Top 5 # Công Thức Cấu Tạo Của Máu Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Thành Phần Của Máu Và Cấu Tạo Của Máu

BTV

Thành phần của máu và cấu tạo của máu, như chúng ta đã biết máu đối với cơ thể con người vô cùng quan trọng và là một trong những thành phần giúp duy trì sự sống con người, máu là một…

Thành phần của máu và cấu tạo của máu, như chúng ta đã biết máu đối với cơ thể con người vô cùng quan trọng và là một trong những thành phần giúp duy trì sự sống con người, máu là một loại mô liên kết với một chất dịch cơ bản và các yếu tố hữu hình.

Các thành phần của máu

Máu là một loại mô liên kết với một chất dịch cơ bản và các yếu tố hữu hình. Chất dịch cơ bản của máu được gọi là huyết tương (plasma). Lơ lững trong huyết tương là các thành phần tế bào, gồm 3 loại chính là: Các hồng cầu (erythrocytes); các bạch cầu (leukocytes) và các tiểu cầu hay tấm máu (platelets). Cả ba loại tế bào này đều xuất phát từ các tế bào mô liên kết đặc biệt gọi là các nguyên bào (stem cell) trong tủy xương của cá thể trưởng thành.

Nếu toàn bộ máu được xử lý để chống đông và cho vào một ống nghiệm đặt thẳng đứng, các yếu tố tế bào sẽ từ từ lắng xuống đáy, để lại huyết tương ở phía trên. Bình thường các tế bào chiếm khoảng 40 – 50% tổng thể tích của máu, trong khi huyết tương chiếm khoảng 50 – 60%.

Máu gồm 4 thành phấn chính: Huyết tương, Bạch cầu, Hồng cầu và tiểu cầu.

Các thành phần của máu có huyết tương

Huyết tương là thành phần cơ bản là nước, chiếm khoảng 90%. Trong nước có một số lượng rất lớn các chất hòa tan, nồng độ của các chất nầy thay đổi tùy theo hoạt động của sinh vật và khác biệt từ một phần của hệ cơ quan nầy đến hệ khác. Ðể tiện lợi, người ta thường chia những chất hòa tan này thành sáu loại: các ion vô cơ và muối; các protein huyết tương; các chất dinh dưỡng hữu cơ; các sản phẩm thải có nitơ; các sản phẩm đặc biệt được chuyên chở; các khí hòa tan..

Trong đó, các ion vô cơ và muối nồng độ của từng ion trong huyết tương được duy trì hằng định và được điều hòa nhờ nhiều yếu tố, đặc biệt là thận và các cơ quan bài tiết khác cũng như một số hormone. Sự ổn định này được gọi là sự cân bằng nội môi (homeostasis), đặc biệt cần thiết cho các chức năng của cơ thể. Khi nồng độ của các ion trong huyết tương tăng sẽ dẫn đến sự tăng các ion nầy trong dịch mô, gây ra những rối loạn nghiêm trọng. Nồng độ của các ion nầy cũng rất quan trọng trong việc xác định độ pH của dịch cơ thể.

Các protein huyết tương chiếm khoảng 7 – 9% trọng lượng huyết tương, gồm ba loại chính: fibrinogen, albumin và globulin, hầu hết đều được tổng hợp từ gan. Các protein nầy có vai trò quan trọng trong việc xác định áp suất thẩm thấu của huyết tương, ảnh hưởng đến sự trao đổi chất ở mao mạch và sự cân bằng nước của cơ thể. Chúng giúp ổn định pH của huyết tương cũng như kiểm soát độ nhớt của huyết tương.

Ngoài ra, khi liên kết với các hormone, acid béo hoặc các lipid, một số vitamin và các chất khoáng, các protein sẽ hổ trợ cho sự vận chuyển các chất nầy bởi máu. Thêm vào đó, fibrinogen và một số globulin có vai trò trong sự đông máu, một số globulin khác tham gia vào đáp ứng miễn nhiễm.

