Top 7 # Lợi Ích Của Công Ty Đa Quốc Gia Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Công Ty Đa Quốc Gia (Multinational Corporations)

Các công ty đa quốc gia, hoặc công ty xuyên quốc gia (transnational corporations), là những công ty có hoạt động diễn ra tại hai quốc gia trở lên. Các công ty đa quốc gia ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thế giới. Hiện nay, 500 công ty đa quốc gia lớn nhất kiểm soát hơn hai phần ba thương mại thế giới, trong đó phần lớn là các trao đổi được thực hiện giữa các công ty con, chi nhánh của chúng với nhau. Bên cạnh đó, 100 công ty đa quốc gia lớn nhất chiếm khoảng một phần ba tổng số đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trên toàn cầu. Tuy nhiên, sự phân bổ của các công ty đa quốc gia không đồng đều, với phần lớn trong tổng số hơn 63.000 công ty đa quốc gia trên thế giới có trụ sở chính ở Mỹ, Châu Âu hoặc Nhật Bản.

Sự xuất hiện các công ty đa quốc gia không phải là một hiện tượng mới mẻ. Ví dụ những công ty như Công ty Đông Ấn Anh Quốc hay Đông Ấn Hà Lan bắt đầu hoạt động trên phạm vi quốc tế trong thời kỳ diễn ra làn sóng thực dân hóa đầu tiên cách đây hơn 300 năm. Tuy nhiên bản chất của các công ty đa quốc gia đã thay đổi rất nhiều trong những thế kỷ qua. Cuộc Cách mạng công nghiệp và công nghệ thông tin cùng các biện pháp quản lý mới đã đóng vai trò quan trọng trong tiến trình này. Đặc biệt với quá trình toàn cầu hóa được thúc đẩy mạnh mẽ kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai cùng sự mở rộng thương mại tự do, các công ty đa quốc gia đã khuếch trương mạnh mẽ về số lượng và quy mô hoạt động.

Với tác động của toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại, các công ty đa quốc gia đã có nhiều thuận lợi hơn trong việc tìm kiếm những địa điểm hoạt động mang lại hiệu quả cao nhất. Theo đó, các công ty này đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài nhằm khai thác lợi thế so sánh của từng quốc gia, tận dụng các chính sách ưu đãi, qua đó giảm chi phí sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh cho mình. Sự lớn mạnh của các công ty đa quốc gia cũng là chỉ dấu cho thấy một sự thay đổi quan trọng trong nền chính trị thế giới đang diễn ra. Theo đó, khi quyền năng trong việc áp đặt các hàng rào thuế quan giảm sút, vai trò của các nhà nước trong việc điều phối nền thương mại toàn cầu cũng không còn mạnh mẽ như trước đây. Trong nền thương mại toàn cầu ngày càng tự do ngày nay, chính các công ty đa quốc gia, những tác nhân chủ chốt tiến hành các hoạt động thương mại quốc tế, là những người nắm giữ quyền lực trong việc xác lập các quy tắc thương mại toàn cầu.

Quyền lực của các công ty đa quốc gia còn thể hiện ở chỗ chúng rất khó kiểm soát. Do hoạt động xuyên biên giới, các quy định pháp luật ở cấp độ quốc gia thường không đủ để điều chỉnh hành vi của các công ty đa quốc gia. Vấn đề này còn nảy sinh từ thực tế rằng việc điều phối pháp luật ở cấp độ quốc tế còn rất yếu và rất khó đảm bảo thực thi. Chính vì vậy mặc dù các công ty đa quốc gia đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triển toàn cầu, việc các công ty này có thể chuyển hoạt động sang các quốc gia khác khi gặp phải các rào cản quản lý ở nước sở tại khiến cho các quốc gia đơn lẻ hầu như không thể kiểm soát được hoạt động và hành vi của các công ty đa quốc gia.

Bất chấp những tranh cãi xung quanh vai trò và tác động tích cực hay tiêu cực của các công ty đa quốc gia, một điều rõ ràng có thể nhận thấy chính là việc các quốc gia đang cạnh tranh gay gắt lẫn nhau nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài của các công ty đa quốc gia. Chính vì thế các quốc gia rất miễn cưỡng trong việc áp đặt các biện pháp hạn chế đối với các công ty này. Không những vậy, các quốc gia còn đưa ra các chính sách ưu đãi, thậm chí chấp nhận điều chỉnh pháp luật hay các tiêu chuẩn về môi trường, kỹ thuật… nhằm thu hút các công ty đa quốc gia đến đầu tư. Đây cũng là lý do tờ tạp chí The Economist của Anh từng ví các công ty đa quốc gia như những “con quái vật được yêu thích” của tất cả các quốc gia, ai cũng biết những hạn chế và tác động tiêu cực của chúng nhưng ai cũng muốn đón chào và khai thác những lợi ích mà chúng mang lại.

Nguồn: Đào Minh Hồng – Lê Hồng Hiệp (chủ biên), Sổ tay Thuật ngữ Quan hệ Quốc tế, (TPHCM: Khoa QHQT – Đại học KHXH&NV TPHCM, 2013).

Khái Quát Về Công Ty Đa Quốc Gia

HP: Tài chính quốc tế Vũ

GVHD: TS. Nguyễn Ngọc

Phần I. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 1. Khái niệm, lịch sử ra đời, mục đích hoạt động của các công ty đa quốc gia. 1.1. Khái niệm Công ty đa quốc gia, thường viết tắt là MNC (Multinational Corporation) hoặc MNE (Multinational Enterprises) là công ty sản xuất hay cung cấp dịch vụ ở ít nhất hai quốc gia. 1.2. Cơ sở hình thành công ty đa quốc gia. – Thứ nhất: đó là nhu cầu quốc tế hóa ngành sản xuất và thị trường nhằm tránh những hạn chế thương mại, quota, thuế nhập khẩu ở các nước mua hàng, sử dụng được nguồn nguyên liệu thô, nhân công rẻ, khai thác các tiềm năng tại chỗ. – Thứ hai: đó là nhu cầu sử dụng sức cạnh tranh và những lợi thế so sánh của nước sở tại, thực hiện việc chuyển giao các ngành công nghiệp bậc cao. – Thứ ba: tìm kiếm lợi nhuận cao hơn và phân tán rủi ro. Cũng như tránh những bất ổn do ảnh hưởng bởi chu kỳ kinh doanh khi sản xuất ở một quốc gia đơn nhất. Cơ sở để hình thành nên điều đó chính là cơ sở lý thuyết thương mại quốc tế: + Thuyết lợi thế so sánh: chuyên môn hóa làm tăng hiệu quả. + Thuyết thị trường không hoàn hảo: Thị trường các yếu tố đầu vào phục vụ không hoàn hảo. + Thuyết Chu kỳ sản phẩm: các sản phẩm có một chu kỳ phát triển nhất định 1.3. Tiêu chuẩn cơ bản của một công ty đa quốc gia. *Về mặt định lượng: – Số lượng các quốc gia hoạt động là 2 trở lên. – Tỉ lệ lợi nhuận thu từ những hoạt động ở nước ngoài phải từ 25 – 30% – Mức độ thâm nhập thị trường nước ngoài phải vững chắc đủ để ra quyết định. Công ty đa quốc gia

1

Nhóm: 07

HP: Tài chính quốc tế Vũ

GVHD: TS. Nguyễn Ngọc

– Nhiều quốc gia cùng sở hữu công ty. * Về mặt định tính – Tổ chức được xem là đa quốc gia khi sự quản lý mang tính quốc tế hóa và hoạt động phải mang tính quốc tế – Triết lý quản trị của công ty có thể phân thành : “dân tộc” (hướng nội), đa dạng (hướng theo thị trường nước ngoài), khu vực hay vùng (hướng đến khu vực rộng hơn, có thể là toàn cầu) 2. Sự khác biệt giữa quản lý tài chính của một công ty đa quốc gia so với công ty đơn thuần nội địa. 2.1. Về hệ thống tiền tệ: Trong quản lý tài chính đòi hỏi tính toán lưu lượng tiền tệ luân chuyển vào và ra qua các nghiệp vụ tài chính phát sinh, do đó phải tính toán bằng tiền bản xứ và qui đổi ra đơn vị tiền tệ thống nhất (ngoại tệ mạnh). Như thế, trong phân tích tài chính phải có các chỉ tiêu phân tích tỷ giá hối đoái, hoặc phân tích ảnh hưởng sự biến động giá trị của tiền tệ đối với tình hình tài chính công ty. 2.2. Về thể chế chính trị và kinh tế: Mỗi một quốc gia có một khuôn mẫu kinh tế và chính trị riêng, rất đặc thù và rất khác nhau giữa các quốc gia. Sự khác biệt này là một vấn đề thực sự quan trọng trong đối sách của công ty đa quốc gia trong việc cố gắng để điều hành và quản lý, trên qui mô toàn thế giới, các công ty con hoặc các đại lý chi nhánh của chúng. 2.3. Về ngôn ngữ: Khả năng giao tiếp là yêu cầu hàng đầu trong mọi giao dịch kinh doanh, trong đó ngôn ngữ đóng vai trò trọng yếu. Vì vậy các nhà doanh nghiệp muốn bành trướng việc kinh doanh của mình ra khỏi biên giới đất nước thì vấn đề hàng đầu là khả năng ngoại ngữ, càng thông thạo nhiều thứ tiếng thì khả năng xâm nhập và chiếm lĩnh thị trường nước khác càng cao. 2.4. Về văn hóa: Ngay cả các nước ở trong cùng một khu vực địa lý có những mối liên hệ truyền thống từ xa xưa cũng rất khác nhau về văn hoá. Chính bản sắc văn hoá riêng biệt này đã định hình và ảnh hưởng sâu xa đến hoạt động kinh doanh trong xã hội và vì thế các công ty đa quốc gia đã bị ảnh hưởng trong việc xác định mục tiêu kinh doanh ở nước ngoài. Công ty đa quốc gia

