Top #10 ❤️ Cấu Trúc Xã Hội Việt Nam Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Hình Thức Cấu Trúc Nhà Nước Của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Bài Giảng Pháp Luật Và Hệ Thống Pháp Luật Xã Hội Chủ Nghĩa

Bản Chất, Chức Năng Và Hình Thức Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa (Xhcn)

Khái Niệm Hệ Thống Chính Trị, Mô Hình Tổ Chức Hệ Thống Chính Trị; Những Yếu Tố Tác Động Và Quy Định Mô Hình Tổ Chức Của Hệ Thống Chính Trị

Bài 3: Hệ Thống Chính Trị Ở Việt Nam Hiện Nay

Đề Cương Ôn Tập Môn Xã Hội Học

Thời Pháp thuộc nước ta chia làm ba kỳ với ba chế độ khác nhau ở Bắc, Trung, Nam. Đó không phải là sự bảo đảm quyền tự trị mà là “để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết” (Hồ Chí Minh – Tuyên ngôn độc lập).

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền về tay nhân dân. Tuyên ngôn độc lập tuyên bố nước Việt Nam độc lập, thóat khỏi ách thống trị của thực dân và đánh đổ chế độ quân chủ, lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.

Hiến pháp 1946 quy định “Đất nước Việt Nam là một khối thống nhất Trung Nam Bắc không thể phân chia” (Điều 2).

Nhưng đế quốc Mỹ đã phá hoại Hiệp định Giơnevơ bằng cách hất cẳng Pháp, đưa bọn tay sai Ngô Đình Diệm vào để lập chính quyền bù nhìn ở miền Nam, phá hoại hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất của nước ta.

Xét về mặt pháp lý, giới tuyến quân sự tạm thời (vĩ tuyến 17) không phải là biên giới quốc gia. Song chính quyền Ngô Đình Diệm được Mỹ giúp đỡ đã ngày càng củng cố, được một số quốc gia thừa nhận. Thực tế trên đất nước ta đã hình thành hai nhà nước: Việt Nam dân chủ cộng hòa và Việt Nam cộng hòa.

Năm 1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng.

Năm 1976, thống nhất đất nước về mặt nhà nước. Đó là sự thống nhất giữa Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam, lấy tên là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Hiến pháp 1980 khẳng đối với “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ”.

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước đơn nhất, có chủ quyền độc lập và tự chủ trong việc thực hiện các chức năng của mình ở trong nước và trên các quan hệ quốc tế.

hình thức cấu trúc của nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam

hình thức cấu trúc lãnh thổ của nhà nước cộng hòa xã hội

,

Các Hình Thức Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa

Bộ Máy Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Hình Thức Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Ba Nấc Thang Phát Triển Lý Thuyết Về Vị Thế Và Vai Trò Của Con Người Trong Cấu Trúc Xã Hội

Tài Liệu Vai Trò Của Giáo Dục Đối Với Sự Phát Triển Của Xã Hội

Xã Hội Hóa Dịch Vụ Công Ở Việt Nam

Đổi Mới Thể Chế Phát Triển Và Đẩy Mạnh Xã Hội Hóa Cung Ứng Dịch Vụ Công

Dịch Vụ Công Và Quản Lý Dịch Vụ Công Ở Việt Nam

Đẩy Mạnh Xã Hội Hóa Dịch Vụ Công Ở Nước Ta Hiện Nay

Xã Hội Hóa Và Chất Lượng Cung Ứng Dịch Vụ Công

Xã Hội Hóa Dịch Vụ Công

Xã hội hóa dịch vụ công – nội dung quan trọng của quản lý công mới

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, nền hành chính công ở các quốc gia đều phải giải quyết nhiều hơn những vấn đề phức tạp của đời sống kinh tế – xã hội, là thách thức đối với chính phủ ở nhiều nước. Để vượt qua những thách thức này đòi hỏi hành chính công ở các nước phải thay đổi mạnh mẽ và tích cực hơn. Theo đó, mô hình quản lý công mới gắn liền với xây dựng một chính phủ gọn nhẹ, hoạt động hiệu quả, nhanh nhạy. Đây là một xu hướng mới trong hoạt động của nhà nước – nền hành chính chuyển chức năng từ “cai trị” sang chức năng “phục vụ”, cung cấp dịch vụ công cho xã hội.