Các chất hữu cơ trong huyết tương gồm glucoz, các chất béo, phospholipid, acid amin, acid lactic và cholesterol. Một số được hấp thu từ ruột, một số đi vào máu từ gan. Acid lactic là sản phẩm của sự đường phân, chúng được chuyên chở từ máu vào gan. Tại đây một số được dùng để tái tổng hợp carbohydrate, một số sau đó được oxy hoá thành . Cholesterol có vai trò chính là tiền chất (precursor) của hầu hết các hợp chất steroid quan trọng trong cơ thể.

Huyết tương cũng chuyên chở các sản phẩm thải có nitơ từ các cơ quan bài tiết như thận. Ở động vật hữu nhũ, những chất thải nầy chủ yếu ở dạng ure, một số ít là ammonia và acid uric.

Trong số các sản phẩm được huyết tương chuyên chở, các hormone có vai trò đặc biệt quan trọng. Cấu trúc, chức năng và cơ chế tác động của chúng đã được đề cập chi tiết ở chương 7.

Có ba chất khí chính hòa tan trong huyết tương. Một là N2 khuếch tán từ phổi vào máu, trơ về mặt sinh lý. Hai khí khác là đặc biệt quan trọng sẽ được đề cập chi tiết ở phần sau.

Các thành phần của máu có Bạch cầu:

Các tế bào bạch cầu của người có nhân lớn, hình dạng không đều. Chúng được tạo ra từ các nguyên bào đặc biệt trong tủy xương và được phóng thích vào dòng máu. Ngoài máu, bạch cầu còn có rất nhiều trong hệ bạch huyết. Chúng cũng có khả năng di chuyển tự do trong các mô liên kết. Một số có chuyển động kiểu amip và có thể thoát ra khỏi mạch máu và mạch bạch huyết bằng các xuyên qua thành mạch ở chỗ tiếp giáp giữa các tế bào nội bì. Thực chất các tế bào bạch cầu di chuyển trong một hệ thống liên tục bao gồm máu, bạch huyết và các mô liên kết. Các tế bào bạch cầu khác nhau giữ vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ cơ thể chống lại các vi sinh vật gây bệnh như chúng ta sẽ thấy trong phần sau.

Các thành phần của máu có Hồng cầu:

Ở cá thể trưởng thành, các hồng cầu được sản sinh từ các nguyên bào trong tủy xương. Các tế bào hồng cầu chưa trưởng thành có nhân, ti thể, bộ Golgi… nhưng về cuối giai đoạn phát triển, chúng mất nhân và các bào quan khác, tích tụ nhiều hemoglobin, sau đó đi vào máu.

– Phân tử Hemoglobin (Hb) là một protein hình cầu có bốn chuỗi polypeptide. Mỗi chuỗi đều có chứa một nhóm phụ phức tạp gọi là nhóm Hem, có một nguyên tử Fe ở trung tâm.

Các thành phần của máu có Tiểu cầu:

Tiểu cầu là những thể nhỏ, không màu, có nhiều hạt, kích thước nhỏ hơn hồng cầu rất nhiều. Tiểu cầu được sản sinh ra khi tế bào chất của các tế bào tủy xương (megakaryocyte) bị tách ra và đi vào hệ tuần hoàn.

– Chức năng chính của tế bào là giải phóng Thromboplastin để gây đông máu. Khi gặp một vật lạ hay bề mặt tiếp xúc nhám, tiểu cầu sẽ ngưng kết thành cục nhờ đó đóng kín vết thương. Ngoài ra khi tiểu cầu bị vỡ chúng sẽ phóng thích serotonin gây co mạch để cầm máu.

Sự đông máu là một sự thích nghi tiến hóa cho sự sửa chữa cấp thời của hệ tuần hoàn và để ngăn cản sự mất quá độ của dịch cơ thể khi mạch máu bị tổn thương. Sự đáp ứng tức thời của mạch máu là khép lại, làm cho máu chảy chậm lại. Các tiểu cầu ở vùng nầy cũng dính vào nhau và dính vào mô tổn thương, tạo ra một đám tiểu cầu bị ngưng kết. Ðám tiểu cầu có thể làm chậm hoặc làm ngừng chảy máu từ các mạch tổn thương nhưng chúng rất dễ bị đẩy ra khỏi vị trí. Chúng được ổn định bằng sự thành lập của một cục máu (một mạng lưới các sợi được tạo ra chung quanh các tiểu cầu ở các mô tổn thương). Các tế bào khác có thể đan xen vào các sợi làm căng cục máu. Các sợi nầy được hợp thành từ các protein fibrin. Sợi fibrin được thành lập trong quá trình đông máu khi một protein tan trong huyết tương là fibrinogen được biến đổi thành fibrin không hòa tan. Mặc dù quá trình nầy rất phức tạp và gồm hàng loạt phản ứng, để đơn giản nó có thể được tóm gọn lại trong hai phản ứng sau:

– Quá trình bắt đầu khi bề mặt của mạch máu bị tổn thương phóng thích ra một chất gọi là thromboplastin, chất nầy kết hợp với các protein khác của máu tạo thành một phức hợp được hoạt hóa. Phức hợp nầy biến đổi protein của huyết tương là prothrombin thành thrombin. Ion và một phospholipid chuyên biệt trên bề mặt của tiểu cầu cần thiết để cho quá trình xảy ra. Bước cuối cùng của quá trình là thrombin biến đổi fibrinogen thành fibrin.

– Nếu chẳng may một trong các yếu tố cần thiết cho quá trình đông máu bị thiếu, toàn bộ chuỗi phản ứng có thể bị hỏng. Thí dụ những người mắc bệnh máu khó đông (hemophilia) thiếu yếu tố VIII là một loại protein cần cho sự thành lập phức hệ hoạt động để biến đổi prothrombin thành thrombin. Không có protein nầy máu không đông được, do đó ngay cả một vết đứt nhỏ cũng làm cho người bệnh chảy máu đến chết.

Các thành phần của sơn với những hiểu biết cơ bản theo định nghĩa tổng quát, SƠN không phải là chất lỏng ví dụ như sơn bột tĩnh điện hoặc sơn bột nóng chảy thì người ta thường…

Tìm Hiểu Vai Trò Của Máu Và Cấu Tạo Mạch Máu

Mạch máu là gì?

Mạch máu là một bộ phận quan trọng của hệ tuần hoàn. Trong đó, cấu tạo mạch máu là một hệ thống kín bao gồm nhiều ống dẫn với kích thước khác nhau để truyền máu từ tim đến các cơ quan trong cơ thể sau đó trở ngược lại tim. Trong cơ thể, hệ thống mạch máu chia thành ba loại mạch khác nhau bao gồm: động mạch, mao mạch và tĩnh mạch. Mỗi loại đảm nhận một chức năng riêng và phối hợp nhịp nhàng với nhau để đảm bảo hoạt động sống diễn ra bình thường.

Cấu tạo chung của một mạch máu

Thông thường, một mạch máu thường được chia thành 5 lớp

Lớp áo trong

Lớp nội mô: tạo bề mặt trơn phẳng, có khả năng tiết collagen cùng nhiều yếu tố khác

Lớp dưới nội mô: các mô có liên kết khá lỏng và rời rạc những tế bào cơ trơn, bên dưới có màng ngăn chun trong.

Lớp có cấu tạo dày nhất trong các lớp của mạch máu với cấu tạo kết hợp từ nhiều lớp cơ trơn theo dạng xoắn ốc, các sợi đàn hồi, collagen type III và proteoglycan.

Lớp áo ngoài

Lớp ngoài cùng của cấu tạo mạch máu là những tế bào nguyên sợi và sợi collagen type I

Mạch màng huyết quản

Lớp có chức năng cung cấp liên tục dưỡng chất cần thiết cho lớp áo ngoài và lớp áo giữa

Thần kinh vận mạch

Có khả năng giao cảm và chi phối những tế bào cơ trơn của mạch máu, theo đó, thần kinh giao cảm sau mạch có nhiệm vụ co mạch khối cơ trơn làm giảm đường kính lòng mạch.

Cấu tạo mạch máu được phân làm mấy loại?