2

Nhóm: 07

HP: Tài chính quốc tế Vũ

GVHD: TS. Nguyễn Ngọc

2.5. Về vai trò của chính phủ: Các mô hình tài chính mặc nhiên chấp nhận sự cạnh tranh trên thị trường, nơi đó thuật ngữ “cạnh tranh” được xác định bởi các thành phần tham gia, chính phủ nắm trong tay quyền lực thiết lập trật tự kinh tế và luật lệ căn bản cũng tham gia vào quá trình này 2.6. Về rủi ro chính trị: Trong những tình huống xảy ra những vấn đề chính trị bất lợi, chính phủ có thể áp đặt quyền lực tối cao lên tài sản của công ty như trưng dụng, sung công mà không có một khoản bồi thường nào. Qua thực tế, ngay cả nhân mạng cũng không được bảo đảm. Một số đại diện của các công ty đa quốc gia đã bị bắt làm con tin tại Iraq và Kuwait trong thời kỳ chiến tranh vùng Vịnh là một ví dụ điển hình. 3. Sự phát triển và ảnh hưởng của công ty đa quốc gia. 3.1. Sự ra đời của các công ty xuyên quốc gia đầu tiên. Dấu vết của các công ty xuyên quốc gia được các nhà lịch sử lần theo từ thế kỉ thứ 17 kỉ nguyên của các cuộc khám phá ra vùng đất mới và xâm chiếm thuộc địa. Hai công ty xuyên quốc gia được coi như là ra đời sớm nhất là công ty British East India Company được thành lập dưới hiến chương của Hoàng gia Anh để thực hiện buôn bán thương mại với Ấn Độ vào cuối thế kỉ 17 và Dutch East India Company. Những công ty xuyên quốc gia rất lớn và có lịch sử phát triển lâu đời là Unilever, Ford Motor, Royal Dutch Shell, Siemens Từ chỉ 3.000 công ty ĐQG vào năm 1900, nay đã tăng lên đến 63.000. Cùng với 821.000 chi nhánh trên khắp thế giới, các công ty này tuy chỉ đang trực tiếp sử dụng 90 triệu lao động (trong đó khoảng 20 triệu ở các nước đang phát triển) song đã tạo ra đến 25% tổng sản phẩm của thế giới – riêng 1.000 công ty hàng đầu chiếm đến 80% sản lượng công nghiệp thế giới. Trái với những ý nghĩ cho rằng đó là những tổ chức rất lớn, phần lớn trong số 63.000 công ty ĐQG có số nhân viên ít hơn 250 người, một số hãng dịch vụ thậm chí có số nhân viên còn ít hơn. Tất nhiên, những công ty giàu có nhất (93 trong số top 100) vẫn đóng ở Mỹ, Nhật và châu Âu, nhưng giả định thường thấy cho rằng các công ty lớn phải là của Mỹ không còn

Công ty đa quốc gia

3

Nhóm: 07

HP: Tài chính quốc tế Vũ

GVHD: TS. Nguyễn Ngọc

đúng nữa. Năm 1962, gần 60% trong số 500 công ty ĐQG hàng đầu của thế giới là của Mỹ, đến năm 1999 tỉ lệ này chỉ còn 36%. 3.2. Quá trình phát triển đến ngày nay và ảnh hưởng của các công ty đa quốc gia đến nền kinh tế và xã hội. Công ty đa quốc gia có thể có ảnh hưởng lớn đến các mối quan hệ quốc tế và các nền kinh tế của các quốc gia khi mà chúng có ảnh hưởng kinh tế lớn đến các khu vực mà các nhà chính trị đại diện và chúng có nguồn lực tài chính dồi dào để phục vụ cho quan hệ công chúng và vận động hành lang chính trị. Các công ty ĐQG, cho dù có bị xem là “lợi nhuận là trên hết”, vẫn mang lại lợi ích cho nước sở tại như đóng thuế, tạo công ăn việc làm, cung cấp những hàng hóa và dịch vụ trước đó không có, và trên hết thảy là mang đến vốn, công nghệ và kiến thức quản trị. Nhưng danh sách các tác hại từ hoạt động của họ cũng dài không kém. Một trong những lĩnh vực mà người ta thấy rõ sức mạnh nhất là văn hóa. Vì các công ty ĐQG thống lĩnh hoạt động sản xuất và phân phối sản phẩm truyền thông (chỉ có sáu công ty bán 80% tổng số băng đĩa nhạc trên toàn thế giới), họ du nhập những ý tưởng và hình ảnh khiến một số chính phủ và tổ chức tôn giáo lo ngại có thể làm xã hội mất ổn định. McDonald (với khoảng 29.000 nhà hàng tại 120 nước) bị cáo buộc là cổ xúy cho chế độ ăn uống không có lợi cho sức khỏe. Tuy nhiên, tác động của các công ty ĐQG không chỉ dừng ở thời trang và thực phẩm. Do họ có ảnh hưởng trong việc tạo ra việc làm và nguồn thu thuế, chính phủ ở các nước đang phát triển cạnh tranh nhau để giành được vốn đầu tư của họ. Trong quá trình đó thuế suất, chính sách xã hội, quan hệ công đoàn, tập quán kế toán và nhiều điều khác được quyết định có cân nhắc đến sự hiện diện của các công ty này. Thoạt tiên khi các công ty bước ra toàn cầu, họ bán hàng ở nước ngoài, nhưng sản xuất và kiểm soát hoạt động của mình tại quê nhà. Theodore Levitt, trong tạp chí Harvard Business Review năm 1983, đã đúc kết: dựa vào hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) và cơ sở sản xuất ngay tại nước nhà, các công ty này xuất khẩu sản phẩm đồng nhất đi khắp thế giới.

Công ty đa quốc gia

4

Nhóm: 07

HP: Tài chính quốc tế Vũ

GVHD: TS. Nguyễn Ngọc

Nhưng đến đây cũng là lúc bắt đầu hình thành giai đoạn thứ hai của toàn cầu hóa. Trong giai đoạn này, cả hoạt động kinh doanh và sản xuất được chuyển ra khắp địa cầu, nhưng tổng hành dinh của công ty mẹ vẫn nắm chặt việc kiểm soát. Do muốn cắt giảm chi phí, các hãng lớn ở phương Tây di chuyển phần lớn cơ sở sản xuất của họ sang các nước có mức lương thấp hơn. Trong thập niên 1990, điều này đã góp phần tạo nên mức gia tăng nhanh chóng về đầu tư trực tiếp nước ngoài. Hiện nay chúng ta đang chứng kiến một sự dịch chuyển lớn về địa điểm của quyền kiểm soát này. Ngày càng có nhiều công ty ĐQG chuyển hoạt động và quyền kiểm soát các chức năng kinh doanh chủ chốt ra khỏi tổng hành dinh, theo gương của các công ty như IBM. Mới đây, IBM đã mở một tổng hành dinh khu vực ở Singapore, với 1.000 nhân viên đảm trách các hoạt động ngày càng phát triển trong vùng, và cho biết sẽ đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch các chuyên gia ra khỏi Mỹ. Dự kiến trong năm 2004, hình thức này sẽ tăng tốc thành điều mà các chuyên gia gọi là kỷ nguyên thứ ba của các công ty ĐQG, mà một số dấu hiệu có thể kể như sau: * Ngày càng phân tán các tổng hành dinh. Các công ty lớn hiếm khi chuyển tông hành dinh chính của họ từ nước này sang nước khác. Nhưng ngày càng có nhiều công ty thiết lập tông hành dinh khu vực hay dời một số phòng ban sang nơi khác. * Các qui trình kinh doanh chủ chốt ngày càng được chuyển sang các nước đang phát triển. Nhờ các kỹ năng và mạng lưới công nghệ thông tin cho việc truyền bá thông tin kỹ thuật số ngày càng dễ dàng, qui trình này ngày càng nhanh chóng. Một báo cáo mới đây của Hãng tư vấn Bain & Co ước tính đến năm 2006 thị trường gia công dịch vụ cho nước ngoài (offshoring) ở Ấn Độ sẽ tăng 57% và thị trường ở Nga sẽ tăng 45%. * Hãng tư vấn Accenture dự báo sẽ có mức độ tăng trưởng rất mạnh về việc đưa các dịch vụ tài chính kế toán ra gia công ở nước ngoài; những công việc đó từ lâu không còn thuộc về tông hành dinh. Các công ty đang dần nhận ra rằng đưa loại công việc này ra gia công ở nước ngoài chỉ là thay đổi quyền kiểm soát chứ không phải đánh mất quyền kiểm soát.

