Top 4 # Đặc Điểm Của Phát Triển Là Gì Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Đặc Điểm Phát Triển Tư Duy Của Trẻ

Phát triển tư duy là một mức độ cao của phát triển nhận thức, nhận thức là một mặt quan trọng trong 5 mặt phát triển nên phát triển tư duy tốt dẫn đến nhận thức tốt. Muốn giúp trẻ phát triển tư duy tốt thì giáo viên phải nắm được đặc điểm tư duy của từng độ tuổi để từ đó xây dựng mục đích, nội dung, biện pháp giáo dục phù hợp cho trẻ.

Do cuối tuổi hài nhi, tư duy trực quan hành động xuất hiện, nhưng đến tuổi ấu nhi thì loại tư duy này mới thực sự phát triển và chiếm ưu thế. Chính vì thế, giáo viên cần phát triển tư duy trực quan kết hợp nhiều cách chơi khác nhau để giúp trẻ xác lập mối quan hệ dễ dàng hơn, tư duy nhạy bén hơn. Ngược lại nếu tổ chức hoạt động nghèo nàn thì tư duy của trẻ sẽ phát triển kém.

Bên cạnh hai loại tư duy đó thì trẻ ấu nhi còn xuất hiện loại tư duy biểu trưng là loại tư duy mà trẻ tìm ra mối quan hệ giữa vật thật và vật biểu trưng thay thế. Loại tư duy này chỉ thực sự phát triển khi trẻ đã vững các biểu tượng trong đầu, nắm được công dụng, cách sử dụng các biểu tượng. Ví dụ trẻ biết được dùng muỗng để múc cơm, múc canh thì trẻ có thể dùng que để thay thế và đúc bột cho bé ăn. Vì thế, giáo viên cần phát triển tư duy biểu trưng thì khả năng phát triển trí tưởng tượng sáng tạo của trẻ được tốt hơn.

Như vậy, các loại tư duy trên là biểu hiện của sự phát triển trí tuệ. Bên cạnh đó, khái quát hóa là thao tác trí tuệ biểu hiện của nămg lục tư duy. Khái quát hóa ở tuổi ấu nhi là những khái quát bên ngoài là những gì đập vào mắt trẻ. Ví dụ bé gọi chó, mèo đều là mèo vì chúng có lông giống nhau, thâm chí gọi tóc bố là mèo. Và giáo viên cần phát triển khả năng khái quát hóa cho trẻ. Do trẻ khái quát chủ yếu là những thao tác bên ngoài vì tư duy trực quan hành động phát triển rất mạnh và chiếm ưu thế. Trẻ mắt nhìn, tay xếp…để đưa về nhóm, kinh nghiệm còn nghèo nàn nên khái quát hóa ở bình diện bên ngoài.

Ví dụ: cô cắt hình các con vật rời yêu cầu trẻ ráp lại thì trẻ phải hoạt động nhiều lần mới làm được, trong khi ráp trẻ vẫn phải thử và sai. Ở tuổi này đang tồn tại hai loại tư duy: tư duy trực quan hành động phát triển và lấn áp sự phát triển của tư duy trực quan hình ảnh. Cuối tuổi thì tư duy trực quan hình ảnh phát triển. Nguyên nhân: vì đầu tuổi vốn kinh nghiệm còn nghèo nàn nên khó khăn khi giải quyết vấn đề bằng việc sử dụng các biểu tượng trong đầu, đến cuối tuổi thì kinh nghiêm nhiều hơn nên khả năng sử dụng các biểu tượng trong đầu để giải quyết các bài toán dễ dàng hơn. Tư duy trẻ bao giờ cũng bị chi phối mạnh bởi những suy nghĩ chủ quan, trẻ chỉ suy nghĩ những điều mà trẻ thích và bị cuốn hút vào ý thích riêng của mình bất chấp các tác động khách quan. Ví dụ như khi người lớn hỏi con dùng hình vuông hay hình tam giác nhưng trẻ lại trả lời là xây cầu. Hoặc trẻ sợ con mèo và nghĩ ai cũng sợ con mèo cả. Bên cạnh đó, trẻ luôn lấy mình làm trung tâm, chưa phân biệt được suy nghĩ của mình và suy nghĩ của người khác. Tư duy trẻ mang tính trực giác toàn bộ. Trẻ chưa biết phân biệt được các vật về đặc điểm mà còn nhìn theo kiểu chụp ảnh. Ví dụ: có rất nhiều băng đĩa nhưng trẻ thích băng nào là lấy ngay băng đó khi hỏi trẻ tại sao thì trẻ không giải thích được.

Qua đó, giáo viên cần: – Đưa trẻ vào vùng phát triển gần bằng cách cho trẻ giải quyết các bài tập cao hơn. – Tích lũy vốn kinh nghiêm biểu tượng để trẻ so sánh biểu tượng trong đầu với hình ảnh bên ngoài. – Tạo môi trường phong phú cho trẻ hoạt động. – Cô khuyến khích trẻ giải quyết các tình huống khi cô đưa ra. – Các nguyên vật liệu phong phú. – Giáo viên khơi gợi tình cảm cho trẻ chứ không đơn thuần là giài thích. – Chơi trò chơi trước để tích lũy vốn kinh nghiệm cho trò chơi sau.