Mạch máu được chia làm 3 loại cơ bản bao gồm động mạch, mao mạch và tĩnh mạch. Trong đó, mỗi loại sẽ có đặc điểm cấu tạo và chức năng khác nhau. Cụ thể:

Nhiệm vụ chính của động mạch là dẫn máu từ tim đến tất cả các mao mạch của cơ thể. Máu từ động mạch chính được bơm đến động mạch nhỏ, và tiếp tục truyền sang những tiểu động mạch để đến các mô cũng như điều phối đến các mao mạch để nuôi cơ thể.

Máu sau khi đến mao mạch, tùy theo nhu cầu từng bộ phận sẽ tiếp tục được truyền đến tiểu tĩnh mạch, đến đây là kết thúc “lượt đi”. Tất cả lượng máu sau khi tập trung về tiểu tĩnh mạch sẽ tập trung thành tĩnh mạch lớn sau đó được dẫn về tim.

Mao mạch là những mạch liên kết giữa động mạch và tĩnh mạch, là nơi diễn ra quá trình trao đổi chất dinh dưỡng, oxy, CO2,…Thông thường mao mạch chỉ gồm một lớp tế bào nội mô và có thêm các lỗ nhỏ, đồng thời tốc độ máu chảy qua mao mạch cũng chậm hơn bình thường để đảm bảo cho chức năng hấp thu dưỡng chất tốt nhất.

Chức năng của máu

Máu bao gồm hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu và huyết tương, đây là thành phần không thể thiếu cho sự sống. Luôn lưu giữ một lượng nhất định trong cơ thể, máu đảm nhận những chức năng sau:

Vận chuyển và nuôi dưỡng

Máu vận chuyển O2 từ phổi đến tế bào và vận chuyển CO2 từ tế bào về phổi. Đồng thời máu giúp cung cấp chất dinh dưỡng từ cơ quan tiêu hóa đến các bộ phận trong cơ thể. Nhờ sự di chuyển của máu, các axit amin, chất béo, glucose được cung cấp đầy đủ cho các tế bào. Ngoài ra, máu cũng thực hiện công việc ngược lại, làm trung gian vận chuyển chất thải đến cơ quan bài tiết. Bên cạnh đó, máu cũng giúp điều hòa nhiệt độ bằng cách tống nhiệt khỏi cơ thể khi đưa chúng đến hệ thống dưới da,…

Bảo vệ và điều hòa cơ thể

Chức năng bảo vệ cơ thể của máu được thực hiện thông qua các tế bào bạch cầu. Đây là thành phần có vai trò hỗ trợ cầm máu và làm lành vết thương, kháng lại các yếu tố gây hại, bảo vệ cơ thể. Không những thế, do có chứa thành phần hormone có khả năng điều hòa quá trình trao đổi chất, máu thực hiện tốt việc điều hòa cơ thể, điều hòa các hoạt động.

Nói chung, máu có vai trò quan trọng đối với sự sống và cấu tạo mạch máu là một hệ thống khép kín và khá phức tạp. Để đảm bảo hoạt động các mạch máu diễn ra bình thường, bạn nên thường xuyên luyện tập thể thao và ăn uống đầy đủ dinh dưỡng. Bên cạnh đó, có thể bổ sung các sản phẩm thực phẩm chức năng để tăng cường chức năng tuần hoàn máu, ngăn chặn nguy cơ tai biến hay gặp ở người có tiền sử bệnh từ trước hoặc đang gặp phải các vấn đề về sức khỏe.

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Công Ty Cổ Phần NESFACO

Địa chỉ:Tòa nhà GIC, Lầu 1, 228B Bạch Đằng, P.24, Q.Bình Thạnh, TP.HCM

Hotline:093 878 6025 – 1900 633 004

Website:Nesfaco.com

Email:info@nesfaco.com

Bài Tập Viết Công Thức Cấu Tạo Của Các Phân Tử

BÀI TẬP VIẾT CÔNG THỨC CẤU TẠO CỦA CÁC PHÂN TỬ

Hợp chất tạo bởi các nguyên tố phi kim là hợp chất có lk CHT ( h/c cộng hóa trị)

Giải thích: Viết cấu hình e của các nguyên tử tạo hợp chất

Tính nhẩm số e mỗi nguyên tử góp chung = 8 – số e lớp nc

Biểu diễn các e lớp nc và các cặp e chung (bằng các dấu chấm) lên xung quanh kí hiệu ng/tửà Công thức electron

Thay mỗi cặp e chung bằng 1 gạch ngangà Công thức cấu tạo

(CT e) (CTCT)

cặp e chung lk đơn

H + H H ¾ Cl

(CT e) (CTCT)

Sau khi hình thành các liên kết cộng hóa trị, N (chứ không phải O) sẽ cho 1 cặp electron đến nguyên tử O thứ ba (đang thiếu 2e để đạt cấu hình khí trơ) hình thành liên kết cho – nhận .

