Top 16 # Hình Dạng Và Cấu Tạo Của Tế Bào / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Hình Dạng Tế Bào Và Kích Thước Tế Bào, Cấu Trúc Chung Và Các Đặc Tính Của Tế Bào / 2023

Trong cơ thể con người chứa từ 30 đến 40 nghìn tỷ tế bào. Các loại tế bào trong cơ thể người có thể kể đến như: hồng cầu (chiếm số lượng lớn nhất), tế bào mỡ, tế bào cơ,… Vậy tế bào là gì và hình dạng tế bào như thế nào

Tế bào là một đơn vị cấu trúc cơ bản có chức năng sinh học của sinh vật sống. Nó là đơn vị nhỏ nhất của sự sống có khả năng phân chia độc lập. Xét về cấu trúc tế bào, tế bào được phân chia thành: tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực.

Tế bào có nhiều hình dạng và kích thước khác nhau: hình cầu (tế bào trứng), hình đĩa (hồng cầu), hình trụ (tế bào lót xoang mũi), hình sợi (tế bào cơ), hình sao nhiều cạnh (tế bào xương, tế bào thần kinh),….

Ở các loài khác nhau, tế bào có kích thước khác nhau. Độ lớn trung bình của tế bào nằm trong khoảng 3 – 30μm. Có những tế bào rất nhỏ, như tế bào vi khuẩn có kích thước từ 1 – 3μm, nhưng cũng có những tế bào rất lớn có thể nhìn thấy được như trứng gà, trứng vịt,… và tế bào có kích thước lớn nhất là trứng đà điểu có đường kính khoảng 17,5cm.

Vì sao tế bào có nhiều hình dạng và kích thước khác nhau? – Mỗi tế bào đều có những tính chất và chức năng khác nhau, bởi vậy nên chúng có hình dạng và kích thước khác nhau để có thể thực hiện các chức năng của mình.

Sinh sản thông qua phân bào.

Quá trình trao đổi chất của tế bào bao gồm thu nhận các vật liệu thô, sau đó chế biến thành các thành phần cần thiết cho tế bào, sản xuất các phân tử mang năng lượng và một số sản phẩm phụ khác.

Tế bào thực hiện chức năng của mình thông qua việc hấp thụ và sử dụng nguồn năng lượng dự trữ trong các phân tử hữu cơ được giải phóng trong quá trình trao đổi chất

Tế bào có khả năng tổng hợp các protein. Mỗi tế bào động vật chứa khoảng 10.000 loại protein khác nhau và đây là phân tử đảm nhận các chức năng cơ bản của tế bào

Tế bào có thể thích ứng với các kích thích hoặc thay đổi của môi trường bên trong và bên ngoài như nhiệt độ, độ pH, nguồn dinh dưỡng,…

Tế bào có thể di chuyển các túi tiết chứa các vật chất để đào thải ra khỏi tế bào.

Cấu trúc và hình dạng tế bào khác nhau, dựa vào sự khác nhau về cấu trúc có thể phân thành: tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực. Dù là tế bào nhân sơ hay tế bào nhân thực thì cấu tạo tế bào bao gồm 3 phần: màng sinh chất, tế bào chất và vùng nhân.

Màng sinh chất dùng để bọc tế bào, cách biệt phần nội bào với môi trường xung quanh, điều khiển sự ra vào của các chất và duy trì nồng độ các chất bên trong và bên ngoài màng. Tế bào chất là phần nằm ở giữa màng sinh chất và nhân có chứa đầy dịch thể.

Chức năng của màng sinh chất là tham gia vào quá trình tổng hợp protein, trong đó có các enzym. Vùng nhân nằm bên trong tế bào chất và có hình dạng thay đổi khi tế bào di chuyển, vùng nhân của tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực có sự khác biệt rất rõ rệt.

Tế Bào Cơ Trơn Có Hình Dạng Và Cấu Tạo Thế Nào? / 2023

Tế bào cơ trơn là thành phần cấu tạo nên mô cơ trơn – một trong 3 loại mô cơ trong cơ thể của người và động vật. Các tế bào cơ trơn khi được kết hợp lại sẽ tạo thành mô cơ trơn. Loại mô này thường được phân bổ ở xung quanh của các cơ quan rỗng hay các ống trong cơ thể. Tiêu biểu như dạ dày, ruột, bàng quang, mạch máu…

Tuy nhiên, các tế bào cơ trơn cũng có thể đứng riêng lẻ ở hầu hết các cơ quan trong cơ thể người. Đặc biệt là trong các bó nhỏ của tế bào như lông, tóc hay da…

Như đã giải thích ở trên, tế bào cơ trơn cấu tạo nên mô cơ trơn. Vậy mô là gì? Khái niệm mô là gì sinh học 8 đã đề cập tới. Có thể hiểu, mô là tập hợp của các tế bào chuyên hóa có cấu tạo giống nhau. Các tế bào tùy vào vị trí và cấu tạo sẽ đảm nhiệm một chức năng nhất định.