Đặc Điểm Phát Triển Nhận Thức Của Trẻ 3

Đặc điểm phát triển nhận thức của trẻ 3-4 tuổi

GIÁO DỤC PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC(Dành cho giáo viên)Tài liệu số 1:ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC CỦA TRẺ MẪU GIÁO

Để đáp ứng các nhu cầu và ý tưởng ngày càng tăng của trẻ, các nhà giáo dục sẽ đánh giá, dự đoán và mở rộng việc học của trẻ thông qua các câu hỏi gợi mở, nhận xét trẻ, thử thách tư duy của trẻ, và hướng dẫn trẻ học. Những cuộc đối thoại như vậy có đặc điểm bởi những mô tả sau:1. Gợi ý về cách đặt câu hỏi: Vào đề:Lắng nghe chăm chú những gì mà trẻ nói, chọn một vị trí vật lý tầm gần để có thể quan sát trẻ đang làm gì. Chia sẻ:”Nếu Cô có một hình vuông xanh lá cây và con có một hình tam giác xanh biển, chúng ta có thể đặt nó cạnh nhau để tạo thành họa tiết khác nhau”. Cho thấy mối quan tâm đặc biệt: Dành thời gian cho mỗi trẻ và yêu cầu trẻ nói cho bạn biết chúng đang làm gì, đang thích gì hoặc chia sẻ gì… Phân loại: “Chúng ta có thể đặt những hạt nhỏ này cạnh nhau và tạo một nhóm hạt to khác” Tôn trọng quyết định và lựa chọn của trẻ bằng cách mời trẻ chia sẻ ý tƣởng:”Con có thể nói cho cô biết tại sao con chọn những màu sắc rất thú vị mà con đang vẽ không?” Nhắc lại: “Khi con kể với cô về kì nghỉ của con, con đã nhắc tới…” “Tuần trước khi chúng ta đang khám phá chiếc hộp thời trang, các con có nhớ chúng ta đã cắt váy từ khăn thế nào không” Nhắc lại ý kiến: “Rất là hay khi con nói rằng ấm nước đã đầy, vì con đã nói đúng đấy! Khi nước sôi, nước đã bị tràn ra khỏi miệng ấm” Liên hệ với những điều đã biết: “Cô nhớ khi cô trồng một củ khoai tây trong sân sau. Nó đã mọc cao gấp 2 lần vào năm sau” Căn chỉnh: “Cô búp bê dùng cái giường đó, không phải cái ở đằng kia bởi vì nó có kích cỡ phù hợp và cô sẽ không bị ngã khỏi giường.” Làm rõ ý kiến: “Có phải là con định nói rằng…” Quan điểm:”Cô nghĩ chắc cái hộp sẽ đẹp hơn nếu chúng ta sơn màu vàng đấy. Con nghĩ thế nào?” Gợi ý: Cung cấp những cách thức khác nhau khi triển khai một hoạt động. Tái sắp xếp:”Nếu cô đặt cái khối to ở trước đường xe lửa, vậy chúng ta có thể tạo cầu cho mọi người” Gợi nhắc: Nhắc cho trẻ không quên, ví dụ, phải đội mũ khi chơi ngoài trời. Đƣa ra câu hỏi: “Điều gì sẽ xảy ra nếu con đặt các khối to xuống dưới cùng?” Động viên để trẻ tƣ duy sâu hơn: “Con nghĩ điều gì sẽ xảy ra nếu…?” Phỏng đoán: “Cô đang băn khoăn khi mặt trời lặn thì lũ chim có đi ngủ không nhỉ? Các con nghĩ sao?” Cung cấp cho trẻ một góc nhìn khác: “Cô đồng ý, nhưng có vài người nói rằng…” Hỗ trợ với dẫn chứng: “Cô biết là đèn bị hết pin vì khi cô lắp quả pin mới vào, đèn lại sang như thường”