Một trong những chức năng cơ bản của nhà nước giao cho nền hành chính đảm trách là cung ứng dịch vụ công. Nền hành chính ngày càng phát triển, vì vậy dịch vụ công được mở rộng trên nhiều lĩnh vực khác nhau với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, đồng thời cần phối hợp và điều hòa các nguyện vọng cá nhân với lợi ích của cộng đồng, của đất nước, hướng tới các mục tiêu của một xã hội dân chủ. Nhiều hoạt động cung ứng dịch vụ công được chuyển giao dần cho các khu vực ngoài nhà nước thực hiện, nhà nước không tự mình giải quyết tất cả các vấn đề xã hội mà đẩy mạnh dân chủ hóa gắn với phân quyền, xã hội hóa nhằm tập trung chỉ thực hiện tốt vai trò ” lái thuyền“. Theo cách tiếp cận này, hành chính công được coi là quản lý công hay mô hình quản lý công mới ( New Management) – đó là sự điều hành, giám sát và quản lý các chủ thể khác nhau của xã hội nhằm phục vụ tốt hơn các nhu cầu chính đáng của nhân dân.

Thuật ngữ “Quản lý công mới” xuất hiện đầu tiên trong những năm cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, xuất phát từ các quốc gia như Anh, New Zealand và Australia khi khu vực công hoạt động không hiệu quả, chi phí cao nhưng chất lượng dịch vụ công lại thấp. Do đó, với mong muốn đem lại những thay đổi tích cực hơn, các quốc gia này đã tìm giải pháp ở khu vực tư nhân. Một mô hình hành chính công mới ra đời với tên gọi “Quản lý công mới” có mục tiêu tạo ra một nền hành chính hoạt động hiệu quả và gần với thị trường hơn, đồng thời mô hình này cũng áp dụng các nguyên tắc, kỹ thuật và thực tiễn quản lý theo cơ chế thị trường và cách thức hoạt động của khu vực tư.

Trong nền kinh tế thị trường, các lợi ích chung mà dịch vụ công đem lại thể hiện dưới hình thức hàng hóa công cộng, là loại hàng hóa mà mọi người đều có thể sử dụng, việc tiêu dùng của người này không giảm lượng tiêu dùng của người khác và nó vẫn tồn tại khi không tiêu dùng. Dịch vụ công có nhiều loại, từ y tế, giáo dục, kết cấu hạ tầng, xóa đói giảm nghèo cho đến an ninh, bảo trợ xã hội… Dịch vụ công có đặc điểm là tính chất xã hội cao, tính quần chúng rộng rãi với mục tiêu là phục vụ lợi ích cộng đồng, không phân biệt giai cấp, địa vị xã hội, công bằng. Do đó, tính kinh tế, lợi nhuận trong cơ chế thị trường không phải là điều kiện cần có của hoạt động dịch vụ công, việc trao đổi dịch vụ công không thông qua hoặc không bao hàm quan hệ thị trường đầy đủ. Đối với một số dịch vụ công người sử dụng phải trả một phần hay toàn bộ kinh phí, thì nhà nước vẫn có trách nhiệm cung cấp các dịch vụ này không nhằm mục tiêu lợi nhuận (như pháp luật, an ninh, quốc phòng, cấp các loại giấy tờ bảo đảm quyền sở hữu và các lợi ích khác của người dân).

Sự phát triển của dịch vụ công phụ thuộc vào nhiều khía cạnh từ sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa của mỗi quốc gia. Ở Canada có tới 34 loại hoạt động được coi là dịch vụ công (quốc phòng, an ninh, pháp chế, tạo việc làm, quy hoạch, bảo vệ môi trường và các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, bảo hiểm xã hội… ). Tại Pháp, khái niệm dịch vụ công bao gồm các hoạt động công ích (điện, nước, giao thông công cộng, vệ sinh môi trường…); các hoạt động sự nghiệp phục vụ nhu cầu tinh thần, sức khỏe của người dân (giáo dục, y tế, thể thao, thể dục…); các dịch vụ hành chính công (thuế vụ, an ninh, quốc phòng, cấp phép hộ khẩu, hộ tịch…). Còn ở Ý, dịch vụ công được giới hạn ở hoạt động sự nghiệp, hoạt động kinh tế công ích (điện, nước sạch, vệ sinh môi trường), các hoạt động cấp phép hộ khẩu, hộ tịch lại do cơ quan hành chính thực hiện.