Từ khái niệm trên, có thể thấy, tế bào cơ trơn sẽ có những chức năng nhất định. Cụ thể, chức năng của tế bào cơ trơn chính là bao quanh các cơ quan rỗng, qua đó điều chỉnh luồng chảy và sự co dãn của những cơ quan này. Vậy tế bào cơ trơn có hình dạng và cấu tạo thế nào để có thể thực hiện chức năng này?

Tế bào cơ trơn có hình dạng và cấu tạo thế nào?

Hình dạng của tế bào cơ trơn là hình thoi, nhọn hai đầu. Tùy vào từng vị trí mà chiều dài của chúng cũng sẽ khác nhau.

Cấu tạo của loại tế bào này chỉ có một nhân chứa 1 – 2 hạt nhân và không có vân ngang. Ở giữa của tế bào cơ trơn phình ra các sợi cơ có hình dạng khác nhau. Thường là hình trứng hoặc hình que bị gãy khúc. Ngoài ra, tế bào cơ trơn cũng có tế bào chất chứa nhiều myoglobin và các hạt glycogen.

Cấu tạo của tế bào cơ trơn còn có một số đặc điểm sau:

Màng tế bào của tế bào gồm các bào tương và màng đáy.

Lưới nội bào phát triển chưa hoàn thiện

Bên ngoài màng đáy của màng tế bào có những sợi tạo keo để gắn các sợi cơ với nhau.

Giống như tên gọi, mô cơ vân có cấu tạo từ nhiều vân ngang và nhiều nhân. Đây là điểm khác biệt nhằm phân biệt giữa mô cơ vân và mô cơ trơn. Vị trí của mô cơ vân thường gắn với xương. Vì thế nó có khả năng co dãn tốt nhất trong 3 loại mô cơ. Chức năng chính của mô cơ vân là co lại và phình ra để giúp các bộ phận hoạt động hiệu quả.

Mô cơ tim là một trong những thành phần cấu tạo nền thành tim. Loại cơ này chỉ có thể tìm thấy tại phần tim của cơ thể người và động vật. Mô cơ tim cũng có nhiều vân ngang và nhiều nhân nhằm thực hiện chức năng co bóp của tim.

Trong cơ thể người và động vật, mô cơ, mô liên kết, mô biểu bì và mô thần kinh là 4 loại mô chính, có chức năng và vai trò quan trọng trong cơ thể con người. Vậy bốn loại mô chính của cơ thể là gì chức năng của chúng thế nào? Chúng ta đã tìm hiểu trong những bài viết trước.

Cấu Tạo Vách Tế Bào Của Tế Bào Thực Vật, Tế Bào Thực Vật Gồm Phần Vách Tế Bào Bao Quanh Thể Nguyên Sinh, Vách Tế Bào Làm Cho Hình Dạng Của Tế Bào Và Kết Cấu Của Mô Rất Phong Phú, Các Lỗ Và Ống Trao Đổ / 2023

1. Vách tế bào của tế bào thực vật

Vách tế bào của tế bào thực vật là đặc điểm nổi bật để phân biệt tế bào thực vật với tế bào Động vật.

Vách tế bào là lớp vỏ cứng bao bọc xung quanh tế bào, ngăn cách các tế bào với nhau hoặc ngăn cách tế bào với môi trường ngoài. Những tế bào có vách được gọi là dermatoplast (thể nguyên sinh có bao).

Một số tế bào Thực vật không có vách (các tế bào di động của Tảo và những tế bào giới tính ở Thực vật bậc thấp và bậc cao). Một số ít tế bào Động vật có vách (những tế bào này thuộc các cơ thể bậc thấp).

Vách tế bào đặc trưng như một thành phần không phải chất nguyên sinh, vì sau khi hình thành nó không có sự trao đổi chất, tuy nhiên ở một số tế bào sống trưởng thành chất tế bào có mặt trong vách ở các sợi liên bào.

Vách tế bào làm cho hình dạng của tế bào và kết cấu của mô rất phong phú. Nó có chức năng nâng đỡ kể cả ở tế bào sống và tế bào không còn sống, giúp cho phần khí sinh của cây ở cạn chống lại tác động của trọng lượng và bảo vệ chúng khỏi sự khô héo.

Vách giữ vai trò quan trọng trong các hoạt động hấp thu, hô hấp, thoát hơi nước, di chuyển và bài tiết.

2. Cấu trúc vách tế bào của tế bào thực vật

Tế bào thực vật gồm phần vách tế bào bao quanh thể nguyên sinh, mỗi tế bào trong mỗi mô đều có vách riêng; vách của hai tế bào cạnh nhau tạo nên một lớp kép. Lớp kép này được cấu tạo bởi:

Phiến giữa – lớp pectin

Vách cấp một – lớp cellulose

Vách của tế bào mô phân sinh (tế bào đang phát triển), còn giữ lại chất nguyên sinh trong thời kỳ tột đỉnh của sự trưởng thành về sinh lý.