6 Những hành động này không được xem là có giá trị dưới đánh giá của chính chúng mà là một cái gì đó chúng phải làm để có được phản ứng đó từ người khác một lần nữa.Sự hào phóng là phương tiện dẫn đến sự kết thúc. Liệu khen ngợi có là động lực cho trẻ không?Chắc chắn là có rồi.nhưng là động lực để trẻ tìm kiếm thêm nhiều lời khen nữa. Cuối cùng, cái giá phải trả là sự ràng buộc của trẻ với bất cứ cái gì khiến trẻ nhận được lời khen.5. Giảm sự thành công. Lời khen”Giỏi lắm!” không chỉ làm giảm sự độc lập, niềm vui, và hứng thú, mà nó còn có thể ảnh hưởng đến việc một đứa trẻ có thể làm một việc tốt đến đâu. Các nhà nghiên cứu đang thấy rằng những trẻ được khen vì đã làm tốt một nhiệm vụ sáng tạo thường có xu hướng làm hỏng vào nhiệm vụ lần sau – và chúng không làm tốt như những trẻ không được khen ban đầu. Tại sao điều này lại xảy ra?Một phần bởi vì lời khen tạo áp lực để “giữ trẻ làm tốt công việc” mà thường làm hỏng việc.Một phần bởi vì sự hứng thú của trẻ trong việc mà trẻ đang làm có thể giảm xuống. Một phần bởi vì trẻ trở nên khó có thể mạo hiểm – một điều kiện tiên quyết cho sự sáng tạo – một khi trẻ bắt đầu tư duy về việc làm sao để có được những lời khuyên tích cực. Thường xuyên hơn, “Giỏi lắm!” là một cái gì đó còn sót lại của một sự tiếp cận tâm lý làm giảm tất cả sự sống con người đến các hành vi mà có thể nhìn thấy và đo đạc được. Không may là, điều này làm giảm giá trị của những tâm tư, tình cảm, và giá trị nằm sau những hành vi này. Ví dụ, một đứa trẻ có thể chia sẻ một gói bim bim với bạn như là cách để thu hút sự chú ý, hoặc là cách để chắc chắn là trẻ kia có đủ thức ăn để ăn. Lời khen cho việc chia sẻ làm giảm đi những động cơ khác. Tệ hơn, điều này thực sự khuyến khích động cơ kém mong đợi hơn bằng cách làm trẻ có xu hướng “câu” lời khen nhiều hơn trong tương lai. Gợi ý về cách cƣ xử với trẻ: Nếu chúng ta ca ngợi hành động tích cực như một cách để ngăn cản hành vi sai trái, điều này là không có hiệu quả lâu dài. Cách khác là để làm việc với trẻ em, chúng ta cần tìm ra những lý do khiến trẻ hành động theo cách đó. Chúng ta phải xem xét lại các yêu cầu của chúng ta chứ không phải chỉ là tìm kiếm một cách để có được sự tuân theo của trẻ. (Ví dụ: Thay vì sử dụng lời khen “Giỏi lắm!” để cho đứa trẻ bốn tuổi ngồi yên trong một cuộc họp lớp dài hoặc bữa ăn tối của gia đình, có lẽ chúng ta nên hỏi trẻ về lý do khiến trẻ làm như vậy). Chúng ta cũng cần tạo cơ hội để trẻ tham gia vào quá trình ra quyết định. Nếu một đứa trẻ đang làm một cái gì đó làm phiền người khác, chúng ta sau đó có thể ngồi xuống với đứa trẻ ấy và hỏi:”Con nghĩ chúng ta có thể làm gì để giải quyết vấn đề này?” có thể sẽ có hiệu quả hơn là hối lộ hoặc đưa ra lời đe dọa. Điều này cũng giúp một đứa trẻ tìm hiểu làm thế nào để giải quyết vấn đề và dạy cho trẻ rằng những ý tưởng và cảm xúc của mình là quan trọng. Tất nhiên,quá trình này mất thời gian và phụ thuộc vào khả năng, sự giáo dục và lòng can đảm. Việc giúp trẻ giải thích tại sao”hành động” như vậy hữu ích hơn rất nhiều so với việc yêu cầu trẻ “hành động với” những chiến lược thích hợp. – Không nói gì về việc trẻ làm.Một số người nhấn mạnh một hành động hữu ích phải được “gia cố” bởi vì trong vô thức, họ tin rằng đó là sự may mắn. Nếu trẻ em về cơ bản có hành vi không phù hợp, sau đó trẻ có được một lý do nhân tạo cho là tốt đẹp(để có được một phần thưởng bằng lời nói) và vô căn cứ. Rất nhiều nghiên cứu cho thấy rằng việc khen ngợi trẻ sau những hành vi ấy có thể không cần thiết.