Xã hội hóa dịch vụ công mang đến “lợi ích kép” cho cả khu vực nhà nước và khu vực tư nhân, nhà nước giảm được gánh nặng, tập trung hơn vào công tác quản lý vĩ mô, từ đó tạo điều kiện để khu vực tư nhân có cơ hội đầu tư và cạnh tranh phát triển. Nhiều nhà cung ứng dịch vụ công sẽ tạo ra sự cạnh tranh nên dịch vụ cung cấp được rẻ hơn, tốt hơn; mặt khác, bộ máy nhà nước cũng trở nên gọn nhẹ và tiết kiệm hơn. Tại Việt Nam, xã hội hóa được hiểu là chuyển giao việc cung ứng dịch vụ công cho các khu vực ngoài nhà nước; huy động đóng góp và động viên sự tham gia rộng rãi của công dân và các tổ chức xã hội, nghề nghiệp vào quá trình cung ứng dịch vụ công và Nhà nước là người chịu trách nhiệm trước xã hội về việc bảo đảm đáp ứng nhu cầu của nhân dân ở mức cao nhất với bất kỳ hình thức cung ứng nào.

Hiện nay có các hình thức xã hội hóa dịch vụ công như sau:

Nhà nước ủy quyền cho các tổ chức xã hội hay các công ty tư nhân cung ứng một số dịch vụ mà nhà nước có trách nhiệm bảo đảm và thường có nguồn kinh phí từ ngân sách (vệ sinh môi trường, hệ thống cấp thoát nước, thu gom và xử lý rác thải…). Các tổ chức và công ty được ủy quyền phải tuân thủ những quy định của nhà nước và được nhà nước cấp kinh phí.

Chuyển giao trách nhiệm cung ứng dịch vụ công cho một số tổ chức ngoài nhà nước có điều kiện thực hiện có hiệu quả (đào tạo, khám chữa bệnh, tư vấn, giám định). Các tổ chức ngoài nhà nước (như các hiệp hội nghề nghiệp, các tổ chức xã hội) này được khuyến khích hoạt động theo cơ chế không vì lợi nhuận, mà chỉ thu phí để tự trang trải.

Tư nhân hóa một số dịch vụ công theo những tiêu chí về quyền lợi và trách nhiệm, đồng thời nhà nước vẫn giám sát và bảo đảm lợi ích công cộng theo pháp luật. Ở trình độ phát triển cao về kinh tế và xã hội, nhà nước mua dịch vụ công từ khu vực tư nhân, những dịch vụ mà tư nhân có thể làm tốt. Nhờ đó, số người làm dịch vụ trong cơ quan nhà nước sẽ được giảm bớt.

Thực trạng xã hội hóa dịch vụ công ở Việt Nam

Đảng và Nhà nước ta có nhiều chủ trương, chính sách về đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ công, nhằm huy động nguồn lực từ trong nhân dân và sự tham gia của người dân vào việc giải quyết các vấn đề thuộc chính sách xã hội của Nhà nước, nhưng không làm giảm vai trò, trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm các dịch vụ công cơ bản cho người dân.

Chúng ta thực hiện có hiệu quả chủ trương đẩy mạnh xã hội hóa, huy động được nhiều nguồn lực xã hội để cùng với ngân sách nhà nước đầu tư cho các lĩnh vực dịch vụ công, tạo điều kiện cho ngân sách nhà nước tập trung đầu tư phát triển các cơ sở công lập phục vụ những vùng nghèo, người nghèo và bảo đảm những dịch vụ cơ bản như giáo dục phổ cập; các chương trình mục tiêu quốc gia; y tế dự phòng, y tế cơ sở, chăm sóc sức khoẻ cơ bản cho các đối tượng chính sách, người nghèo… Thúc đẩy việc hình thành cơ chế cạnh tranh giữa các loại hình tổ chức cung ứng dịch vụ công lập và ngoài công lập nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng phục vụ; nâng cao ý thức trách nhiệm và mở rộng sự tham gia của toàn dân vào sự nghiệp phát triển giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục, thể thao… của đất nước.