Sự thay đổi chiều dày vách và các chất hóa học xảy ra ở vách có thể thuận nghịch, ví dụ vách của tầng sinh gỗ thay đổi theo mùa, vách của nội nhũ ở một số hạt thường bị tiêu hóa trong thời gian nẩy mầm.

3. Các lỗ và ống trao đổi

Tế bào có vách dày cần có các lỗ để trao đổi các chất giữa các tế bào ở cạnh nhau. Nếu vách tế bào rất dày các lỗ đó sẽ biến thành những ống nhỏ trao đổi, xuyên qua các lỗ và ống trao đổi là các sợi nhỏ li ty nối liền chất tế bào.

Vách tế bào của tế bào thực vật./.

Copy vui lòng ghi nguồn duoclieu.edu.vn

Hình Dạng Và Cấu Tạo Hồng Cầu / 2023

– Hồng cầu ở người là những tế bào màu đỏ, không có nhân, hình đĩa lõm 2 mặt. Đường kính hồng cầu khoảng 7 – 8 μm (trung bình khoảng 7,5 μm). Chiều dày tế bào ở trung tâm là 1 μm, còn ở ngoại vi là 2 – 3 μm.

Hình thái hồng cầu thay đổi tuỳ theo các loài động vật khác nhau. Ví dụ: ở cá, lưỡng cư, bò sát và chim, hồng cầu có hình bầu dục và có nhân. Đa số lớp thú, trừ lạc đà, hồng cầu không có nhân.

– Hình đĩa lõm 2 mặt thích hợp với khả năng vận chuyển khí của hồng cầu vì:

o Nó làm tăng diện tích tiếp xúc của hồng cầu.o Làm tăng tốc độ khuếch tán khí.o Làm cho hồng cầu có thể biến dạng dễ dàng khi xuyên qua các mao mạch có đường kính rất nhỏ.

– Cấu trúc màng hồng cầu gồm 3 lớp:

o Lớp ngoài: là glycoprotein, glycolipid và acid sialic, có nhiều lỗ nhỏ có đường kính khoảng 3 – 4 Å.

Trong trường hợp số lỗ tăng (hồng cầu hình liềm) trao đổi chất tăng, làm mất nhiều năng lượng nên hồng cầu dễ bị bể.

Màng hồng cầu đưa ra ngoài các phân tử acid sialic tích điện âm, các hồng cầu không dính vào nhau.Trong một số trường hợp bệnh lý về cấu tạo màng, hoặc do dùng một số thuốc có khả năng kết hợp với acid sialic, làm mất điện tích âm của một số hồng cầu nên hồng cầu dính vào nhau làm thay đổi tốc độ lắng máu.

o Lớp lipid: gồm Phospholipid chiếm 65%, Cholesterol: 25%,và Glycolipid: 10%. Lớp lipid giữ nguyên hình dạng hồng cầu.

o Lớp trong cùng: là những sợi vi thể, những ống vi thể và những phân tử calmodulin, protein gắn hemoglobin. Các phân tử calmodulin điều hoà hoạt động các enzyme ở màng.

o Ngoài ra, trên màng hồng cầu còn có G6PD (glucose – 6 – phosphat dehydrogenaza), anhydrase carbonic, glutation reductaza có vai trò đảm bảo tính bền vững thẩm thấu của màng và sự trao đổi các chất qua màng.

– Màng của tế bào hồng cầu là 1 màng bán thấm đặc biệt, đó là màng lipoprotein có tính thấm chọn lọc.

Nó không cho chất keo thấm qua (protein, lipid). Các khí Oxy, khí carbonic, nước, glucose, ure, và các ion âm thấm qua được. Đối với các ion muối khoáng, tính thấm của màng cũng không đồng đều: các ion H+, OH –, HCO, và một số ion hữu cơ khác thấm qua dễ dàng; ngược lại các ion K+, Na+ thấm qua rất ít và chậm, hoặc không qua được (Ca++, Mg++).

– Trên màng hồng cầu có một số kháng nguyên A, B, và Rh+, nó có vai trò sinh lý trong việc quyết định các nhóm máu.

– Hồng cầu không thay đổi hình dạng khi đặt trong dung dịch đẳng trương. Trong dung dịch ưu trương, nước trong hồng cầu thấm ra ngoài, làm hồng cầu teo lại. Trong dung dịch nhược trương, nước từ ngoài thấm vào hồng cầu làm hồng cầu trương to lên và cuối cùng vỡ ra gây tan máu.

– Hồng cầu trong máu động mạch có độ bền cao hơn trong máu tĩnh mạch.

– Bào tương hồng cầu chứa rất ít các bào quan, chủ yếu chứa hemoglobin (Hb). Hb chiếm khoảng 32 – 34% trọng lượng tươi và trên 90% trọng lượng khô của hồng cầu.