Công ty đa quốc gia

5

Nhóm: 07

HP: Tài chính quốc tế Vũ

GVHD: TS. Nguyễn Ngọc

* Gia tăng hội nhập của các nhà quản lý có quốc tịch khác nhau. Càng lúc sẽ càng có nhiều tổng giám đốc mang quốc tịch khác với quốc tịch của công ty mà họ làm việc. Hiện nay số này vẫn còn rất hiếm. Tuy nhiên ở cấp kế cận – nguồn cung cấp các tổng giám đốc tương lai – ngày càng có nhiều nhà quản lý xuất phát từ các quốc gia khác nhau. * Gia tăng sử dụng hoạt động R&D từ các nguồn khác ngoài các phòng thí nghiệm của chính công ty. Ví dụ, năm 2003 Hãng General Motors lắp một số xe hơi của mình với động cơ có thể chạy xăng hoặc ethanol hay hỗn hợp của cả hai. Động cơ này được phát triển ở trung tâm công nghệ ở Brazil của Delphi, một hãng Mỹ chuyên sản xuất linh kiện ôtô tự hào cho biết có trụ sở ở Troy, Michigan, Paris, Tokyo và Sao Paulo…

Top 10 công ty đa quốc gia lớn nhất thế giới theo xếp hạng của Forbes: Vị trí

Công ty

Lĩnh vực

Doanh thu (tỷ USD)

Tài sản

Giá trị thị trường

(tỷ USD)

(tỷ USD)

1

General Electric

Mỹ

Đa lĩnh vực

182,52

17,41

797,77

89,87

2

Royal Dutch Shell

Hà Lan

Dầu khí

458,36

26,28

278,44

135,10

3

Toyota Motor

Nhật

263,42

17,21

324,98

102,35

4

ExxonMobil

Mỹ

Dầu khí

425,70

45,22

228,05

335,54

5

BP

Anh

Dầu khí

361,14

21,16

228,24

119,70

6

HSBC Holdings

Anh

Ngân hàng

142,05

5,73

2.520,45

85,04

7

AT&T

Mỹ

124,03

12,87

265,25

140,08

8

Wal-Mart Stores

Mỹ

Bán lẻ

405,61

13,40

163,43

193,15

Ngân hàng

96,23

13,25

1.318,86

49,75

Dầu khí

255,11

23,93

161,17

121,70

Hàng tiêu dùng lâu bền

Dịch vụ viễn thông

Banco Santander

10

Chevron

Mỹ

4. Các dạng cấu trúc tổ chức của công ty. 4.1. Cấu trúc tổ chức cho những công ty mới bắt đầu đi vào thị trường quốc tế.

Công ty đa quốc gia

6

Nhóm: 07

HP: Tài chính quốc tế Vũ

GVHD: TS. Nguyễn Ngọc

Khi một công ty lần đầu tiên bước vào vũ đài quốc tế, nó đều nhìn nhận những nỗ lực này là mở rộng hoạt động nội địa. MNC sẽ điều khiển kinh doanh ở hải ngoại trực tiếp thông qua phòng Marketing, phòng xuất khẩu, hay một công ty con. 4.1.1 Cấu trúc phòng nhập khẩu.

Sơ đồ 1: Cấu trúc phòng nhập khẩu. 4.1.2 Cấu trúc theo chi nhánh.

Sơ đồ 2: Cấu trúc theo chi nhánh 4.2. Cấu trúc bộ phận kinh doanh quốc tế

Công ty đa quốc gia

7

Nhóm: 07

HP: Tài chính quốc tế Vũ

GVHD: TS. Nguyễn Ngọc

Một công ty đa quốc gia đã có những hoạt động kinh doanh quốc tế lớn mạnh, sâu rộng thì cấu trúc theo dạng bộ phận xuất khẩu hay theo dạng chi nhánh tỏ ra không còn phù hợp. Các MNC sẽ tổ chức theo cấu trúc bộ phận quốc tế để tập trung hóa các bộ phận này.

Sơ đồ 3: Cấu trúc theo bộ phận kinh doanh quốc tế Hình thức này đem lại một số những lợi ích (thuận lợi): – Cho phép các nhà quản trị tập trung các đầ mối quản lý cấp trung gian tránh sự quá tải của các hình thức đã nêu ở trên. – Nâng cao vai trò của hoạt độnng kinh doanh quốc tế so với trong nội địa. – Giúp công ty phát triển lực lượng nòng cốt những nhà quản trị giàu kinh nghiệm quốc tế. Nhưng cũng có một vài trở ngại đáng kể (nhược điểm): – Nó chia cắt hoạt đông kinh doanh thành thị trường trong nuớc và ngoài nước. – Cách sắp xếp này tạo một áp lực rất lớn cho các quản trị phải suy nghĩ về các vấn đề có tầm vóc toàn cầu và họ suy nghĩ rất nhiều về phân bổ nguồn lực cho thị trường nào. 4.3. Cấu trúc tổ chức toàn cầu Công ty đa quốc gia

8

Nhóm: 07

HP: Tài chính quốc tế Vũ

GVHD: TS. Nguyễn Ngọc

Khi một công ty đa quốc qia có thu nhập ngày càng nhiều từ các hoạt động ở hải ngoại, thì chiến lược của họ trở nên tập trung vào toàn cầu hơn và cấu trúc sử dụng để thực hiện chiến lược này phải phù hợp.Vì thị trường nội địa là hơi nhỏ, các công ty này đã có những cấu trúc toàn cầu truyền thống . Gồm 5 loại cơ bản : – Sản phẩm toàn cầu – Khu vực toàn cầu – Chức năng toàn cầu – Hỗn hợp – Ma trận 4.3.1 Cấu trúc sản phẩm toàn cầu: Là cấu trúc mà các sản phẩm nội địa chịu trách nhiệm khắp nơi đối với các nhóm sản phẩm (hình 4) trong cơ cấu này mỗi bộ phận có đầu ra của nó trên thế giới. Nhìn vào bộ phận sản phẩm C, nhóm Châu Âu điều hành phần lớn các quốc qia. Tương tự như ở 4 châu lục khác trong từng trường hợp nhà quản trị sẽ có những hỗ trợ chức năng nội bộ cho những sản phẩm còn lại. Tất cả các hoạt động sản xuất marketing, nhân sự, tài chính, liên kết với sản phẩm C sẽ chiu sự điều khiển của bộ phận này.

Sơ đồ 4: Cấu trúc theo bộ phận sản phẩm toàn cầu Lợi ích: Công ty đa quốc gia

9

Nhóm: 07

HP: Tài chính quốc tế Vũ

GVHD: TS. Nguyễn Ngọc

– Một hãng sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau ,cấu trúc này cho phép mỗi loại sản phẩm đáp ứng những nhu cầu đặc trưng của khách hàng. – Giúp phát triển một lực lượng cán bộ quản trị giàu kinh nghiệm và được huấn luyện kỹ lưỡng, hiểu được loại sản phẩm đặc trưng. – Giúp công ty có những chiến lược marketing phù hợp với nhu cầu đặc trưng của khách hàng. Những trở ngại đối với cấu trúc sản phẩm toàn cầu – Sự cần thiết của việc tăng các phương tiện và nhân sự trong mỗi bộ phận. – Phải mất thời gian để phát triển nhà quản trị điều khiển cấu trúc này. – Khó kết hợp các hoạt động của những bộ phận sản phẩm khác nhau. 4.3.2 Cấu trúc theo khu vực mang tính toàn cầu Là cấu trúc mà trách nhiệm điều hành cơ bản được đại diện bởi nhà quản trị khu vực, mỗi người này chịu trách nhiệm về một vùng địa lý cụ thể. Ví dụ (sơ đồ 5) dưới sự sắp xếp này mỗi bộ phận chịu trách nhịêm về tất cả các chức năng trong vùng đó, đó là sản xuất, marketing, nhân sự, tài chính. Xuất hiện một vài điểm tương tự về cấu trúc giữa khu vực quốc tế và sự sắp xếp sản phẩm quốc tế, tuy nhiên họ điều khiển bằng nhiều cách khác nhau. Với mỗi sự sắp xếp sản phẩm quốc tế, mỗi bộ phận sản phẩm chịu trách nhiệm cho đầu ra của nó trên thế giới.

Công ty đa quốc gia

10

Nhóm: 07

HP: Tài chính quốc tế Vũ

GVHD: TS. Nguyễn Ngọc

Sơ đồ 5: Cấu trúc theo khu vực mang tính toàn cầu Lợi ích – Cung cấp cho các nhà quản trị bộ phận quyền tự chủ để ra quyết định nhanh chóng do đó công ty có thể đáp ứng nhu cầu từng quốc gia hơn – Ngoài ra công ty thu được kinh nghiệm quý giá theo đó thoả mãn thị hiếu địa phương và xây dựng được một lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ – Hoạt động tốt ở những nơi mà hiệu quả theo quy mô đòi hỏi Nhược điểm – Sản phẩm phải phù hợp với thị hiếu địa phương , cần chi phí gấp đôi cho các phương tiện. – Khó kết hợp các vùng địa lý bị phân tán thành chiến lược tổng thể . – Các công ty chủ yếu nhờ vào nghiên cứuvà phát triển để phát triển sản phẩm mới, nhận thấy các bộ phận khu vực toàn cầu không sẵn sàng chấp nhận.