Tuy nhiên, hiện nay, việc tăng nhanh số lượng các cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước phải có những biện pháp quản lý mới, nội dung và phương thức quản lý cần thay đổi do có nhiều vấn đề nảy sinh trong việc kiểm soát chất lượng dịch vụ. Không ít các doanh nghiệp trong khu vực tư nhân thường chú trọng đến lợi nhuận nhiều hơn nên có xu hướng đẩy cao giá dịch vụ, các loại phí dịch vụ bị điều chỉnh tùy tiện, chất lượng dịch vụ không tương xứng, cơ chế tài chính thiếu minh bạch. Nhiều cơ sở tư nhân được thành lập tự phát khó kiểm soát được chất lượng, như hàng loạt trường mầm non tư thục thành lập nhưng không đáp ứng đủ về không gian cho trẻ, thực phẩm và các điều kiện chăm sóc trẻ cũng không được bảo đảm, thiếu giáo viên cơ hữu; các cơ sở khám, chữa bệnh không đáp ứng được yêu cầu, nâng tùy tiện giá thuốc; các hãng phim chạy theo xu hướng giải trí rẻ tiền, thiếu tính giáo dục, định hướng… Tất cả đang đặt ra vấn đề về kiểm soát chất lượng đối với các dịch vụ được khối tư nhân cung ứng cho xã hội. Tất nhiên, tình trạng kém chất lượng trong cung ứng dịch vụ không bắt nguồn từ việc xã hội hóa, song mức độ xã hội hóa ồ ạt, thiếu kiểm soát rõ ràng đã tác động tiêu cực đến quyền lợi của người thụ hưởng dịch vụ…

Nguyên nhân của những hạn chế trên là do:

Thứ nhất, quan niệm, nhận thức của xã hội về xã hội hóa chưa toàn diện và đầy đủ, mới xem xã hội hóa là biện pháp huy động sự đóng góp tạm thời trong điều kiện Nhà nước đang khó khăn về tài chính và ngân sách, chưa thực sự quan tâm và quyết tâm đẩy mạnh xã hội hóa gắn với nâng cao chất lượng các hoạt động dịch vụ công.

Thứ hai, một bộ phận cán bộ, công chức và người dân có tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự cung cấp của Nhà nước, trong khi việc thông tin, tuyên truyền về mục tiêu, sự cần thiết của xã hội hóa chưa được quan tâm đúng mức.

Thứ ba, những chính sách, quy định, cơ chế để thu hút đầu tư của các nguồn lực xã hội để phát triển các dịch vụ công ngoài công lập chưa đủ thu hút, chưa đủ mạnh; các chính sách đòn bẩy kinh tế như thuế, tín dụng, đất đai, chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội chưa được triển khai thực hiện đồng bộ và nhất quán để thúc đẩy sự phát triển của hệ thống các cơ sở dịch vụ ngoài công lập. Công tác phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương chưa chặt chẽ, công tác chỉ đạo triển khai thực hiện của Nhà nước chưa quyết liệt.

Để nâng cao hiệu quả của xã hội hóa dịch vụ công tại Việt Nam thời gian tới

Nâng cao hiệu quả của việc xã hội hóa dịch vụ công là yêu cầu tất yếu trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, nhất là khi hiện nay công tác xã hội hóa thực hiện chưa đủ mạnh. Muốn thúc đẩy việc xã hội hóa dịch vụ công cốt lõi là cần nâng cao chất lượng phục vụ, đặt chức năng phục vụ lên hàng đầu, đồng thời thực hiện hiệu quả nhóm giaỉ pháp sau:

Một là, thống nhất nhận thức trong hệ thống chính trị và người dân về việc phát triển xã hội hóa dịch vụ công là một trong những giải pháp quan trọng để huy động các nguồn lực và năng lực của xã hội, đáp ứng nhu cầu và lợi ích của các tầng lớp nhân dân, phù hợp với sự phát triển đất nước. Từ đó, tạo điều kiện cho mọi thực thể kinh tế tham gia vào dịch vụ công. Các cấp chính quyền ban hành các cơ chế, chính sách và quy định những tiêu chuẩn, định mức, chất lượng, giá cả và dịch vụ… sao cho hợp lý; giao kế hoạch/đặt hàng và thanh toán dịch vụ theo đơn đặt hàng với đơn vị, tổ chức cung ứng dịch vụ công; thực hiện trợ giúp người nghèo, đối tượng chính sách được thụ hưởng dịch vụ sự nghiệp công; thanh tra, kiểm tra quá trình thực hiện dịch vụ công; tạo môi trường cho các chủ thể kinh tế cạnh tranh, hợp tác văn minh, kinh doanh có văn hóa.

Ba là, việc quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập cần được rà soát, kiểm tra, đặc biệt chú ý đến quy hoạch phát triển các dịch vụ ngoài công lập nhằm đáp ứng quy mô định hướng phát triển, phù hợp với yêu cầu của xã hội; điều chỉnh, bổ sung quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng mở rộng sự tham gia của các thành phần kinh tế, kể cả đầu tư của nước ngoài. Các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước đầu tư cho phát triển các đơn vị dịch vụ công lập và dịch vụ ngoài công lập được tăng cường và đa dạng hóa.

