỏ nhất có cách sắp xếp chất điểm đại diện chung cho mạng tinh thể.

Trong mạng tinh thể, ion chiếm chỗ các nút mạng và dao động quanh các điểm nút đó như dao động quanh các vị trí cân bằng. Mạng tinh thể như gồm bởi các mặt đi qua các chất điểm, các mặt này luôn luôn song song và cách đều nhau gọi là các mặt tinh thể (H3b)

nhất đặc trưng cho một loại mạng gọi là ô cơ bản hay ô cơ sở (H3c)

a) Dạng thực ô cơ sở b) Phần thể tích các nguyên tử trong 1 ô c) Khối cơ bản

Những nguyên tử trên phương đường chéo khối (a 3 ) tiếp xúc với nhau còn theo phương đường chéo mặt và cạnh a xếp rời nhau tạo nên những lỗ hổng có kích thước bé

a: gọi là thông số mạng (hằng số mạng, chu kỳ mạng…)

Mật độ nguyên tử của mạng (mật độ khối) là phần thể tích tính ra % của mạng do

các nguyên tử chiếm chỗ được xác định bằng công thức

Mv = (n.v)/V x 100% Số nguyên tử trong ô mạng n = Bán kính nguyên tử: r =( a 3 )/4

Thể tích của 1 nguyên tử : v = 4/3 ð.r Thể tích ô mạng: V = a

Ta tính được Mv = 68% . Mv càng cao thì thể tích riêng nhỏ, KLR cao

-Thông số mạng là kích thước cơ bản của mạng tinh thể, ở đây có thể tính ra được khoảng cách 2 ngtử bất kỳ trong mạng

Thông số mạng được đo bằng Ao hay kX

Mạng LPTT chỉ có 1 TSM là a. khoảng cách 2 ngtử gần nhau nhất là d Các kim loại có kiểu mạng này là Fe

Các nguyên tử (ion) nằm ở các đỉnh và giữa (tâm) các mặt của hình lập phương.

Các kim loại: Fe, Cu, Ni, Al, Pb… có kiểu mạng lập phương diện tâm.

Hình 5: kiểu mạng lập phương diện tâm

a) Dạng thực ô cơ sở b) Phần thể tích các nguyên tử trong 1 ô

Các nguyên tử xếp sít nhau trên phương đường chéo mặt nên mặt tinh thể chéo hợp bởi phương này có các nguyên tử xếp sít nhau. Trên phương đường chéo khối và cạnh a các nguyên tử xếp rời nhau và tạo nên các lỗ hổng với số lượng ít hơn song kích thước lớn hơn

Mv = 74% với n = … Khoảng cách 2 ngtử gần nhau hay d =.

Các ngtử có kiểu mạng này là : Fễ, Cu, Ni, Al, Pb…

Hình 6: Kiểu mạng lục giác xếp chặt

a) Dạng thực ô cơ sở b) Phần thể tích các nguyên tử trong 1 ô c) Khối cơ bản

Bao gồm 12 nguyên tử nằm ở các đỉnh, 2 nguyên tử nằm ở giữa 2 mặt đáycủa hình lăng trụ lục giác và 3 nguyên tử nằm ở khối trung tâủ khối lăng trụ tam giác cách nhau.

Khối cơ bản kiểu mạng này như gồm bởi 3 lớp nguyên tử xếp sít nhau, các ngtử lớp đáy dưới xếp sít nhau rồi đến 3 ngtử ở giữa xếp vào khe lõm của lớp đáy do đó chúng cũng xếp sít nhau, các ngtử lớp đáy trên lại xếp vào các khe lõm của lớp giữa nhưng có vị trí trùng với vị trí lớp đáy dưới

Mv = 74% . Kiểu mạng này có 2 thông số mạng là a và c. Vì các lớp xếp sít nhau

nên a và c lại có sự tương quan

Trường hợp lý tưởng c/a = 1,633 (√8/3 ). Thực tế ít gặp nên người ta quy ước nếu

c/a trong khoảng 1,57 đến 1,64 được coi là xếp chặt

VD: c/a của Be = 1,5682 ; Mg = 1,6235. Khi c/a khác giá trị trên quá nhiều thì được coi là không xếp chặt