Công ty đa quốc gia

11

Nhóm: 07

HP: Tài chính quốc tế Vũ

GVHD: TS. Nguyễn Ngọc

4.3.3 Cấu trúc chức năng toàn cầu Trong cơ cấu này, vai trò của từng vị trí được bố trí theo chức năng nhằm đạt được mục tiêu, nhiệm vụ chung. Quản lý của từng bộ phận chức năng: sản xuất, bán hàng, tài chính, marketing… sẽ có nhiệm vụ báo cáo lại với giám đốc- người chịu trách nhiệm phối hợp các hoạt động trong công ty và cũng là người chịu trách nhiệm cuối cùng về kết quả hoạt động của công ty. Dạng biến thể của cơ cấu chức năng là cơ cấu tiền chức năng thường được thấy trong các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và chưa phân định thành nhiều chức năng riêng rẽ. Trong cơ cấu tiền chức năng, một người có thể đảm nhiều chức năng khác nhau.

Sơ đồ 6: Cấu trúc chức năng toàn cầu Lợi ích của cơ cấu chức năng: – Có sự chuyên môn hoá sâu sắc hơn, cho phép các thành viên tập trung vào chuyên môn của họ hơn. – Tạo điều kiện tuyển dụng được các nhân viên với các kỹ năng phù hợp với từng bộ phận chức năng.

Công ty đa quốc gia

12

Nhóm: 07

HP: Tài chính quốc tế Vũ

GVHD: TS. Nguyễn Ngọc

Nhược điểm: – Không có hiệu quả trong các công ty có quy mô lớn. Khi hoạt động của công ty tăng về qui mô, số lượng sản phẩm tăng thì sự tập trung của người quản lý đối với lĩnh vực chuyên môn của anh ta sẽ bị dàn mỏng, do đó sẽ làm giảm mối quan tâm tới các phân đoạn sản phẩm cụ thể và nhóm khách hàng của từng sản phẩm. 4.3.4 Cấu trúc hỗn hợp Đây là dang cấu trúc kết hợp nhiều cấu trúc sao cho đáp ứng tốt nhất nhu cầu của công ty (sơ đồ 7). Các lĩnh vực kinh doanh khác nhau có những khúc nhu cầu toàn cầu, cung ứng, đối thủ cạnh tranh khác nhau đòi hỏi cấu trúc quản trị khác nhau. Lợi ích cơ bản là cho phép công ty tạo nên những thiết kế rõ ràng để đáp ứng nhu cầu tố nhất. Đôi khi nó cũng rất linh động và khác với những cấu trúc trước đó. Các vấn đề phát sinh với dòng truyền đạt thông tin, mắt xích điều hành, những nhóm thực hiện cách riêng của nó. Quyết định sử dụng cấu trúc này hoặc không đòi hỏi các công ty hỉa cân nhắc kỹ lưỡng giữa thuận lợi và khó khăn.

Sơ đồ 7: Cấu trúc tổ chức hỗn hợp

Công ty đa quốc gia

13

Nhóm: 07

HP: Tài chính quốc tế Vũ

GVHD: TS. Nguyễn Ngọc

4.3.5 Cấu trúc ma trận địa lý Cấu trúc ma trận địa lý là sự phối hợp giữa cơ cấu chức năng và cơ cấu phòng ban. Quốc gia Quốc gia A

Quốc gia B

Quốc gia C

Sản phẩm Sản phẩm I Sản phẩm II Sản phẩm III Hình 8: Cấu trúc ma trận địa lý

Lợi ích : – Cho phép tập trung vào khách hàng và sản phẩm, đồng thời cho phép có sự chuyên sâu vào chức năng. Nhược điểm : – Đòi hỏi có sự hợp tác cao độ thì cơ cấu mới hoạt động có hiệu quả. Bí quyết để điều hành hoạt động của cơ cấu ma trận là thường xuyên tổ chức các cuộc họp để xem xét lại tình trạng công việc và giải quyết các bất đồng nảy sinh khi nhân viên phải chịu trách nhiệm về công việc trước nhiều hơn một người quản lý. Cơ cấu ma trận tuy có nhiều ưu điểm song việc triển khai trong thực tế lại đòi hỏi phải có sự hợp tác và trao đổi thông tin rất nhiều. Vì vậy, để áp dụng cơ cấu ma trận sao cho có hiệu quả, công ty phải đầu tư tiền bạc và thời gian để đào tạo đội ngũ lãnh đạo và nhân viên phát triển các kỹ năng cần thiết.

Công ty đa quốc gia

14

Nhóm: 07

HP: Tài chính quốc tế Vũ

GVHD: TS. Nguyễn Ngọc

Phần II. CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM 1. Khái quát về các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam. 1.1. Khái niệm Ở Việt Nam, hiện vẫn chưa có định nghĩa chính xác về tập đoàn kinh tế, mà thực chất xung quanh vấn đề này còn rất nhiều tranh cãi. Chẳng hạn, thế nào là một tập đoàn kinh tế? Gọi là tập đoàn kinh tế hay tập đoàn doanh nghiệp? Tập đoàn có phải là một tổ chức có tư cách pháp nhân hay không? Theo bách khoa toàn thư: “Tập đoàn kinh tế là một thực thể pháp lí, mà trong khi được sở hữu chung bởi một số người tự nhiên hoặc những thực thể pháp lí khác có thể tồn tại hoàn toàn độc lập khỏi chúng sự tồn tại độc lập này cho tập đoàn những quyền riêng mà những thực thể pháp lí khác không có. Qui mô và phạm vi về khả năng và tình trạng của tập đoàn có thể được chỉ rõ bởi luật pháp nơi sát nhập.” Nghị định 139/2007/NĐ-CP hướng dẫn bổ sung: “Tập đoàn kinh tế bao gồm nhóm các công ty có tư cách pháp nhân độc lập, được hình thành trên cơ sở tập hợp, liên kết thông qua đầu tư, góp vốn, sáp nhập, mua lại, tổ chức lại hoặc các hình thức liên kết khác; gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác tạo thành tổ hợp kinh doanh có từ hai cấp doanh nghiệp trở lên dưới hình thức công ty mẹ – công ty con”. Theo Viện nghiên cứu Quản lí Kinh tế Trung ương CIEM : “Khái niệm tập đoàn kinh tế được hiểu là một tổ hợp lớn các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoạt động trong một hay nhiều ngành khác nhau, có quan hệ về vốn, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu và các liên kết khác xuất phát từ lợi ích của các bên tham gia. Trong mô hình này, “công ty mẹ” nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của “công ty con” về tài chính. 1.2. Sự ra đời và hoạt động của các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam Tập đoàn kinh tế đã có lịch sử phát triển hàng trăm năm nay nhưng lại khá mới mẻ so với Việt Nam vì các tập đoàn kinh tế Việt Nam thực sự mới chỉ đang ở những bước khởi động đầu tiên của sự vận hành với chủ trương nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh

Công ty đa quốc gia

15

Nhóm: 07

HP: Tài chính quốc tế Vũ

GVHD: TS. Nguyễn Ngọc

nghiệp (DN) Nhà nước, trong đó có các Tổng công ty Nhà nước bằng việc thực hiện chuyển đổi hoạt động theo mô hình tập đoàn kinh tế. Năm 1994, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 91/TTg, ngày 7-3-1994, về việc thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh dựa trên các xí nghiệp, công ty cũ. Các tổng công ty (TCT) được thiết lập trong hàng loạt các ngành, một số trường hợp các TCT chiếm toàn ngành. Tuy nhiên, hoạt động của nhiều TCT nhà nước còn thiếu năng động trong kinh doanh, chất lượng sản phẩm chưa được cải tiến đáng kể, sản lượng thấp. Ý tưởng về những tập đoàn kinh tế (TĐKT) được Thủ tướng Chính phủ đưa ra ngay từ khi quyết định thành lập TCT 91, nhưng phải đến Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ ba, khóa IX (tháng 9-2001), vấn đề thành lập TĐKT mới được đề cập một cách cụ thể. Nghị quyết Hội nghị chỉ rõ: “Hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế, kinh doanh đa ngành, trong đó có ngành kinh doanh chính, chuyên môn hóa cao và giữ vai trò chi phối lớn trong nền kinh tế quốc dân…” . Sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới ngày càng sâu rộng của Việt Nam đòi hỏi nền kinh tế Việt Nam phải có những tập đoàn kinh tế mạnh, giữ vai trò chủ đạo và điều tiết một số lĩnh vực quan trọng trong nền kinh tế để hạn chế sự thao túng và chi phối của nhiều công ty đa quốc gia và các tập đoàn kinh tế tư bản quốc tế xâm nhập vào Việt Nam khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức thương mại quốc tế (WTO). 1.3. Những đặc trưng cơ bản của tập đoàn kinh tế Việt Nam. – Được hình thành chủ yếu từ việc chuyển đổi và tổ chức lại các Tổng công ty Nhà nước theo quyết định của Chính phủ. Khác với sự hình thành của các tập đoàn kinh tế tư bản nước ngoài (được hình thành trên cơ sở sáp nhập, mua bán, đầu tư vốn giữa các DN), sự hình thành của hầu hết các tập đoàn kinh tế Việt Nam theo mô hình Công ty mẹ – con là kết quả và là giải pháp để thực hiện chủ trương đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của các DN Nhà nước mà cụ thể hơn là các Tổng công ty Nhà nước của Chính phủ. Hiện nay đã có 8 tập đoàn kinh tế được hoạt động theo mô hình công ty mẹ công ty con được thành lập từ kết quả của sự chuyển đổi, sắp xếp lại các Tổng công ty Nhà nước.