Bốn là, Nhà nước cần ban hành những chính sách hỗ trợ đầu tư ban đầu và khuyến khích các cơ sở ngoài công lập cùng với các chính sách đầu tư có hiệu quả cho các loại hình dịch vụ công lập, đa dạng các hình thức như: tư nhân góp vốn, liên doanh, vốn đầu tư nước ngoài; BOT (đầu tư – khai thác – chuyển giao), BT, BTO; đầu tư xây dựng nhà cửa, kết cấu hạ tầng cho các cơ sở ngoài công lập thuê dài hạn với giá ưu đãi, khuyến khích các cơ sở ngoài công lập có điều kiện phát triển. Các địa phương có quy hoạch về đất, dành quỹ đất để xây dựng và phát triển các cơ sở ngoài công lập phù hợp với định hướng phát triển xã hội hóa. Đẩy mạnh truyền thông, thông tin về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, trong đó có các nội dung xã hội hóa dịch vụ công một cách thường xuyên, sinh động, đa dạng và hiệu quả trên các phương tiện truyền thông.

Năm là, thiết lập cơ chế kiểm tra, kiểm soát hợp lý, quan trọng là phải ban hành được các chuẩn về chất lượng dịch vụ công. Hiện nay, các dịch vụ công mới chỉ cung ứng tới người dân và xã hội một cách thụ động, mức độ cung ứng cơ bản, thiết yếu so với nhu cầu và chưa có một hệ thống chuẩn mực để so sánh, đánh giá và hướng tới. Phương thức cung ứng vẫn còn hạn chế, dập khuôn, kém năng động và chưa phù hợp với các vùng miền có đặc điểm kinh tế, xã hội khác nhau. Cần xây dựng và ban hành tiêu chuẩn hóa về cán bộ, điều kiện cơ sở vật chất và những yêu cầu khác đối với các cơ sở ngoài công lập; quy định chế độ thông tin, báo cáo và trách nhiệm giải trình của các đơn vị dịch vụ sự nghiệp công. Hình thành các tổ chức kiểm định, đánh giá chất lượng dịch vụ độc lập theo ngành, lĩnh vực; xây dựng cơ chế giám sát và đẩy mạnh công tác kiểm tra, thanh tra để kịp thời xử lý những hiện tượng tiêu cực, tuỳ tiện. Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức phi chính phủ trong quản lý và tổ chức cung ứng dịch vụ công. Chế độ chịu trách nhiệm phải được thực hiện nghiêm túc và thường xuyên.

Sáu là, tăng cường hợp tác quốc tế, tranh thủ các nguồn viện trợ nhằm đẩy mạnh cho giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ; có chính sách động viên, thu hút đội ngũ trí thức Việt kiều về nước tham gia giảng dạy, nghiên cứu khoa học, khám, chữa bệnh, hoạt động văn hóa, thi đấu thể thao…

Xã hội hóa dịch vụ công là một biện pháp hữu hiệu để giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bình đẳng xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội. Vai trò của Nhà nước là sáng tạo và vận dụng phương tiện lập pháp để tạo điều kiện cho tự do cạnh tranh một cách hoàn hảo trên lĩnh vực này. Tuy nhiên, việc đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ công cũng phải tuân thủ nghiêm ngặt những nguyên tắc căn bản của việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, để tránh được tình trạng biến tướng từ “xã hội hóa” dịch vụ công thành “tư nhân hóa”, gây phản phát triển../.

Theo Tapchicongsan.org.vn

http://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/thuc-tien-kinh-nghiem1/-/2018/816018/xa-hoi-hoa-dich-vu-cong-o-viet-nam.aspx

Xã Hội Hóa Dịch Vụ Công: Nhà Nước Không Nên ‘ôm’ Việc Của Doanh Nghiệp

Nắm Vững 9 Nguyên Tắc Trong Xã Hội Hóa Giáo Dục

Xã Hội Hóa Giáo Dục Và Vai Trò Của Nhà Nước

Xã Hội Hóa Giáo Dục: Cần Cơ Chế Thông Thoáng Để Hài Hòa Lợi Ích Công

Xã Hội Hóa Giáo Dục Là Gì? Lợi Ích Của Người Dân Khi Nhà Nước Áp Dụng

Cơ Cấu Tổ Chức Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam Gồm 21 Đơn Vị