7 Nói những gì mà bạn thực sự nhìn thấy từ công việc của trẻ. Chúng ta có thể nói với trẻ những từ đơn giản mô tả hành vi của trẻ mà chúng ta nhìn thấy như: “Con tự để đôi giày của mình” hay thậm chí chỉ là”Con đã làm nó”. Điều này cũng cho phép trẻ tự hào về những gì mình đã làm. Trong các trường hợp khác, một mô tả chi tiết hơn có thể có ý nghĩa.Nếu nhìn thấy trẻ vẽ một hình ảnh,bạn có thể cung cấp thông tin phản hồi không phải lời phê phán-về những gì bạn nhận thấy:”Ngọn núi này là rất lớn!” “Con có chắc chắn đã sử dụng rất nhiều màu tím!” Nếu một đứa trẻ không hào phóng và khó chia sẻ với người khác, bạn nhẹ nhàng có thể thu hút sự chú ý của trẻ về tác động của hành động của mình vào người khác: “Nhìn vào khuôn mặt của Lan Anh, bạn ấy có vẻ rất vui vì bạn đã cho Cô một sốđồ chơi mầm non của bạn” Điều này là hoàn toàn khác với những từ lời khen ngợi, trong đó trọng tâm là trẻ cảm thấy như thế nào sau khi chia sẻ. Nói lời nhận xét về trẻ ít hơn và hỏi trẻ về những gì mà trẻ làm nhiều hơn. Việc đặt ra những câu hỏi với trẻ, thậm chí tốt hơn so với những từ mô tả. Tại sao chúng ta không hỏi trẻ về những gì trẻ thích nhất trong bức tranh của mình thay vì nói về những gì trong bức tranh của trẻ gây ấn tượng cho chúng ta? Chúng ta có thể hỏi trẻ: ” Phần khó vẽ nhất là gì?”hoặc”Làm thế nào con tìm ra cáchđể làm chobàn chânkích thước phù hợp?”, điều này có khả năngnuôi dưỡng sự quan tâm của trẻtrong bản vẽ. Lời khen “Rất tốt!” trong trường hợp này có thể có tác dụng ngược lại. Điều này không có nghĩa rằng tất cả các lời khen ngợi, lời cảm ơn, tất cả những biểu hiện của niềm vui là có hại. Chúng ta cần phải xem xétđộng cơ của chúng ta trong những gì chúng ta nói(một biểu hiện thực sự của sự nhiệt tình là tốt hơn so với một mong muốn để thao tác hành vi của đứa trẻ trong tương lai) cũng như cá cảnh hưởng thực tế của việc làm như vậy. Phản ứng của chúng ta để giúp trẻ kiểm

1. Phƣơng pháp dạy học trực quan: – Ý nghĩa: Có tác dụng nhận biết các thuộc tính, đặc điểm bên ngoài của sự vật hiện tượng + Trình bày các vật mẫu như: gắn các hình học lên bảng; đặt một vật to bên cạnh vật nhỏ; Bộ con giống, bộ tranh ảnh, bộ que tính… + Sử dụng hành động mẫu: Sử dụng phương pháp này để dạy trẻ: đếm, so sánh, đo lường… Ví dụ: Khi dạy trẻ đếm, đo lường,…lần đầu tiên giáo viên vừa làm mẫu, vừa dùng lời giải thích. Hoặc hành động so sánh số lượng các nhóm đối tượng. Ví dụ: Dùng tay xếp các vật từ trái qua phải của 1 nhóm thành hàng. Đặt mỗi vật của nhóm này chồng lên hay xếp dưới một đối tượng của nhóm kia, xếp từ trái sang phải. Nhận xét mối quan hệ về số lượng của 2 nhóm vật: nhóm nào nhiều hơn (ít hơn) hay bằng nhau.2. Các phƣơng pháp dạy học dùng lời: – Ý nghĩa: + Bổ sung, minh họa cho phương pháp dạy học trực quan + Giúp trẻ nhận biết những đặc điểm bên trong của đối tượng mà trẻ nhỏ không thể nhận biết được chúng bằng các giác quan + Góp phần phát triển tư duy logic, phát triển ngôn ngữ – Các biện pháp: + Lời diễn giảng, hướng dẫn, giảng giải Ví dụ: Khi giảng dạy trẻ khảo sát các hình học, giáo viên giảng giải cho trẻ: “cầm hình tròn bằng tay trái như thế này, dùng ngón tay trỏ của bàn tay phải đi lần lượt theo đường bao quanh của hình chúng là đường cong tròn, nhẵn, không có góc. + Câu hỏi: Đóng vai trò đặc biệt trong quá trình làm cho trẻ làm quen với Toán – Câu hỏi dựa trên sự tri giác và trí nhớ tái tạo của trẻ. VD: Cô gắn hình gì lên bảng, trên bàn cô có gì? Có mấy bông hoa?… – Câu hỏi tái tạo có nhận thức: nhằm giúp trẻ củng cố những kiến thức sâu sắc hơn. VD: Hoa này sẽ là mấy bông nếu nở thêm mấy bông nữa? – Câu hỏi sáng tạo có nhận thức: VD: Làm thế nào để biết đó là hình vuông và đó là hình chữ nhật + Đàm thoại: là phương pháp dạy học sử dụng tới hệ thống câu hỏi của giáo viên và câu trả lời của trẻ. VD: Giao viên đàm thoại với học sinh về phương pháp.3. Phƣơng pháp thực hành: Luyện tập, trò chơi, tình huống có vấn đề, các vật dụng định hướng.