Công ty đa quốc gia

16

Nhóm: 07

HP: Tài chính quốc tế Vũ

GVHD: TS. Nguyễn Ngọc

– Đang hoạt động trong những ngành kinh tế mũi nhọn, những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, là một trong những công cụ điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ. Hầu hết các tập đoàn này đều hoạt động trong các ngành kinh tế trọng điểm của quốc gia như: điện lực, dầu khí, bưu chính viễn thông, than và khoáng sản,… bởi vì đây là các ngành, lĩnh vực mà tư nhân và các thành phần kinh tế khác không muốn đầu tư hoặc khó thể thực hiện được do hạn chế về năng lực tài chính hoặc kinh nghiệm quản lý. Do đó, hoạt động của các tập đoàn này không chỉ tác động và đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế xã hội mà còn là một trong những công cụ điều tiết hiệu quả kinh tế vĩ mô của Chính phủ. Việc điều hành các tập đoàn kinh tế cùng tham gia vào việc kìm chế lạm phát trong năm 2008 là một minh chứng sinh động. Đây có lẽ là đặc trưng rất cơ bản và rõ nét nhất của các tập đoàn kinh tế Việt Nam hoạt động theo mô hình Công ty mẹ – Công ty con so với các tập đoàn tư bản nước ngoài và các tập đoàn kinh tế tư nhân. – Quy mô và khả năng tích tụ vốn của các Tập đoàn kinh tế Việt Nam còn hạn chế, phạm vi hoạt động nhỏ hẹp . Kinh nghiệm quốc tế cho thấy tập đoàn chỉ được hình thành và có điều kiện phát triển khi đã đạt tới trình độ nhất định về khả năng tích tụ và tập trung vốn, tài sản và quá trình tập trung hoá về SXKD, tích tụ, tập trung vốn và tài sản của các Tổng công ty 91 được chuyển đổi thành các tập đoàn kinh tế (Điện lực, Bưu chính viễn thông, Than,…) tuy có trình độ cao hơn và quy mô lớn hơn so với các Tổng công ty khác nhưng vẫn được đánh giá là chậm và yếu so với các nước trong khu vực và chưa tương xứng với yêu cầu hình thành các tập đoàn kinh tế. Chẳng hạn so sánh với quốc gia láng giềng, có điều kiện và con đường hình thành tập đoàn kinh tế giống Việt Nam là Trung Quốc, thì thấy rằng Trung Quốc có 503 tập đoàn nhà nước có công ty mẹ là xí nghiệp quốc hữu, đã có tới 3 tập đoàn trong danh sách 500 tập đoàn lớn nhất thế giới về vốn và doanh thu, tài sản trung bình của một tập đoàn kinh tế là 12,4 tỷ nhân dân tệ, tương đương khoảng 24.800 tỷ đồng Việt Nam. Trong khi đó tại Việt Nam chỉ có 3 Tổng công ty là Tổng công ty Điện lực, Tổng công ty Dầu khí và Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam là có tổng tài sản vượt mức trung bình này của Trung Quốc. Nếu so với quy mô vốn các một số tập đoàn của một số nước trong khu vực và trên thế giới thì các tập đoàn kinh tế nước ta có số vốn còn quá khiêm tốn. Đồng thời, trong khi phạm vi hoạt động của các tập đoàn kinh tế khác hầu như dàn trải khắp toàn cầu, các khu vực Công ty đa quốc gia

17

Nhóm: 07

HP: Tài chính quốc tế Vũ

GVHD: TS. Nguyễn Ngọc

kinh tế thì phạm vi các hoạt động của các tập đoàn kinh tế giới hạn trong lãnh thổ Việt Nam, mặc dù có một số tập đoàn đã thực hiện đầu tư hoặc xuất khẩu ra nước ngoài nhưng tỷ trọng còn nhỏ bé. – Hợp tác và liên kết kinh doanh giữa các đơn vị trong Tập đoàn kinh tế chưa cao, chưa thể hiện được bản chất kinh tế của Tập đoàn kinh tế. Bản chất các tập đoàn kinh tế Việt Nam là các tổng công ty Nhà nước thực hiện chuyển đổi trong đó liên kết trong các Tổng công ty chuyển đổi sang tập đoàn kinh tế chưa phù hợp với liên kết trong tập đoàn kinh tế. Trong các tổng công ty quan hệ giữa các đơn vị thành viên hầu hết là mang tính hành chính, sự chi phối của tổng công ty đối với đơn vị thành viên cũng vẫn mang tính hành chính mà chưa thực sự dựa trên cơ sở quan hệ lợi ích kinh tế và tự nguyện theo nguyên tắc thị trường. Sự điều hành, chi phối của tổng công ty đối với các đơn vị thành viên không hiệu quả, ví dụ, các tổng công ty hầu như chưa thực hiện được chức năng điều hoà vốn hợp lý giữa các đơn vị thành viên: tập trung vốn nhàn rỗi của các DN thành viên thừa vốn cho các đơn vị thành viên thiếu vốn vay… Đồng thời, quan hệ về đầu tư vốn và tài chính, thị trường, phân công chuyên môn hoá, nghiên cứu và phát triển giữa các đơn vị thành viên trong tổng công ty chưa thực sự chặt chẽ và rõ nét đặc trưng quan hệ giữa các DN thành viên trong tập đoàn kinh tế. – Trình độ tổ chức quản lý – đặc biệt là quản lý tài chính còn hạn chế để đáp ứng yêu cầu quản lý đối với tập đoàn kinh tế. Trong các tổng công ty Nhà nước- đơn vị tiền thân của các tập đoàn kinh tế Việt Nam do chưa thực hiện phân tách rõ ràng giữa quyền sở hữu hoặc đại diện sở hữu và quyền điều hành DN do đó chưa có sự chuyên môn hoá và chuyên sâu trong công tác quản lý. 2. Vai trò và xu hướng phát triển của các tập đoàn kinh tế Việt Nam. Các tập đoàn kinh tế Việt Nam hiện nay đóng một vai trò lớn trong việc bình ổn giá cả, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững 2.1. Tập đoàn kinh tế giữ vững vai trò trụ cột trong nền kinh tế, công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) giữ bình ổn giá các mặt hàng thiết yếu như: phân đạm, khí hóa lỏng, điện. Với nguồn thu chiếm 25% – 30% ngân sách, việc chi phối ngành Công ty đa quốc gia

18

Nhóm: 07

HP: Tài chính quốc tế Vũ

GVHD: TS. Nguyễn Ngọc

19

Nhóm: 07

HP: Tài chính quốc tế Vũ

GVHD: TS. Nguyễn Ngọc

20

Nhóm: 07

Mnc Là Gì ? 10 Công Ty Đa Quốc Gia Nổi Tiếng Ở Việt Nam

MNC là viết tắt của từ tiếng Anh Multinational corporation, dịch ra là công ty đa quốc gia. Đây chính là khái niệm để chỉ một doanh nghiệp sản xuất hay cung cấp dịch vụ ở ít nhất hai nước trở lên.

Thông thường, những công ty đa quốc gia lớn có ngân sách vượt cả ngân sách của nhiều quốc gia. Những công ty đa quốc gia cũng sẽ có ảnh hưởng lớn đến mối quan hệ quốc tế và nền kinh tế của các quốc gia.

Quá trình ra đời và phát triển công ty đa quốc gia

Công ty đa quốc gia MNC gắn liền với sự ra đời và phát triển của sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa. Ở thời kỳ đầu cạnh tranh tự do của chủ nghĩa tư bản, mục đích lợi nhuận cùng sự phát triển sản xuất đều làm tăng yêu cầu về thị trường nhiên liệu, thị trường lao động, thị trường hàng hóa và thị trường tài chính.

Những yêu cầu đó thúc đẩy sự tăng trưởng khai thác, đồng thời mở rộng hoạt động kinh doanh sang các nước khác. Bên cạnh đó, sự cạnh tranh quyết liệt cùng hướng nhiều công ty trong nước đi tìm lợi nhuận trong thị trường bên ngoài.

Việc đi từ hợp tác đơn giản đến liên kết sâu sắc trong giới công thương tư bản đã thúc đẩy sự mở rộng này. Trên cơ sở ấy, những tổ chức kinh doanh quốc tế cũng từ đó mà xuất hiện và phát triển lên.