Tổng Quan Về Bảo Hiểm Xã Hội Và Các Chế Độ Bhxh Tại Việt Nam

Đặc Điểm Cơ Bản Nhà Nước Và Bộ Máy Nước Chxhcn Việt Nam

Bản Chất, Chức Năng Và Hình Thức Nhà Nước Cộng Hoà Xhcn Việt Nam

Truyền Thống Pháp Luật Xhcn Tại Việt Nam: Đôi Điều Suy Ngẫm

Hệ Thống Pháp Luật Xhcn

Theo đó, Bảo hiểm xã hội Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ có chức năng tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; tổ chức thu, chi chế độ bảo hiểm thất nghiệp; quản lý và sử dụng các quỹ: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế; thanh tra chuyên ngành việc đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; của Bộ Y tế về bảo hiểm y tế; của Bộ Tài chính về chế độ tài chính đối với các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam có nhiệm vụ, quyền hạn: Xác định, khai thác và quản lý đối tượng thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế; tổ chức khai thác, đăng ký và quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam được tổ chức và quản lý theo hệ thống dọc, tập trung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương gồm có:

1- Ở Trung ương là Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

2- Ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Bảo hiểm xã hội tỉnh) trực thuộc Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

3- Ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là Bảo hiểm xã hội huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Bảo hiểm xã hội huyện) trực thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh.

4- Không tổ chức đơn vị Bảo hiểm xã hội huyện tại đơn vị hành chính là thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh, nơi có trụ sở Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh đóng trên địa bàn.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam có Tổng Giám đốc và không quá 05 Phó Tổng Giám đốc.

Cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã  hội Việt Nam ở trung ương gồm: 1- Vụ Tài chính – Kế toán; 2- Vụ Hợp tác quốc tế; 3- Vụ Thanh tra – Kiểm tra; 4- Vụ Thi đua – Khen thưởng; 5- Vụ Kế hoạch và Đầu tư; 6- Vụ Tổ chức cán bộ; 7- Vụ Pháp chế; 8- Vụ Quản lý đầu tư quỹ; 9- Vụ Kiểm toán nội bộ; 10- Ban Thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội; 11- Ban Thực hiện chính sách bảo hiểm y tế; 12- Ban Quản lý Thu – Sổ, Thẻ; 13- Văn phòng (có đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh); 14- Viện Khoa học bảo hiểm xã hội; 15- Trung tâm Truyền thông; 16- Trung tâm Công nghệ thông tin; 17- Trung tâm Lưu trữ; 18- Trung tâm Giám định bảo hiểm y tế và Thanh toán đa tuyến; 19- Trung tâm Dịch vụ hỗ trợ, chăm sóc khách hàng; 20- Trường Đào tạo nghiệp vụ bảo hiểm xã hội; 21- Tạp chí Bảo hiểm xã hội.

Các đơn vị quy định từ (1) đến  (13) nêu trên là các đơn vị chuyên môn giúp việc Tổng Giám đốc, các tổ chức quy định từ  (14) đến  (21) nêu trên là các đơn vị sự nghiệp trực thuộc.

Tổng Giám đốc quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, biên chế, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Giám đốc, Phó Giám đốc và quy định kinh phí hoạt động của Bảo hiểm xã hội tỉnh. Số lượng Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh bình quân không quá 03 người.

Tổng Giám đốc quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, biên chế và quy định kinh phí hoạt động của Bảo hiểm xã hội huyện.

Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh căn cứ vào tình hình thực tế để thành lập các Tổ nghiệp vụ ở Bảo hiểm xã hội huyện trên cơ sở nguyên tắc thành lập Tổ nghiệp vụ do Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành.

Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Giám đốc, Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện; Tổ trưởng, Phó Tổ trưởng các Tổ nghiệp vụ thuộc Bảo hiểm xã hội huyện theo tiêu chuẩn chức danh và quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ do Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành. Số lượng Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện bình quân không quá 02 người.