– Luyện tập: là việc vận dụng các kiến thức và hành động nhằm củng cố và giúp trẻ có những kỹ năng và kiến thức cho trẻ. Các bài tập cho trẻ mẫu giáo thường hướng vào luyện kĩ năng tư duy như: so sánh, khái quát hóa…9 Ví dụ: Yêu cầu trẻ đếm số lượng các nhóm hình được xếp theo các cách khác nhau. Hình vuông và hình chữ nhật có điểm gì khác nhau và giống nhau.Tất cả những vật này có gì khác nhau, giống nhau? – Trò chơi: trò chơi vận động, đóng vai, học tập đều được sử dụng với mục đích củng cố, ứng dụng những kiến thức, kỹ năng toán học của trẻ. Ví dụ: Trò chơi “Sinh nhật búp bê Li Li”, khi tham gia trò chơi, trẻ có thể so sánh các bạn của các nhóm khác nhau đến dự sinh nhật của búp bê, so sánh số lượng quả, bánh, kẹo với nhau…hoặc trò chơi “Tìm nhà”, hay giáo viên có thể giao nhiệm vụ cho trẻ, trong đó có sử dụng các kĩ năng toán học. – Tình huống có vấn đề: là một hoàn cảnh có mâu thuẫn và trẻ phải suy nghĩ tích cực để giải quyết mâu thuẫn đó. Ví dụ: tại sao 7 vật xếp hàng ngang lại có số lượng ít hơn 8 vật xếp gần nhau trong một hình tròn. – Sử dụng các vật giúp định hướng: sử dụng các vật phát ra âm thanh hay các vật đặt sẵn ở một vị trí nhất định để giúp trẻ xác định vị trí của các đối tượng khác nhau trong không gian.4. Phƣơng pháp sử dụng hoạt động tạo hình (vẽ, nặn, xé, dán): Ví dụ: ghép các hình chữ nhật và hình tam giác thành chiếc thuyền, trẻ có thể học về các hình học, về vị trí trong không gian.10

1. SINH VẬT SỐNG

Sinh vật sống – con ngƣời, động vật và thực vật  Thực vật và động vật đang sống  Sinh vật sống thay đổi khi chúng trưởng thành  Hầu hết các cây/ thực vật phát triển từ hạt  Sinh vật sống cần thức ăn và nước uống  Một số động vật đẻ trứng  Động vật và các giác quan của con người giúp họ nhận thức được thế giới xung quanh  Động vật di chuyển theo những cách khác nhau  Động vật ăn các loại thức ăn khác nhau  Một số động vật có xương sống  Cơ thể chúng ta đang sống  Sinh vật sống có các nơi cư trú khác nhau  Người và động vật đều sản sinh ra con  Cơ thể chúng ta có các bộ phận với mục đích khác nhau2. ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU Đối tƣợng và vật liệu  Các đối tượng có nhiều khía cạnh bao gồm cả kích thước, trọng lượng, hình dáng, màu sắc, và nhiệt độ.  Các đối tượng có thể được làm bằng vật liệu khác nhau – giấy, nhựa, thủy tinh, gỗ, vải, kim loại  Một số vật liệu là chất rắn  Một số vật liệu là chất khí  Một số vật liệu có dạng thể lỏng  Một số vật liệu mềm và một số cứng  Trạng thái của một số vật liệu có thể được thay đổi thông qua sưởi ấm hoặc làm mát  Các hình dạng của một số vật liệu có thể được thay đổi  Một số công cụ được sử dụng để đo lường – thước kẻ, cân, nhiệt kế3. HIỆN TƯỢNG Hiện tƣợng  Một số âm thanh phát ra to và một số âm thanh yên tĩnh  Âm thanh phát ra khi mọi thứ di chuyển  Không khí có trong không gian  Không khí nóng dần lên  Nước có thể được tìm thấy ở nhiều nơi khác nhau11  Nước có thể được mang đi theo những cách khác nhau  Mặt trời rất nóng  Ánh sáng đi qua một số vật liệu  Ánh sáng phản chiếu bề mặt sáng bóng  Vào ban đêm không có nhiều ánh sáng  Mưa từ các đám mây  Đá có thể có các hình dạng và kích cỡ khác nhau4. MÔI TRƯỜNG KHOA HỌC Môi trƣờng khoa học  Một số vật liệu có thể tái chế  Một số vật liệu có thể được tái sử dụng để làm thành sản phẩm mới  Thức ăn thừa có thể được tái chế  Tính bền vững của một loài phụ thuộc vào môi trường sống của nó  Nguồn lực cần được bảo tồn  Đất đai, con người, thực vật và động vật được kết nối với nhau12

MÔ ĐUN MN1-BGIÁO DỤC PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC(Dành cho giáo viên)Tài liệu phát tay số 6:PHƢƠNG PHÁP GIÚP TRẺ PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC QUA KHÁM PHÁ KHOA HỌC