Những MNC thực sự hình thành và phát triển mạnh trong thời kỳ chủ nghĩa đế quốc. Ở thời kỳ này, quá trình tụ tập tư bản, tập trung sản xuất, liên kết giữa giới tài chính và giới công thương đã cho ra đời hàng loạt các tập đoàn sản xuất kinh doanh lớn theo xu hướng độc quyền.

Sự cạnh tranh tự do trong thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản với sự thôn tính cá lớn nuốt cá bé cũng tạo điều kiện cho sự hình thành những tổ chức kinh doanh độc quyền lớn.

Điểm đáng chú ý chính là sự cạnh tranh và xu hướng độc quyền diễn ra mạnh mẽ cả trên thị trường trong và ngoài nước, vậy nên càng gia tăng tính quốc tế cho những doanh nghiệp này.

Sự nổi lên của những công ty độc quyền mạnh mẽ và sự vươn lên ra thế giới là nhờ một phần không nhỏ sự kết hợp chặt chẽ giữa quyền lực kinh tế với quyền lực chính trị của nhà nước tư bản chủ nghĩa.

Sau chiến tranh thế giới thứ 2, sự phát triển của nền kinh tế thế giới, nhu cầu tăng trưởng quan hệ kinh tế quốc tế và sự hợp tác chính trị giữa các tư bản chủ nghĩa đã tạo điều kiện cho sự phát triển tiếp tục của các MNC, đặc biệt là trong thế giới tư bản. Nhiều MNC đã ra đời và phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ này.

Ngoài việc nắm giữ các lĩnh vực kinh tế trọng yếu, năng lực tài chính, khoa học kỹ thuật thì sự phát triển của các công ty đa quốc gia còn ở sự mở rộng kinh doanh ra khắp thế giới tư bản.

Vai trò của các doanh nghiệp này trong quan hệ quốc tế cũng vì vậy mà tăng lên không ngừng, góp phần lớn vào việc tăng trưởng các dòng đầu tư nước ngoài, thúc đẩy thương mại xuyên quốc gia và mở rộng phân công lao động quốc tế.

Điều đặc biệt đó là sự thay đổi cách nhìn nhận MNc ở tại các nước tư bản chủ nghĩa đã góp phần đáng kể vào sự mở rộng hoạt động kinh doanh quốc tế của các nước MNC.

MNC ngày càng được coi là công cụ để phát triển, là sự tạo công ăn việc làm, là nguồn thuế thu, là sự khắc phục về vốn, kỹ thuật, công nghệ và kinh nghiệm làm ăn quốc tế.

Bởi vậy, các nước đều mở cửa thị trường, khuyến khích FDI và thậm chí còn cạnh tranh với nhau trong việc thu hút MNC. Nhờ vậy, các MNC đã bành trướng khá nhanh và mở rộng vai trò trong đời sống quốc tế.

Sau khi chiến tranh lạnh, MNC đã có sự phát triển bất ngờ với số lượng tăng lên gấp đôi. Đầu thập kỷ 1990 chỉ có khoảng 37.000 công ty, tuy nhiên đến năm 2004 đã tăng lên đến 70.000.

Đồng thời, mức độ quốc tế hóa của chúng cũng được phát triển chưa từng thấy, số lượng các chi nhánh nước ngoài tăng lên gần bốn lần, từ 170 ngàn đầu thập kỷ 1990 đến 690 ngàn vào năm 2004.

Một điểm đáng chú ý đó là MNC không có độc quyền của các nước phát triển hàng đầu mà nó còn có ở những quốc gia có nền kinh tế đang phát triển hay mới nổi. Song, quy mô và tài chính của các MNC này vẫn còn rất khiêm tốn. Các MNC cũng là người nắm giữ hầu hết vốn đầu tư nước ngoài.

Các MNC thực hiện hơn 80% thương mại thế giới. Những MNC chi phối hầu hết các ngành công nghiệp và dịch vụ quan trọng của thế giới.

Ngoài ra, các MNC này cũng giữ số lượng lớn công nghệ tiên tiến và quá trình chuyển giao công nghệ. Những MNC này vẫn tiếp tục nằm trong trung tâm của sự phát triển.

Thế và lực của MNc tiếp tục phát triển trong các năm gần đây với xu hướng sáp nhập và thu nhận để hình thành các tập đoàn lớn, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế quan trọng như truyền thông, ngân hàng-tài chính, giao thông vận tải…

Toàn bộ những điều đó đã góp phần đẩy mạnh vai trò của MNC đối với những quốc gia và quan hệ quốc tế.

Phân loại, ưu điểm, nhược điểm của công ty đa quốc gia

Phân loại công ty đa quốc gia

Các MNC có thể phân loại làm ba nhóm lớn theo cấu trúc phương tiện sản xuất như sau:

+ Công ty đa quốc gia theo chiều ngang chuyên sản xuất các sản phẩm cùng loại hay tương tự như những quốc gia khác. Ví dụ như McDonalds.

+ Công ty đa quốc gia theo chiều dọc có cơ sở sản xuất tại một số nước nào đó. Các đơn vị này sản xuất ra sản phẩm là đầu vào cho sản xuất của nó ở một số nước khác. Chẳng hạn như Adidas.

+ Công ty đa quốc gia đa chiều với cơ sở sản xuất ở các nước khác nhau mà chúng hợp tác theo cả chiều ngang và chiều dọc. Chẳng hạn như Microsoft.

Ưu điểm của công ty đa quốc gia

Công ty đa quốc gia có một số lợi thế nhất định khi thiết lập hoạt động kinh doanh quốc tế. Chẳng hạn như một công ty ở Mỹ có mặt ở một số quốc gia nước ngoài như Trung Quốc sẽ đáp ứng được nhu cầu sản phẩm của Trung Quốc cho sản phẩm của họ mà không cần phải tốn kém chi phí vận chuyển đường dài.

Những tập đoàn này cũng có xu hướng thiết lập hoạt động tại các thị trường, vốn là nơi mà họ hoạt động hiệu quả nhất hay tiền lương thấp nhất. Bẳng giải pháp sản xuất cùng một chất lượng hàng hóa với chi phí thấp hơn, các công ty đa quốc gia sẽ giảm giá và tăng sức mua của người tiêu dùng trên toàn thế giới.

Khi những công ty đa quốc gia được thành lập ở nhiều nước khác nhau, họ có thể tận dụng được các biến thể về thuế bằng cách đặt trụ sở doanh nghiệp của mình ở một quốc gia khác nơi có thuế suất thấp, ngay cả khi hoạt động của nó được tiến hành ở nơi khác.

Nhược điểm của công ty đa quốc gia

Việc thiết lập hoạt động kinh doanh ở nước ngoài có thể gây ra một số hậu quả. Cụ thể như việc làm ở trong nước sẽ bị chuyển đi nước ngoài.

Dữ liệu từ Cục thống kê lao động BLS cho thấy từ năm 2001 đến năm 2010, Hoa Kỳ mất đi 33% công việc sản xuất (5.8 triệu việc làm).

Như vậy có thể thấy rằng bên cạnh những lợi ích to lớn mà công ty đa quốc gia nhận được thì nó vẫn còn tồn tại đâu đó nhược điểm, mà lớn nhất đó là thất thoát lượng việc làm ở trong nước.

10 công ty đa quốc gia ở Việt Nam

Đây là công ty đa quốc gia chuyên sản xuất các mặt hàng tiêu dùng như mỹ phẩm, hóa chất giặt tẩy, dầu gội, thực phẩm kem đánh răng,… Unilever là công ty đa quốc gia của Anh và Hà Lan, hiện tại đơn vị này có khá nhiều chi nhánh và công ty con, sử dụng lực lượng lao động lớn khoảng 200 ngàn nhân công.

Theo thống kê, Unilever có đến 400 nhãn hàng nổi tiếng như OMO, Knorr, Comfort, Vaseline, Ponds, Surf, Lux, Dove, P/S, Signal, Close Up,…

Tại Việt Nam, Unilever cũng có chi nhánh, và đây là một doanh nghiệp có chế độ lương bổng, chính sách nhân sự tốt nhất ở Việt Nam hiện nay. Môi trường làm việc ở nơi này vô cùng chuyên nghiệp, cởi mở, cơ hội thăng tiến cũng khá tốt.

Nhân viên được trợ cấp và phúc lợi đầy đủ như trợ cấp đi lại, công tác, các chế độ bảo hiểm, hưu trí, chế độ cho nhân viên đi học tập ở nước ngoài,… Unilever quả thực là một môi trường làm việc mà rất nhiều người ao ước.

P&G cũng là một tập đoàn hóa mỹ phẩm nổi tiếng trên thế giới có trụ sở chính ở Mỹ. Tổng giám đốc của P&G Việt Nam chính là ông Emre Olcer. Doanh nghiệp này có môi trường làm việc với chính sách vô cùng cởi mở, sáng tạo.

Công ty có sự quan tâm đặc biệt với sự phát triển của những tài năng trẻ ở Việt Nam bằng phương pháp tạo ra cho người lao động môi trường làm việc tốt nhất, để sớm mang lại thành công.

P&G luôn chú trọng vào việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp. Từ đó mang lại môi trường làm việc lý tưởng, năng động, sáng tạo, vui vẻ, tạo điều kiện để các nhân viên có thể phát huy hết được khả năng và sức sáng tạo của mình.