Biến Đổi Cơ Cấu Xã Hội Sau 30 Năm Đổi Mới Và Một Số Vấn Đề Về Quản Lý Phát Triển Ở Việt Nam

Kinh Nghiệm Cải Cách Hệ Thống An Sinh Xã Hội Của Nhật Bản

Về Hệ Thống Khái Niệm Cơ Bản Trong Nghiên Cứu Biến Đổi Cơ Cấu Xã Hội Ở Việt Nam Hiện Nay

Biến Đổi Cơ Cấu Xã Hội Ở Việt Nam Trong Tiến Trình Đổi Mới

Bộ Xử Lí Arm & Intel: Đâu Là Sự Khác Biệt

Hình Thức Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Bộ Máy Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Các Hình Thức Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa

Hình Thức Cấu Trúc Nhà Nước Của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Bài Giảng Pháp Luật Và Hệ Thống Pháp Luật Xã Hội Chủ Nghĩa

Bản Chất, Chức Năng Và Hình Thức Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa (Xhcn)

53073

Hình thức chính thể Nhà nước CHXHCN Việt Nam

Hình thức cấu trúc Nhà nước CHXHCN Việt Nam

Chế độ chính trị của nước CHXHCN Việt Nam

1. Hình thức chính thể Nhà nước CHXHCN Việt Nam

– Hình thức chính thể là hình thức tổ chức các cơ quan quyền lực tối cao, cơ cấu, trình tự thành lập và mối liên hệ của chúng với nhau cũng như mức độ tham gia của nhân dân vào việc thiết lập các cơ quan này.

– Chính thể Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, thông qua nguyên tắc bầu cử bình đẳng, phổ thông, trực tiếp và bỏ phiếu kín nhân dân đã bỏ phiếu bầu ra cơ quan đại diện của mình ( Quốc hội, HĐND các cấp).

Quyền lực Nhà nước tối cao thuộc về Quốc hội. Quốc hội được bầu theo nhiệm kỳ 5 năm, có quyền lập pháp, quyền giám sát tối cao đối với hoạt động của các cơ quan Nhà nước, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước.

a) Chính thể Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam qua Hiến pháp khẳng định việc tổ chức quyền lực Nhà nước phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.

– Điều 4 Hiến pháp 2013: “Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.”

Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, định hướng cho sự phát triển của Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực trong từng thời kỳ.

Đảng vạch ra phương hướng và nguyên tắc nhằm xây dựng Nhà nước Việt Nam thực sự của dân, do dân, vì dân. Nhà nước có bộ máy Nhà nước chính quy, quy chế làm việc khoa học, đội ngũ cán bộ nhân viên Nhà nước làm việc tận tụy vì lợi ích nhân dân.

Đảng phát hiện bồi dưỡng đảng viên ưu tú và người ngoài đảng, giới thiệu giữ chức vụ quan trọng trong cơ quan Nhà nước thông qua bầu cử, bổ nhiệm.

Đảng giáo dục đảng viên nêu cao vai trò tiên phong, gương mẫu, tập hợp quần chúng động viên họ tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, thực hiện đường lối của Đảng và chấp hành pháp luật của Nhà nước.

Đảng kiểm tra tổ chức của đảng trong tổ chức và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, nghị quyết Đảng. Đảng kiểm tra cơ quan Nhà nước phát hiện sai lầm, hạn chế từ đó có biện pháp khắc phục, tổng kết, rút kinh nghiệm để không ngừng bổ sung đường lối của mình.

b) Nguyên tắc tổ chức quyền lực Nhà nước theo nguyên tắc tập quyền XHCN nhưng có sự phân công, phân nhiệm rạch ròi giữa các cơ quan.

Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, trong phạm vi quyền hạn của mình thực hiện tốt chức năng lập pháp, xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh đồng bộ, phù hợp.

Chính phủ là cơ quan quản lý mọi mặt của đời sống xã hội.

Tòa án tuân theo pháp luật, phụ thuộc vào pháp luật để thực hiện chức năng xét xử.

Viện kiểm sát thực hiện chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.

– Sự tập quyền thể hiện quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, thể hiện:

Nhân dân là chủ sở hữu tối cao của quyền lực Nhà nước, quyền lực Nhà nước là của nhân dân, không thuộc tổ chức nào, giai cấp nào.

Nhân dân là chủ sở hữu tài sản vật chất và tinh thần của Nhà nước.

Nhân dân giải quyết mọi vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng.

Nhân dân quản lý mọi công việc của xã hội.

– Nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua bỏ phiếu, thông qua cơ quan đại diện Quốc hội, HĐND do nhân dân bầu ra.

c) Chính thể Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.

– Bản chất nguyên tắc tập trung dân chủ thể hiện ở sự thống nhất giữa chế độ tập trung lợi ích Nhà nước với sự trực thuộc, phục tùng của cơ quan Nhà nước cấp dưới trước cơ quan Nhà nước cấp trên, chế độ dân chủ tạo điều kiện cho sự sáng tạo, chủ động trong giải quyết công việc thuộc thẩm quyền của mình.