VD: c/a của Zn = 1,8563 ; của Cd = 1,8858 c/a được gọi là độ chính phương

Hình 7: Khối cơ bản của kiểu mạng chính phương thể tâm

Các kim loại không có kiểu mạng này, song đây là 1 kiểu mạng rất quan trọng của một tổ chức khi nhiệt luyện có được ( Kiểu mạng của tổ chức Maxtenxit ) có thể coi mạng CPTT là LPTT bị kéo dài ra theo trục Z

Nó có 2 thông số mạng là c và a. tỷ số c/a được coi là độ chính phương

Khá nhiều kim loại có đặc tính là ở các nhiệt độ và áp suất khác nhau một nguyên tố có thể tồn tại với những kiểu mạng khác nhau. Tính chất này được gọi là tính thù hình

Các dạng thù hình của cùng 1 nguyên tố được ký hiệu bằng các chữ cái hy lạp …

Trong kỹ thuật phải chú ý đến tính thù hình của KL vì khi chuyển biến thù hình sẽ gây ra các biến đổi quan trọng về thể tích và tính chất

VD: Nung sắt đến 911 độ có sự chuyển biến Feα (Mv=68%) sang Fe (Mv = 74%) thể tích giảm đi đột ngột. Khi làm nguội thì ngược lại, đó chính là quá trình tôi thép : mạng tinh thể của Fe biến đổi từ Fe sang Feα thể tích tăng sẽ không có lợi, gây ứng suất (hình vẽ)

Sn ở t0 thường (Sn- mạng chính phương diện tâm) khi làm nguội < -30 độ

C có 2 dạng thù hình kim cương và graphít với 2 kiểu mạng rất khác nhau (kim cương và lục giác) t/c khác hẳn nhau: kim cương = 10.000HB, không dẫn điện còn Graphít rất mềm dẫn điện dễ vỡ vụn. Có điều đặc biệt là cả 2 dạng thù hình cùng

Cấu Trúc Tinh Thể Của Đá Quý

Các loại đá quý được kết tinh ở các hệ tinh thể khác nhau, điều đó làm cho ta sơ bộ phân biệt được khoáng vật này với khoáng vật khác. Các hệ tinh thể bao gồm: lập phương, 6 phương, 4 phương, 3 phương, trực thoi, một nghiêng và tinh hệ 3 nghiêng.

1. Tính đối xứng của tinh thể

Yếu tố đối xứng là một điểm, một mặt phẳng hay một đường thẳng tưởng tượng đặt thêm vào hình mà qua nó (đối với điểm hoặc mặt) hoặc quanh nó (đối với đương) các phần tử bằng nhau lập lại theo một quy luật.

Có 3 loại yếu tố đối xứng tâm, mặt và trục đối xứng

1.1 Tâm đối xứng: ký hiệu C là một điểm nằm bên trong hình có đặc tính sau: Một đường thẳng bất kỳ qua nó bao giờ cũng cắt hình ở hai điểm cách đều hai bên nó. Một đa diện có tâm C khi mỗi mặt bất kỳ của đa diện có một mặt tương ứng nằm ở phía xuyên tâm đối, song song, bằng nhau và trái chiều đối với nhau.

1.2. Mặt đối xứng P là một mặt phẳng chia hình thành hai phần bằng nhau với điều kiện phần này như ảnh của phần kia qua gương đặt thay mặt P.

1.3 Trục đối xứng xoay Ln: là một đường thẳng mà quanh nó các phần bằng nhau của hình được lặp lại một cách đều đặn. Khi xoay hình quanh trục đủ một vòng 3600 bao giờ hình cũng chiếm những vị trí tương tự vị trí đầu tiên một số nguyên n lần (n được gọi là bậc của trục). Góc quay bé nhất để hình trở lại vị trí tương tự vị trí đầu tiên gọi là góc xoay cơ sở của trục. Trong tinh thể chỉ có các trục đối xứng bậc 1, 2, 3, 4, 6.

1.4. Trục tinh thể (crystal axes) là những đường tưởng tượng đi qua tâm của các mặt tinh thể (hoặc cạnh của tinh thể) và cắt nhau tại một điểm nằm trong tinh thể.

2. Hình đơn và ghép

Hình đơn là một hình mà từ một mặt cho trước của nó có thể suy ra các mặt còn lại nhờ các yếu tố đối xứng trong hình đó.

Một đa diện tinh thể được tạo nên bởi hai hoặc nhiều hình đơn gọi là hình ghép.