IBM là từ viết tắt của International Business Machines, đây là một tập đoàn công nghệ máy tính đa quốc gia của Mỹ có trụ sở ở Armonk, New York. IBM rất quan tâm đến việc đảm bảo lợi ích công bằng của các nhân viên, kể cả các nhân viên thấp nhất.

Lương cơ bản của nhân viên công ty này rất cao, bên cạnh đó chế độ thưởng tương ứng với các thành tích kinh doanh vô cùng hậu hĩnh.

Hiện tại, IBM đã có hơn 350 ngàn nhân viên và trở thành công ty tin học lớn nhất trên thế giới. Doanh nghiệp này cũng mạnh dạn đầu tư khoảng 1700 USD để đào tạo các kỹ năng trong công việc cho mỗi nhân viên mới.

Hiện tại, Microsoft chính là hãng sản xuất phần mềm lớn nhất thế giới, đồng thời cũng là một trong những quốc gia có giá trị lớn nhất thế giới.

Các chính sách tuyển chọn nhân viên của Microsoft có phần khá nghiêm ngặt. Kiến thức và năng lực trong công việc không là chưa đủ, công ty này còn yêu cầu nhân viên phải có trí thông minh, sự sáng tạo.

Đồng nghĩa với việc nhân viên cũng sẽ được làm việc trong một môi trường năng động, có trang bị hệ thống thiết bị và công nghệ hiện đại, giúp phát huy tối đa hiệu quả của team work. Vì thế, các nhân viên có thể làm việc ở mọi nơi, mọi lúc, phát huy hết được sự sáng tạo và tiềm năng của mình ở trong công việc.

Được thành lập vào năm 1965, PepsiCo, Inc. chính là công ty thực phẩm đa quốc gia của Mỹ. Doanh nghiệp này có trụ sở đặt tại Purchase, New York. Tính từ năm 2006 đến nay, Indra Krishnamurthy Nooyi là giám đốc điều hành của PepsiCo. Hiện công ty cũng có khoảng 274 ngàn người lao động và doanh thu lên đến 67 triệu USD.

Môi trường làm việc tại Pepsico Foods ở Việt Nam cũng là điều mà rất nhiều người lao động đang mơ ước. Bên cạnh lương cứng, các nhân viên còn được hưởng các khoản trợ cấp hậu hĩnh. Công ty xem xét thưởng hàng năm cho nhân viên tùy vào năng lực. Bên cạnh đó, Pepsico Foods còn rất chú trọng đến việc xây dựng môi trường làm việc tốt nhất cho nhân viên, luôn đáp ứng nhu cầu và tôn trọng nhân viên, qua đó giúp mọi người có cơ hội để phát triển bản thân, cống hiến hết năng lực của mình.

AbbottAbbott (Abbott Laboratories)

AbbottAbbott là một trong những thương hiệu lớn mang tính ảnh hưởng toàn cầu về y tế, sức khỏe và dinh dưỡng. Đặc biệt, doanh nghiệp này còn có trụ sở ở tại Lake Bluff, Illinois, Mỹ.

Tạp chí Fortune đã bình chọn Abbott là một trong những công ty đáng ngưỡng mộ nhất thế giới, vì vậy công ty này thu hút được một lượng lớn nhân tài ở Việt Nam.

Đội ngũ nhân viên của Abbott luôn được quan tâm và tạo điều kiện tối đa để phát triển năng lực thông qua những khóa học kỹ năng lãnh đạo cùng những chính sách khen thưởng để khuyến khích sự sáng tạo.

Bên cạnh đó, Abbott còn có nhiều chương trình tuyển dụng sinh viên mới ra trường, chẳng hạn như Professional and Management Development Program hay Leadership Training.

Năm 1996, công ty Honda Việt Nam được thành lập trên cơ sở liên doanh giữa 3 công ty là Công ty Honda Motor của Nhật Bản, Công ty Asian Honda Motor của Thái Lan và Tổng Công ty Máy Động Lực và Máy Nông nghiệp Việt Nam.

Hai sản phẩm chính được sản xuất là xe máy và xe ô tô. Trải qua 20 năm có mặt trên thị trường Việt Nam, Honda đã không ngừng phát triển và trở thành công ty hàng đầu trong việc sản xuất xe máy và sản xuất ô tô có tiếng ở thị trường Việt Nam.

Honda giải quyết việc làm cho hơn 10 ngàn người Việt, đem đến cho khách hàng các sản phẩm chất lượng cao, dịch vụ uy tín và đóng góp một phần quan trọng vì một xã hội giao thông lành mạnh.

Uber là một công ty hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh mạng lưới giao thông vận tải và taxi dựa trên ứng dụng smartphone để kết nối hành khách với tài xế.

Trước khi biến mất khỏi thị trường, Uber có trụ sở tại San Francisco, California và có mặt hơn 500 thành phố khác nhau trên thế giới. Uber chính thức rút khỏi Đông Nam Á trong đó có Việt Nam từ đầu tháng 4/2018, Sự ra đi của Uber cũng làm nhiều người không khỏi tiếc nuối.

Nestlé S.A là từ viết tắt của Société des Produits Nestlé S.A. Đây là một công ty thực phẩm và giải khát lớn nhất thế giới hiện nay có trụ chính ở Vevey, Thụy Sĩ.

Nhìn chung, các sản phẩm của Nestlé khá đa dạng và phong phú, không chỉ có nước khoáng, thực phẩm cho trẻ em mà còn có cà phê, các sản phẩm từ sữa.

Ở Việt Nam, Nestlé mang đến cho người lao động một môi trường làm việc tuyệt vời, để họ có thể học hỏi, khẳng định giá trị của bản thân, phát triển sự nghiệp, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống của bản thân và gia đình.

Bên cạnh đó, hằng năm Nestlé còn tổ chức các chương trình quản trị viên tập sự, mang đến cơ hội nghề nghiệp lớn cho các bạn sinh viên.

Samsung được Lee Byung Chul thành lập vào năm 1938 và có trụ sở chính tại Samsung Town, Seoul, Hàn Quốc. Đây là tập đoàn lớn nhất của Hàn Quốc và có lợi ích trong lĩnh vực xây dựng, điện tử, hóa học, tài chính và nhiều ngành khác.

Chỉ tính riêng cá lĩnh vực kinh doanh công nghệ thì doanh thu đã lên đến 163 tỷ USD. Giá trị của thương hiệu Samsung ở khoảng 45 tỷ USD, lớn hơn cả giá trị thương hiệu quốc gia của đất nước Croatia chỉ (chỉ ở mức 32 tỷ USD).

Hiện nay, Samsung đã đầu tư xây dựng vào thị trường Việt Nam với các nhà máy lớn ở Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hà nội, nó mang đến việc làm cho hàng ngàn người lao động và có mức thu nhập khá cạnh tranh.

Thật không quá chút nào khi nói Samsung là một môi trường làm việc lý tưởng đáng mơ ước của rất nhiều người Việt.

Công Ty Đa Quốc Gia Là Gì? Mnc Và Những Thông Tin Cần Biết Về Mnc

– Theo tiếng Anh: Công ty đa quốc gia (MNC) có tiếng Anh là Multinational Corporation.

– Theo tiếng Việt: MNC là một khái niệm cho các công ty sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ tại ít nhất hai quốc gia.

Các công ty đa quốc thường hay sở hữu nhà máy cùng văn phòng thuộc hai khu vực khác nhau đồng thời có chung một trụ sở, họ điều phối toàn bộ hoạt động kinh doanh chung trong công ty.

Một số người cho rằng Templar, được thành lập vào năm 1118, là công ty đa quốc gia đầu tiên gia nhập lĩnh vực ngân hàng vào năm 1135, nhưng điều này hiện tại vẫn chưa chính thức được các thực lại.

MNC là gì? Các doanh nghiệp đa quốc gia có thể được chia thành 3 nhóm chính thông qua cấu trúc của những phương tiện sản xuất.

Công ty đa quốc gia theo chiều ngang: sản xuất các sản phẩm tương tự hoặc cùng loại ở các quốc gia khác nhau (ví dụ: Mcdonald, KFC …)

Các doanh nghiệp đa quốc gia theo chiều dọc: các cơ sở sản xuất tại một quốc gia sản xuất các sản phẩm là đầu vào được sử dụng để sản xuất ở các quốc gia khác (ví dụ: công ty Adidas, công ty Nike)

Các công ty đa quốc gia đa hướng: Có các cơ sở sản xuất ở các quốc gia khác nhau hợp tác theo chiều ngang và chiều dọc (ví dụ: công ty Microsoft).

Việc làm nhân viên sản xuất Lợi thế:

Việc hình thành nên những công ty đa quốc gia sẽ đem lại những lợi thế nhất định. Ví dụ, một công ty Mỹ được đặt ở nước ngoài như Nhật Bản sẽ đáp ứng nhu cầu về các sản phẩm Nhật Bản mà không phải trả chi phí vận chuyển đường dài.