1. Phương pháp quan sát:  Là quá trình, cách thức tổ chức cho trẻ quan sát của giáo viên.  Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh quan sát theo đối tượng: o Vật thật. o Các đồ vật, sự vật trong tranh, ảnh, mô hình, băng hình o Các hiện tượng thiên nhiên  Cách tổ chức quan sát có thể theo nhóm lớn, theo nhóm nhỏ (4-6 trẻ) hoặc quan sát cá nhân (mỗi trẻ một đối tượng).  Quan sát có thể tổ chức trong tiết học, hoạt động ngoài trời, tham quan và sinh hoạt hằng ngày.  Không nên cho trẻ quan sát nhiều đồ vật cùng một lúc vì dễ làm phân tán chú ý. Ví dụ: Giáo viên cho trẻ quan sát các bộ phận của cơ thể con nhện qua kính hiển vi.  Để trẻ tự quan sát, trao đổi, chia sẻ, bộc lộ cảm xúc, thông tin với nhau sau khi giao nhiệm vụ quan sát cho trẻ.  Giáo viên cần hướng sự tập trung chú ý của trẻ vào đối tượng quan sát và đặt câu hỏi về các đặc điểm mà trẻ cần phát hiện. Ví dụ: Con hãy nhìn thật kĩ xem con cá vàng nó như thế nào? Nó có những gì?Nó dùng vây, đuổi để làm gì? Mồm nó để làm gì?  Khi hướng dẫn trẻ quan sát, giáo viên cần đưa ra các tình huống có vấn đề để trẻ suy nghĩ và tìm cách giải quyết và duy trì hứng thú, chú ý của trẻ vào đối tượng quan sát. Ví dụ: Không biết con cá vàng này thích ăn gì nhất nhỉ? Làm thế nào để biết bây giờ?  Tùy từng đối tượng quan sát, giáo viên có thể kết hợp cho trẻ phân biệt, so sánh. Ví dụ: Mắt con cá với mắt của chúng mình có giống nhau không? Khác nhau ở chỗ nào?  Khi trẻ đưa ra các phương án giải quyết, giáo viên tổ chức cho trẻ được trải nghiệm. Ví dụ: Trẻ tự tay thả thức ăn cho cá và quan sát xem cá ăn cái gì.  Cho trẻ thực hiện một số hành động, vận động đơn giản nhằm mô phỏng đối tượng quan sát. Ví dụ: Trẻ dùng tay hoặc miệng mô phỏng động tác đớp mồi của con cá2. Phương pháp sử dụng phương tiện trực quan (tranh, ảnh, mô hình, băng hình, máy vi tính, sách)  Sử dụng tranh ảnh có kích thước lớn, nội dung đơn giản, bằng vật liệu khác nhau và phản ánh các sự vật hiện tượng thiên nhiên.  Giáo viên đặt câu hỏi dựa vào mục đích của hoạt động khám phá và nội dung của tranh ảnh, mô hình.  Yêu cầu trẻ mô tả, kể tên hoặc sắp xếp các đối tượng theo nhóm sau khi quan sát tranh ảnh, mô hình

13 Sau khi đọc sách cho trẻ nghe, giáo viên có thể đàm thoại hoặc giải thích về nội dung mà trẻ được nghe  Tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi được thiết kế các phần mềm trên máy tính. Ví dụ: Trò chơi tìm vật cùng loại, tìm thức ăn cho các con vật,…3. Phương pháp đàm thoại:  Xây dựng hệ thống câu hỏi kích thích hứng thú, trí tò mò, hoạt động tư duy của trẻ.  Câu hỏi ngắn gọn, rõ ý và phù hợp với đặc điểm nhận thức của trẻ.  Chuẩn bị các đồ dùng trực quan hoặc các mẩu chuyện, bài thơ, bài hát để minh họa.  Dự kiến câu trả lời đúng và lường trước các tình huống xảy ra4. Phương pháp sử dụng truyện kể, thơ, ca dao, tục ngữ, câu đố, bài hát:  Nội dung về thiên nhiên, về mối quan hệ giữa thiên nhiên với con người  Sử dụng giọng đọc, kể truyền cảm, kết hợp với cử chỉ, ánh mắt, điệu bộ.  Khuyến khích trẻ tự sáng tác thơ, truyện, câu đố, bài hát về đối tượng được khám phá  Gợi ý cho trẻ khi trẻ khó đoán được câu đố5. Phương pháp sử dụng trò chơi:  Trò chơi học tập: Ví dụ: +Chơi với dây và ròng rọc để chuyển hộp đất lên từ bể cát. +Nam châm: đặt ôtô trên giấy, cho nam châm dưới mặt giấy- điều chỉnh nam châm, ôtô sẽ di chuyển.  Trò chơi vận động: Ví dụ: Trời nắng trời mưa; Cây cao cỏ thấp; …  Trò chơi sáng tạo: Ví dụ: Trò chơi xây dựng, lắp ghép với các nguyên vật liệu thiên nhiên như sỏi, cát, gỗ, tre, các loại

Xem các thiet bi mam non tphcm

Đặc Điểm Của Đầu Tư Phát Triển Trong Doanh Nghiệp

Đầu tư phát triển là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính,nguồn lực vật chất.nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng ,sửa chữa nhà cửa và cấu trúc hạ tầng ,mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ,bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực ,thực hện chi phí thường xuyên gắn liền với hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực mới cho nền kinh tế -xã hội,tạo ra việc làm và nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội .

Đầu tư phát triển có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của một quốc gia ,là một lĩnh vực hoạt động nhằm tạo ra và duy trì sự hoạt động của các cơ sở vật chất ,kỹ thuật của nền kinh tế.Đối với cơ sở sản xuất ,kinh doanh dịch vụ ,hoạt động đầu tư là một bộ phận trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tăng thêm cơ sở vật chất kỹ thuật mới ,duy trì sự hoạt động của cơ sở vật chất ,kỹ thuật hiện có.và vì thế ,là điều kiện để phát triển sản xuất kinh doanh dịch vụ của các doanh nghiệp.

Hoạt động đầu tư phát triển có các đặc điểm khác biệt với các loại hình đầu tư khác ,đó là:

Hoạt động đầu tư phát triển đòi hỏi một số vốn lớn và để nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư.Đây là cái giá phải trả khá lớn của hoạt động đầu tư phát triển

Bởi trong suốt quá trình đầu tư nó vẫn nằm dưới dạng các công trình dở dang .Do vốn lớn nên các nhà đầu tư cần phải cân nhắc lựa chọn đầu tư vào đâu cho có hiệu quả cao nhất,phải nghiên cứu thị trường…

Vốn lớn nằm khê đọng trong suốt quá trình đầu tư nên ảnh hưởng đến chi phí sử dụng ,quản lý vốn (thời gian,chi phí ,kết quả,chất lượng) và khả năng cạnh tranh trên thị trường nếu vốn nằm khê đọng quá dài thì sẽ bỏ lỡ thời cơ và cơ hội cạnh tranh.

Hoạt động đầu tư phát triển mang tính chất lâu dài :

Thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khia các thành quả của nó phát huy tác dụng thường kéo dài trong nhiều năm tháng.Nó phụ thuộc vào giai đoạn thực hiện đầu tư.

Thời gian vận hành các kết quả đầu tư cho đến khi thu hồi đủ vốn hoặn thanh lý tài sản cũng kéo dài .Điều này chịu tác động của cung cầu thị trường ,của các yếu tố đầu vào hay đầu ra của dự án.

Thời gian thực hiện đầu tư dài còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố không dự đoán ảnh hưởng đến quá trình thực hiện :môi trường ,điều kiện tự nhiên .pháp lý.kinh tế ,chính trị.Điều này có thể thany đổi kết quả và hiệu quả của đầu tư.

Hơn nữa thời gian của hoạt động đầu tư phát triển kéo dài nên mang tính rủi ro cao.Vì vậy cần phải phân tích kỹ để loại trừ hạn chế tới mức thấp nhất các rủi ro như:-Trong trường hợp rủi ro nhất thì hiệu quả của dự án là bao nhiêu;những rủi ro nào có thể xảy ra nhất.

Trong trường hợp thuận lợi nhất thì hiệu quả đạt được bao nhiêu để bù lại trong trường hợp rủi ro.

Tuy nhiên đối với những yéu tố rủi ro bất định ,bất khả kháng thì chúng ta phải chấp nhận

Các thành quả của các hoạt động đầu tư phát triển có giá trị sử dụng lâu dài nhiều năm,có khi hang năm ,hang ngàn năm và thậm chí tồn tại vĩnh viễn như các công trình nổi tiếng thế giới (Kim tự tháp cổ Aicập,Nhà thờ La Mã ở Rôm,Vạn lý thường thành ở Trung Quốc,Ăngcovat của Cămpuchia…)Điều này nói lên giá trị lớn của các thành quả hoạt động đầu tư phát triển .

Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển là các công trình xây dựng sẽ hoạt động ở ngay nơi mà nó được tạo dựng nên.

Do đó các điều kiện về địa lý ,địa hình tại đó có ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tư cũng như tác dụng sau này của các kết quả đầu tư.

Thí dụ :qui mô đầu tư để xây dựng nhà máy sang tuyển than ở khu vực có mỏ than tùy thuộc rất nhiều vào trữ lượng của mỏ than.Nếu trữ lượng than của mỏ ít thì qui mô của nhà máy cũng không nên lớn để đảm bảo cho nhà máy hang năm hoạt động hết công suất với số năm tồn tại của nhà máy theo dự kiến trong dự án.

Vì thế cần có chủ trương đầu tư ,quyết định đầu tư đúng đắn và đầu tư phải theo quy hoạch ,kế hoạch ,cần phải có cơ sở khoa học để lựa chọn địa điệm thực hiện dự án để có thể khai thác tối đa lợi thế của địa diểm mà doanh nghiệp hoạt động trên đó.Nếu công trình không tiến hành cẩn thận có thể ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế không chỉ một hai năm mà lâu dài.

Để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao đòi hỏi phải làm tốt công tác chuẩn bị .

Sự chuẩn bị này đựoc thể hiện trong việc soạn thảo các dự án đầu tư(lập dự án đầu tư)có nghĩa là phải thực hiện đầu tư theo dự án dược soạn thảo với chất lượng tốt.Đó là quá trình thực hiện đầu tư và quá trình vận hành khai thác .