Trục đối xứng Các hình đơn của tinh thể

a – Trục bậc 4, b – Trục bậc 3 a- Mặt đôi cơ sở; b- Lăng trụ;

c- Hình tháp; d-e- Dạng vòm (dome forms)

Các hình đơn cơ bản của tinh thể là: hình tháp (piramid forms), hình lăng trụ (prism), hình song diện (pinacoid forms), hình song diện cơ sở (basal pinacoid), hình vòm (dome forms).

Hình tháp thường chứa các mặt hình tam giác, mỗi mặt này cắt 3 trục tinh thể.

Hình lăng trụ có 3 mặt hoặc hơn, các mặt giốn nhau và cạnh của chúng thì song song với nhau. Ta có lăng trụ bậc một khi mỗi mặt cắt của trụ bên (lateral) và song song với trục thẳng đứng; lăng trụ bậc hai khi mỗi mặt cắt một trục bên (lateral) và song song với hai trục kia.

Hình đôi mặt (song diện) là một cặp mặt giống nhau, đều cắt 1 trục và song song với hai trục kia.

Hình đôi mặt cơ sở luôn song song với các trục bên (lateral axes).

Hình vòm (dome forms) là hình với các mặt cắt 2 trục (trong đó có 1 trục là trục thẳng đứng) và song song với trục thứ ba.

2. Các hệ tinh thể

3.1. Hệ lập phương: Các tinh thể thuộc hệ này có 3 trục có độ dài bằng nhau và tạo với nhau góc 900. Các dạng lý tưởng của hệ lập phương là khối lập phương, khối 8 mặt, khối 12 mặt.

Các loại đá quý kết tinh trong hệ lập phương gồm:

Granat Spinen Kim cương Fluorit Lazurit

Các tinh thể này có 9 mặt đối xứng, 3 trục bậc 4, 4 trục bậc 3, 6 trục bậc 2 và một tâm đối xứng.

Các tinh thể của hệ lập phương và tinh thể fluorit (bên phải)

a- Khối lập phương (tinh thể fluorit)

b-Khối tám mặt (tinh thể kim cương)

c- Tinh thể pyrit (12 mặt ngũ giác)

3.2. Hệ bốn phương (hệ tứ phương): Các tinh thể thuộc hệ này có 3 trục tạo với nhau góc 900, 2 trục trong đó có độ dài bằng nhau và nằm ngang. Trục thứ ba là trục thẳng đứng có độ dài khác 2 trục kia và được coi là trục tinh thể. Dạng lý tưởng của tinh thể loại này là 1 hình lăng trụ với 2 mặt đáy là hinh vuông. Trong tinh thể hệ bốn phương có 5 mặt phẳng đối xứng, 1 trục bậc 4, 4 trục bậc 2 và 1 tâm đối xứng.

Các loại đá kết tinh theo hệ bốn phương (tứ phương ) là :

Anata Rutin Zircon Caxiterit Scapolit Sielit

Các tinh thể của hệ bốn phương và tinh thể zircon (bên phải)

3.3. Hệ sáu phương: Các tinh thể thuộc hệ này có 4 trục. Trục chính là trục thẳng đứng dài hơn hoặc ngắn hơn 3 trục kia, 3 trục này dài bằng nhau và tạo với nhau góc 600, trục chính vuông góc với mặt phẳng chứa 3 trục còn lại. Hình dạng lý tưởng của tinh thể này là một lăng trụ 6 phương hoặc tháp đôi của hai tháp 6 phương.

Các đá quý kết tinh trong hệ sáu phương là apatit và berin.

Tinh thể hệ sáu phương có 7 mặt phẳng đối xứng, 7 trục đối xứng (1 trục bậc 6 và 6 trục bậc 2).

Các dạng tinh thể của hệ 6 phương và tinh thể aquamarin (bên phải)

3.4. Hệ ba phương: Các tinh thể thuộc hệ này có 4 trục giống như tinh thể hệ 6 phưong. Nhưng chúng chỉ có 3 mặt phẳng đối xứng và 4 trục đối xứng (1 trục bậc 3 và 3 trục bậc2), 1 tâm đối xứng.

Các đá quý kết tinh trong hệ ba phương gồm canxit, thạch anh, benitoit, corindon, smitsonit, phenakit, tuamalin.