Các công ty có xu hướng định cư tại các thị trường nơi vốn của họ là hiệu quả nhất hoặc mức trả lương cho nhân viên thấp nhất. Bằng cách sản xuất cùng chất lượng sản phẩm với chất lượng rẻ hơn, những công ty đa quốc gia có thể giảm giá thành và thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của mình một cách hiệu quả nhất.

Được thành lập ở nhiều quốc gia, một công ty đa quốc gia có thể tận dụng các thay đổi về thuế bằng cách thành lập ở một quốc gia nơi có mức thuế thấp – ngay cả trong trường hợp hoạt động của nó diễn ra ở một nơi khác.

Hạn chế:

Hạn chế lớn nhất mà các công ty đa quốc gia sẽ gặp phải chính là việc làm trong nước của họ sẽ được chuyển ra nước ngoài. Dữ liệu từ Cục Thống kê Lao động (BLS) cho thấy từ năm 2001 đến 2010, Hoa Kỳ đã mất khoảng 33% sản lượng sản xuất ( ~ khoảng 5,8 triệu việc làm).

Các công ty đa quốc gia tin rằng yếu tố cơ bản của họ là giá trị cổ đông. Do đó, mục tiêu của các công ty đa quốc gia là tối đa hóa sự giàu có của các cổ đông. Để đạt được điều này, công ty phải cố gắng cung cấp lợi ích tốt nhất cho các cổ đông, điều này dẫn đến giá trị của cổ phiếu và cổ tức ở mức rủi ro vừa phải, hoặc đồng nghĩa với việc công ty sẽ giúp cho các cổ đông gặp ít rủi ro và luôn nhận được mức lợi ích nhất định.

Đây chính là hoạt động tương tác của công ty mẹ với công ty con hay giữa các ty con có trong cùng công ty mẹ. Do quy mô hoạt động rộng lớn và trải rộng trên một khu vực địa lý rộng lớn, bao gồm nhiều quốc gia với nhiều chính sách và phong tục khác nhau, hoạt động chuyển giao nội bộ trong các công ty đa quốc gia rất đa dạng và đa dạng, kéo theo đó chính là số lượng đang gia tăng lên không ngừng. Do đó, cơ quan thuế ở mỗi quốc gia sẽ rất khó quản lý và kiểm soát. Những hoạt động này sẽ có tác động đáng kể đến chiến lược phát triển của các công ty đa quốc gia.

Căn cứ vào bản chất và đặc điểm từ những giao dịch nội bộ mà có thể chưa thành những nhóm chính như sau:

– Là những khoản vay giữa công ty con với công ty mẹ

Hiện nay các công ty đa quốc gia đang hoạt động cực kỳ mạnh mẽ trong thị trường Việt Nam và có dấu hiệu tăng lên không ngừng. Đơn cử rõ ràng nhất hiện nay chính là samsung và Intel.

Samsung gần đây đã công bố kế hoạch đầu tư thêm 1 tỷ USD vào Bắc Ninh thông qua dự án Samsung Display.Nếu được cơ quan quản lý chấp thuận, dự án này sẽ mang lại tổng vốn cam kết của Samsung cho Việt Nam lên tới 6,8 tỷ USD. Trước đó, Samsung cũng đã công bố kế hoạch đầu tư vào một cơ sở sản xuất điện tử tại công viên công nghệ tiên tiến nhất của Thành phố Hồ Chí Minh, trị giá hơn 1 tỷ USD.

Về phía Intel, nhà sản xuất chip lớn nhất thế giới gần đây đã công bố kế hoạch mở rộng dây chuyền sản xuất bộ xử lý máy tính để bàn của mình tại Thành phố Hồ Chí Minh. Quan trọng hơn, trước đó trong bức thư gửi chính quyền địa phương, Intel đã công bố quyết định đóng cửa nhà máy lắp ráp chip của mình tại Costa Rica để tập trung vào châu Á. Đây là một bước lớn trong việc cải thiện các hoạt động kinh doanh của tập đoàn này trên toàn cầu. Và Việt Nam chính là một trong những thị trường béo bở nhất để Intel đầu tư vào.

Tác động của các công ty đa quốc gia (mncs) đến Việt Nam là gì? Chắc chắn nước ta sẽ nhận được rất nhiều những lợi ích hấp dẫn có thể kể tới một vài điểm như sau:

Đầu tiên, khoảng 15% nhân viên có trình độ cao được tiếp cận với trình độ quốc tế khi làm việc trong những công ty nước ngoài. Trong tương lai, sẽ đào tạo một đội ngũ nhân viên hùng hậu để xây dựng đất nước. Một trong những quốc gia tận dùng điều này khá tốt có thể kể tới chính là Thái Lan.

Thứ hai, tác động đến công nghệ, biến công nghệ nước ngoài thành công nghệ Việt Nam, kích thích rất lớn sự hình thành của các trung tâm công nghệ lớn. Những ví dụ điển hình nhất chính là ở Nhật Bản và Hàn Quốc.

Thứ ba, tác động đến thị trường, cả trong nước và ngoài nước, là phần lớn kim ngạch xuất nhập khẩu của khu vực FDI, tạo ra khả năng cạnh tranh tốt so với các nước khác.

Ngoài ra, nó cũng tạo cơ hội cho người tiêu dùng thưởng thức các sản phẩm chất lượng cao. Thay đổi cách suy nghĩ và làm việc của người Việt Nam trong sản xuất và kinh doanh, có thể thuận lợi hòa nhập được với thị trường quốc tế.

Unilever chuyên sản xuất các mặt hàng tiêu dùng như mỹ phẩm, hóa chất giặt là, dầu gội, thực phẩm kem đánh răng; Đó là một công ty đa quốc gia đến từ Anh và Hà Lan. Unilever hiện tại nắm trong tay cực nhiều chi nhánh với số lượng lao động khoảng 200.000 người.

Với hơn khoảng 400 thương hiệu nổi tiếng nhất từ khi thành lập cho tới này. Hiện tại, Unilever có một chi nhánh đặt tại Việt Nam với chính sách đãi ngộ cùng lương bổng cực kỳ tốt. Với môi trường làm việc cực kỳ chuyên nghiệp, cởi mở và nhiều cơ hội thăng tiến, đây chính là nơi làm việc của rất nhiều người lao động tại Việt Nam hiện nay.

P & G cũng là một công ty mỹ phẩm nổi tiếng thế giới có trụ sở tại Hoa Kỳ. Được biết người đứng đầu của công ty chính là ông Emre Olcer. Đây là một nơi có môi trường làm việc với chính sách làm việc cực kỳ cởi mở và sáng tạo, công ty đặc biệt quan tâm đến việc phát triển tài năng trẻ của Việt Nam thông qua việc tạo ra ra môi trường làm việc cực kỳ tốt để nhân viên có thể phát triển. Công ty rất coi trọng việc tạo ra văn hóa doanh nghiệp để tạo ra một môi trường làm việc lý tưởng, năng động, sáng tạo và vui vẻ, tạo điều kiện cho nhân viên phát huy khả năng sáng tạo của chính mình nhất có thể.

IBM (viết tắt của International Business Machines) là một công ty công nghệ máy tính đa quốc gia của Mỹ có trụ sở chính nằm tại Armonk, New York. IBM rất quan tâm đến việc đảm bảo lợi ích công bằng cho nhân viên của mình, kể cả những nhân viên thấp nhất. Mức lương cơ bản của nhân viên trong công ty rất cao, ngoài chế độ thưởng tương ứng với thành tích. Hiện tại, IBM sử dụng hơn 350.000 người, trở thành công ty máy tính lớn nhất thế giới. Công ty đã mạnh dạn đầu tư gần 1.700 đô la để đào tạo kỹ năng làm việc cho mỗi nhân viên mới.

Việc làm nhân viên kỹ thuật máy tính

Microsoft được thành lập bởi Bill Gates và Paul Allen vào ngày 4 tháng 4 năm 1975, là một tập đoàn đa quốc gia của Mỹ có trụ sở tại Redmond, Washington. Microsoft có lĩnh vực hoạt động chính là phát triển, sản xuất và kinh doanh các sản phẩm về máy vi tính. Hiện tại, Microsoft là công ty phần mềm lớn nhất thế giới và là một trong những công ty có lợi nhuận cao nhất thế giới.

PepsiCo, Inc chính thức ra đời từ năm 1965, đây là một công ty đa quốc gia về thực phẩm của Hoa Kỳ có trụ sở tại Purchasing, New York. Người điều hành của công ty chính là ông Indra Krishnamurthy Nooyi. Hiện tại, công ty có khoảng 274.000 nhân viên và mức doanh thu hàng năm có thể kiếm được rơi vào khoảng 67 triệu đô la.

Tại Việt Nam, Pepsico Foods chính là môi trường làm việc lý tưởng cho người lao động. Ngoài mức lương cứng, nhân viên của công ty cũng nhận được chế độ đãi ngộ cực kỳ hào phóng. Công ty tặng thưởng hàng năm căn cứ vào năng lực của nhân viên. Ngoài ra, Pepsico rất coi trọng việc tạo môi trường làm việc tốt nhất cho nhân viên của mình, đồng thời đáp ứng nhu cầu và sự tôn trọng của mọi người, để mọi người có cơ hội phát triển và cống hiến tất cả khả năng của mình.