– Nội dung:

Các cơ quan Nhà nước được thành lập bằng con đường bầu cử, bổ nhiệm.

Làm việc theo chế độ tập thể, cá nhân chịu trách nhiệm với phần việc được giao theo chế độ thủ trưởng.

Cơ quan cấp dưới phải phục tùng cơ quan Nhà nước cấp trên.

Khi ra quyết định cơ quan Nhà nước cấp trên phải tính đến lợi ích cơ quan Nhà nước cấp dưới.

Trong phạm vi quyền hạn của mình cơ quan Nhà nước được chủ động và phát huy sáng tạo trong giải quyêt mọi công việc, cơ quan Nhà nước cấp trên không được can thiệp.

d) Chính thể Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam mang bản chât giai cấp công nhân, mục tiêu xây dựng CNXH.

– Nhà nước Việt Nam là Nhà nước dân chủ, lợi ích giai cấp công nhân gắn liền với lợi ích giai cấp khác và nhân dân lao động.

– Nhà nước Việt Nam thực hiện dân chủ với nhân dân, nhưng chuyên chế với kẻ thù, âm mưu chống phá Nhà nước.

– Hiện nay, bản chất chuyên chính vô sản được thể hiện dưới dạng Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

e) Trong chính thể Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Mặt trận tổ quốc và các tổ chức xã hội có vai trò quan trọng.

– Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của quyền lực Nhà nước.

– Các tổ chức xã hội là phương tiện để nhân dân tham gia quản lý Nhà nước, cùng với cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội tạo ra sức mạnh tổng hợp để xây dựng cuộc sống phồn vinh, hạnh phúc, Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

2. Hình thức cấu trúc Nhà nước CHXHCN Việt Nam

– Hình thức cấu trúc Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là Nhà nước đơn nhất, được Hiến pháp 2013 quy định tại điều 1: ” Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời.”

– Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là Nhà nước đơn nhất, có độc lập, chủ quyền, có một hệ thống pháp luật thống nhất, có hiệu lực trên phạm vi toàn quốc.

Nhà nước Việt Nam có lãnh thổ thống nhất, không phân chia thành các tiểu bang hoặc cộng hòa tự trị mà chia thành các đơn vị hành chính trực thuộc. Tương ứng mỗi đơn vị hành chính là cơ quan hành chính Nhà nước. Các đơn vị hành chính không có chủ quyền quốc gia và đặc điểm như Nhà nước.

Nhà nước Việt Nam là tổ chức duy nhất trong hệ thống chính trị có chủ quyền quốc gia, là chủ thể quan hệ quốc tế toàn quyền đối nội, đối ngoại, quyết định mọi vấn đề của đất nước.

Một hệ thống pháp luật thống nhất với một Hiến pháp, hiệu lực Hiến pháp và pháp luật trải rộng trên phạm vi toàn quốc. Các cơ quan Nhà nước trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình có quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trên cơ sở cụ thể hóa Hiến pháp, pháp luật, phù hợp với Hiến pháp và pháp luật.

Nhà nước Việt Nam là Nhà nước thống nhất của các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam. Nhà nước thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, giữ gìn và phát huy phong tục, tập quán của dân tộc.

3. Chế độ chính trị của nước CHXHCN Việt Nam

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.

Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Chính sách đại đoàn kết và đường lối dân tộc nước CHXHCN Việt Nam

Chính sách đại đoàn kết và đường lối dân tộc là những vấn đề lớn của cách mạng Việt Nam, một trong những nội dung quan trọng phản ánh bản chất của chế độ chính trị nước chxh chủ nghĩa Việt Nam.

Chính sách đối ngoại của nước CHXHCN Việt Nam

Bảo vệ tổ quốc và xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Ba Nấc Thang Phát Triển Lý Thuyết Về Vị Thế Và Vai Trò Của Con Người Trong Cấu Trúc Xã Hội

Tài Liệu Vai Trò Của Giáo Dục Đối Với Sự Phát Triển Của Xã Hội

Những Nguyên Lý Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác

Những Nội Dung Cơ Bản Của Học Thuyết Hình Thái Kinh Tế

Đảm Bảo Người Dân Được Thụ Hưởng Đầy Đủ Các Chế Độ Bảo Hiểm Xã Hội

🌟 Home
🌟 Top