– Cấu tạo phân tử và biểu diễn với liên kết cho nhận là để phù hợp với quy tắc bát tử.

– Với nguyên tử cho cặp electron có 3 lớp trở lên, có thể có hóa trị lớn hơn 4 nên còn biểu diễn bằng liên kết cộng hóa trị.

Ví dụ 2. Cách biểu diễn sau nêu được hóa trị của S và Cl và cũng chứng tỏ rằng quy tắc bát tử chỉ đúng với một số trường hợp mà thôi.

H 2SO 4 S có hóa trị là 6

HClO 4 Cl có hóa trị 7

Ví dụ 3. công thức electron và công thức cấu tạo các ion đa nguyên tử sau: CO 32-, HCO 3–

Ví dụ 4. Viết công thức cấu tạo các chất sau:

Ví dụ 5. R là một nguyên tố phi kim. Tổng đại số số oxi hóa dương cao nhất với 2 lần số oxi hóa âm thấp nhất của R là +2. Tổng số proton và nơtron của R nhỏ hơn 34.

2. X là hợp chất khí của R với hiđro, Y là oxit của R có chứa 50% oxi về khối lượng. Xác định công thức phân tử của X và Y.

1. Gọi số oxi hóa dương cao nhất và số oxi hóa âm thấp nhất của R lần lượt là +m và -n.

Số oxi hóa cao nhất của R trong oxit là +m nên ở lớp ngoài cùng nguyên tử R có m electron.

Số oxi hóa trong hợp chất của R với hiđro là -n nên để đạt được cấu hình 8 electron bão hòa của khí hiếm, lớp ngoài cùng nguyên tử R cần nhận thêm n electron.

Ta có: m + n = 8. Mặt khác, theo bài ra: +m + 2(-n) = +2 m – 2n = 2.

Từ đây tìm được: m = 6 và n = 2. Vậy R là phi kim thuộc nhóm VI.

Số khối của R < 34 nên R là O hay S. Do oxi không tạo được số oxi hóa cao nhất là +6 nên R là lưu huỳnh.

2. Trong hợp chất X, S có số oxi hóa thấp nhất nên X có công thức là H 2 S.

Gọi công thức oxit Y là SO n.

Do %S = 50% nên = n = 2. Công thức của Y là SO 2.

Ví dụ 6. Để khử hoàn toàn 8 gam oxit của một kim loại thành kim loại cần dùng 3,36 lit H 2. Hòa tan hết lượng kim loại thu được vào dung dịch HCl loãng thấy thoát ra 2,24 lit khí H 2. Biết các khí đo ở đktc.

Xác định công thức của oxit. Cho biết số oxi hóa và hóa trị của kim loại trong oxit.

(mol): a ay ax

Ta có: a(Mx + 16y) = 8 và ay = 0,15. Như vậy Max = 5,6.

(mol): ax 0,5nax

Ta có: 0,5nax = 0,1 hay nax = 0,2.

Lập tỉ lệ: . Vậy M = 28n.

Ta lập bảng sau:

Vậy kim loại M là Fe.

Số oxi hóa của sắt trong oxit là +3, hóa trị của sắt là III.

Những Điều Cần Biết Về Xét Nghiệm Công Thức Máu

Máu là chất lỏng đặc biệt cung cấp dinh dưỡng và oxy tới nhiều cơ quan, cơ và mô của cơ thể. Nó cũng vận chuyển các chất thải và carbon dioxid ra khỏi cơ thể.