Các tinh thể của hệ ba phương và tinh thể canxit (bên phải)

3.5. Hệ trực thoi:Các tinh thể thuộc hệ này có 3 trục vuông góc với nhau và có độ dài khác nhau, trục chính là trục đứng và trục ngang đi qua mặt bên, trong đó trục dài hơn gọi là trục dài và trục ngắn hơn gọi là trục ngắn. Chúng có 3 mặt đối xứng, 3 trục đối xứng và 1 tâm đối xứng. Hình dạng lý tưởng của tinh thể hệ này là hình lăng trụ hoặc dang của tháp 4 phương với mặt chính là hình chữ nhật.

Những đá quý kết tinh thuộc hệ này là :

Andalusit Đanburit Peridot Tomxonit

Aragonit Đumocterit Prenit Topaz

Berilonit Estatit Storlit Zoizit

Crizobenrin Iolit Sinhalit

Các tinh thể hệ trực thoi và tinh thể topaz (bên phải)

3.6. Hệ một nghiêng (monoclinic system): Các tinh thể hệ một nghiêng có 3 trục đối xứng với độ dài khác nhau, trong đso hai trục cắt nhau với một góc nghiêng và trục thứ 3 vuông góc với chúng. Tinh thể hệ này có 1 mặt đối xứng và 1 trục đối xứng bậc 2, 1 tâm đối xứng.

Tinh thể hệ một mặt nghiêng và tinh thể azurit (bên phải)

Các đá quý kết tinh trong hệ này là :

Azurit Ơcla Nephrit Spocđumen

Đatolit Jađeit Octocla Brazilianit

Điopxit Lazulit Secpentin Tan

Epidot Malachit Sphen

3.7. Hệ ba nghiêng (triclinic system): Các tinh thể thuộc hệ này cũng có 3 trục đối xứng với độ dài khác nhau và nghiêng với nhau (một trục thẳng đứng và 2 trục nằm ngang được gọi là trục dài và trục ngắn như trong hệ trực thoi). Các tinh thể này không có mặt và tâm đối xứng.

Đá quý kết tinh theo hệ này là :

Ambligonit Kianit Microclin Buruza

Axinit Labrado Oligocla fenspat

Các tinh thể hệ một nghiêng, ba nghiêng và trực thoi được gọi là tinh thể hạng thấp. Các tinh thể hệ ba phương, bốn phương, sáu phương được gọi là tinh thể hạng trung bình. Tinh thể hệ lập phương là tinh thể hạng cao.

Tinh thể hệ ba nghiêng và tinh thể microclin (bên phải)

4. Tinh thể đôi (song tinh)

Người ta gọi tinh thể đôi (hay song tinh) là một liên kết có quy luật của hai tinh thể cùng chất, nếu cấu trúc mạng của hai cá thể đó có thể trùng lại với nhau nhờ một trong những phép đối xứng sau: phép quay quanh trục bậc hai, phép chiếu qua mặt phẳng gương hay qua tâm đối xứng, hoặc nhờ tác dụng đồng thời của chúng.

Tinh thể đôi luôn luôn tạo thành theo những định luật tinh thể học xác định. Mặt phẳng chia đôi (song tinh) được gọi là mặt phẳng song tinh. Một số tinh thể đôi thành tạo nhờ phép quay 1800 quanh một trục được gọi là trục song tinh. Có các loại tinh thể đôi đơn giản có thể chia thành 2 tinh thể đơn, ví dụ tinh thể đôi của spinen. Có loại tinh thể đôi phức tạp không thể chia thành 2 tinh thể đơn, ví dụ: tinh thể fluorit. Nhóm plagiocla đặc trưng cho hiện tượng song tinh đa hợp, tức là có hàng loạt tinh thể liên kết với nhau, trong đó cứ mỗi tinh thể gần kề thành một song tinh và song song với một tinh thể thứ ba.

Trong trường hợp có ba tinh thể, bốn tinh thể ghép lại một cách có quy luật, ta gọi là tam tinh, tứ tinh…

Các tinh thể song tinh

a- Song tinh fluorit; b- Song tinh spinen; c- Song tinh alexanđrit

d- Song tinh zircon

Các song tinh có thể được hình thành do:

1- Các tinh thể nhỏ mới hình thành phát triển trong dung dịch.

2- Tác dụng của các ảnh hưởng cơ học bên ngoài (do các lực có định hướng)

3. Sự các biến đổi khác nhau trong chất kết tinh.