Qúa trình thực hiện đầu tư ảnh hưởng đến việc lựa chọn địa điểm ,đến giá thành chi phí xây dựng (giá đất) như chọn những nơi địa hình bằng phẳng sẽ giảm đựoc chi phí san bằng ..

Qúa trình vận hành khai thác ảnh hưởng đến khả năng thu hồi vốn cao nếu địa lý thuận lợi.Phải cân đối giữa giá thành xây dựng công trình ,chi ohí vận chuyển và chi phí cung cấp sản phẩm với khả năng tiêu thụ yếu tố đầu ra.

Ngoài ra việc lựa chọn địa điểm còn ảnh hưởng đến dân cư,địa bàn,môi trường sống .

Vai Trò, Đặc Điểm Phát Triển Và Phân Bố Của Dịch Vụ

Dịch vụ là một trong ba khu vực kinh tế lớn, gồm các ngành dịch vụ sản xuất, dịch vụ tiêu dùng và dịch vụ công cộng. Các ngành dịch vụ thu hút ngày càng nhiều lao động, tạo việc làm, đem lại nguồn thu nhập lớn cho nền kinh tế.

I. Cơ cấu và vai trò của ngành dịch vụ

– Dịch vụ là ngành không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, phục vụ nhu cầu sản xuất và đới sống.

– Cơ cấu: 3 nhóm

+ Dịch vụ tiêu dùng

+ Dịch vụ công cộng

+ Dịch vụ sản xuất

– Kinh tế càng phát triển thì dịch vụ càng đa dạng

2. Vai trò của dịch vụ trong đời sống sản xuất.

– Đóng góp tỉ trọng lớn trong cơ cấu GDP

– Thúc đẩy các ngành sản xuất phát triển

– Tạo ra mối liên hệ giữa nước ta và các nước trên thế giới.

– Phục vụ và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

– Tạo việc làm.

– Tận dụng tài nguyên thiên nhiên.

II. Đặc điểm phát triển và phân bố của các ngành dịch vụ ở nước ta.

– Tỉ lệ lao động dịch vụ còn thấp, tỉ trọng dịch vụ trong cơ cấu GDP chưa cao.

– Gần đây, các hoạt động dịch vụ đã phát triển khá nhanh, ngày càng đa dạng

2. Đặc điểm phân bố của các ngành dịch vụ.

– Hoạt động dịch vụ phân bố không đồng đều : tập trung chủ yếu ở các đô thị, vùng đồng băng ven biển .

– Hà Nội, TP Hồ Chí Minh là hai trung tâm dịch vụ lớn nhất và đa dạng nhất nước ta.

(Nguyên nhân:

+ Dân cư tập trung đông đúc (Hà Nôi: 7,3 triệu người, TP Hồ Chí Minh 8,3 triệu người – 2016), nhu cầu về dịch vụ là rất lớn.

+ Các ngành kinh tế phát triển mạnh, đặc biệt là công nghiệp, nhu cầu phát triển dịch vụ sản xuất lớn.

+ Đời sống dân cư đô thị ngày một nâng cao, nhu cầu lớn, đa dạng.

+ Đây là hai trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa lớn nhất của cả nước, cơ sở vật chất kĩ thuật, cơ sở hạ tầng được đầu tư hiện đại, đồng bộ.

+ Thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư trong nước và nước ngoài

+ Hà Nội có lịch sử khai thác lãnh thổ lâu đời.)

Bài 2: Lấy ví dụ chứng minh rằng ở đâu đông dân thì ở đó tập trung nhiều hoạt động dịch vụ.

– Thành phố Hồ Chí Mính và Hà Nội là hai thành phố lớn nhất của nước ta, dân cư đông nhất cả nước (Hà Nôi: 7,3 triệu người, TP Hồ Chí Minh 8,3 triệu người – 2016).

– Hai thành phố này cũng là 2 trung tâm dịch vụ lớn nhất, đa dạng nhất nước ta:

+ Đây là 2 đầu mối giao thông vận tải, viễn thông lớn nhất cả nước, tập trung nhiều trường đại học lớn, các viện nghiên cứu, bệnh viện chuyên khoa hàng đầu;

Bài 3: Tại sao Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là 2 trung tâm dịch vụ lớn nhất và đa dạng nhất nước ta? – Hà Nội và Thành phố Hồ Chú Minh là hai trung tâm dịch vụ lớn nhất ở nước ta vì:

+ Dân cư tập trung đông đúc (Hà Nôi: 7,3 triệu người, TP Hồ Chí Minh 8,3 triệu người – 2016), nhu cầu về dịch vụ là rất lớn.

+ Đời sống dân cư đô thị ngày một nâng cao, nhu cầu lớn, đa dạng.

+ Đây là hai trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa lớn nhất của cả nước, cơ sở vật chất kĩ thuật, cơ sở hạ tầng được đầu tư hiện đại, đồng bộ.

+ Cả hai thành phố đều thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư trong nước và nước ngoài.

+ Hà Nội có lịch sử khai thác lãnh thổ lâu đời.