Máu là chất lỏng đặc biệt cung cấp dinh dưỡng và oxy tới nhiều cơ quan, cơ và mô của cơ thể. Nó cũng vận chuyển các chất thải và carbon dioxid ra khỏi cơ thể. Máu được tạo thành từ các tế bào máu và huyết tương. Có 3 loại tế bào máu: hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu. Huyết tương tạo ra 55% dịch máu trong khi tế bào máu tạo ra 45% còn lại. Huyết tương chứa các tế bào máu, tiểu cầu, protein, glucose, khoáng chất, hormon và carbon dioxid.

Các xét nghiệm máu là công cụ chẩn đoán bệnh rất hữu ích. Có một số loại xét nghiệm máu khác nhau. Khi xét nghiệm, một lượng nhỏ máu được lấy từ cơ thể ra qua kim tiêm và kiểm tra dưới kính hiển vi hoặc được xét nghiệm với hóa chất. Tăng hoặc giảm số lượng hoặc thể tích các thành phần của máu và những thay đổi về hình dạng hoặc kích thước đều cảnh báo những bất thường.

Xét nghiệm công thức máu

Xét nghiệm công thức máu là một trong những xét nghiệm máu phổ biến nhất. Nó cung cấp thông tin về các tế bào máu. Xét nghiệm này được sử dụng để đánh giá tình trạng sức khỏe chung. Nó giúp phát hiện các bệnh và rối loạn về máu. Số lượng tế bào máu cao hoặc thấp đều là dấu hiệu của bệnh như thiếu máu, nhiễm trùng, rối loạn đông máu, ung thư máu, rối loạn hệ miễn dịch.

Khi nào cần xét nghiệm máu?

Xét nghiệm công thức máu thường là một phần của khám sức khỏe định kỳ. Nó cũng thường được chỉ định khi nghi ngờ thiếu máu, dị ứng, nhiễm trùng hoặc rối loạn chảy máu. Nó cũng được chỉ định trước khi phẫu thuật và trong điều trị ung thư để theo dõi quá trình điều trị.

Các thông số được xét nghiệm là số lượng hồng cầu, số lượng bạch cầu, số lượng tiểu cầu, hemoglobin, hematocrit hoặc thể tích hồng cầu và các chỉ số tế bào hồng cầu.

Đọc công thức máu toàn phần:

1. Hồng cầu

Đây là những tế bào có nhiều nhất trong máu, chúng chứa hemoglobin, protein chứa sắt, mang ôxy. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hình dạng của hồng cầu.

– Số lượng hồng cầu cho biết bạn có bao nhiêu tế bào hồng cầu.

– Hematocrit hoặc thể tích hồng cầu: Là tỷ lệ thể tích máu toàn phần chứa hồng cầu. Nó có thể bị thay đổi theo độ cao và hút thuốc nhiều.

– Thể tích trung bình của hồng cầu là kích thước trung bình của tế bào hồng cầu. Dựa trên thông số hồng cầu, thiếu máu được phân loại thành thiếu máu tế bào nhỏ, thiếu máu đẳng sắc và thiếu máu tế bào lớn.

– Hemoglobin trung bình trong hồng cầu là số lượng trung bình hemoglobin mang khí oxy trong tế bào hồng cầu.

– Hàm lượng hemoglobin trung bình trong hồng cầu là hàm lượng hemoglobin trung bình trong tế bào hồng cầu.

– Kích thước chuẩn của hồng cầu là khoảng 6-8μm.

2. Bạch cầu

Bạch cầu tạo thành một phần hệ miễn dịch của cơ thể và giúp bảo vệ cơ thể chống lại nhiễm trùng. Bạch cầu bao gồm các loại: bạch cầu trung tính, bạch cầu ái toan, bạch cầu ái kiềm, bạch cầu đơn nhân và tế bào lympho.

Số lượng bạch cầu: đếm số bạch cầu trong máu.

3. Tiểu cầu

Đây là những tế bào máu giúp máu đông

– Số lượng tiểu cầu: là đếm số tiểu cầu trong máu.

– Thể tích tiểu cầu trung bình là đo kích thước trung bình của tiểu cầu.

Theo Suckhoedoisong.vn