Top 7 # Lợi Ích Khi Gia Nhập Wto Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Lợi Ích Và Thách Thức Khi Việt Nam Gia Nhập Wto

Lợi ích

Khi tham gia vào WTO, chúng ta có thể thấy những ảnh hưởng lớn trên cả cấp vĩ mô và vi mô. Lợi ích lớn nhất mà Việt Nam thu được từ hội nhập là thị trường xuất khẩu thuận lợi cho Việt Nam mở rộng. Do VN được hưởng qui chế MFN vô điều kiện, theo đó hàng hóa Việt Nam sẽ được cạnh tranh bình đẳng với các đối thủ khác, không còn vướng nhiều rào cản về thuế và hạn ngạch như hiện nay nữa (Hiện nay, thương mại giữa các nước thành viên WTO chiếm tới 90% khối lượng thương mại thế giới). Từ đó sẽ tăng cường tiềm lực kinh tế thông qua việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài. Cụ thể:

– Hiệp định đa sợi MFA qui định bãi bỏ hạn ngạch nhập khẩu bằng số lượng đối với hàng dệt may.

– WTO qui định bãi bỏ hạn ngạch nhập khẩu bằng số lượng thay thế bằng thuế đối với sản phẩm gạo.

– WTO qui định mức thuế thấp đối với sản phẩm sử dụng nhiều lao động.

– Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng trong kinh doanh giữa các thành phần kinh tế. Khi gia nhập vào WTO và cam kết thực hiện các nguyên tắc tự do hóa thương mại giữa các thành phần kinh tế, giữa trong nước và nước ngoài, Việt Nam sẽ phải cải cách mạnh hơn các luật lệ sao cho phù hợp với thông lệ chung của quốc tế. Qua đó, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng và thông thoáng cho mọi thành phần kinh tế.

– Nền kinh tế Việt Nam sẽ ít bị tổn thương hoặc bị tấn công bởi những hành vi bảo hộ mậu dịch hoặc trừng phạt kinh tế của các quốc gia khác trong trường hợp có tranh chấp kinh tế, thương mại hay những lý do chính trị nào đó, thị trường cho hàng hóa của Việt Nam sẽ được mở rộng và ổn định hơn. Và do vậy, lợi ích từ thương mại quốc tế của chúng ta sẽ tăng.

– Tự do hóa giá cả nông sản sẽ có lợi cho các quốc gia sản xuất nông nghiệp. Bảo hộ giá nông sản của các quốc gia phát triển giảm xuống sẽ mở rộng hơn nữa thị trường nông sản của Việt Nam.

– Chi phí kinh doanh sẽ giảm vì hiện tại lĩnh vực dịch vụ là khu vực được Nhà nước bảo hộ nhiều nhất. Hậu quả là năng lực cạnh tranh và chất lượng dịch vụ kém và giá cao. Khi gia nhập vào WTO, độc quyền của những ngành này sẽ phải bãi bỏ, buộc các doanh nghiệp này phải cải cách, cắt giảm chi phí, nâng cao chất lượng và hạ giá dịch vụ, hiệu quả cho toàn nền kinh tế sẽ lớn hơn.

– Đời sống nhân dân được cải thiện.

Thách thức

Như vậy, lợi ích của Việt Nam khi gia nhập WTO khá rõ: “Việt Nam không thể tự bảo vệ mình trước sự bảo hộ của các nước khác khi nằm ngoài WTO”. Tuy nhiên gia nhập WTO không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cho mình mà doanh nghiệp phải đối mặt với những thách thức:

– Khi gia nhập WTO, Việt Nam phải trao qui chế tối huệ quốc, qui chế đối xử quốc gia cho các quốc gia thành viên khác của WTO, nghĩa là tiến hành giảm thuế quan và ràng buộc tất cả các dòng thuế, đồng thời phải dỡ bỏ các hàng rào phi thuế trong một thời gian nhất định. Mức độ cam kết giảm thuế phụ thuộc nhiều vào kết quả đàm phán đa phương và song phương đối với các mặt hàng cụ thể. Vì vậy cạnh tranh sẽ khốc liệt hơn ở thị trường nội địa.

– Toàn bộ thể chế kinh tế phải chuyển đổi nhằm thích ứng với sự phát triển nhanh chóng của quan hệ thương mại đầu tư, chuyển giao công nghệ, nếu không sẽ gặp khó khăn trước những đối thủ cạnh tranh hùng mạnh, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ không được bảo vệ khi xảy ra tranh chấp thương mại.

– Những thách thức trong lĩnh vực nông nghiệp thậm chí còn lớn hơn, do trên 75% dân số vẫn sống dựa vào nông nghiệp, trong khi đó diện tích canh tác bình quân trên một lao động thấp, phương thức canh tác lạc hậu nên giá thành nông sản nhìn chung sẽ cao hơn mặt bằng giá thế giới. Khi những rào cản thương mại được bãi bỏ hoặc giảm thiểu, nông sản nhập khẩu từ các nước phát triển với giá thấp sẽ gây sức ép lớn cho kinh tế nông thôn, nhiều đơn vị kinh doanh nông nghiệp có thể sẽ bị phá sản. Số người này sẽ di chuyển về thành phố, làm trầm trọng thêm tình trạng thất nghiệp.

– Hiện tại, cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là hàng gia công, chúng ta sẽ không được hưởng lợi khi gia nhập WTO, khi quy định qui tắc xuất xứ để hưởng ưu đãi là trị giá nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng hóa tại nước được hưởng phải thấp hơn 65%.

Có thể nói khi gia nhập vào WTO, Việt Nam nhận được nhiều lợi ích nhưng cũng đối mặt với nhiều thách đố . Nhưng về tổng thể những lợi ích dài hạn cho quốc gia chiếm ưu thế.

SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ 158 – THÁNG 12/2003

Công ty Luật Bắc Việt Luật P2802, tầng 28, tòa nhà Central Fied , Trung Kính, Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà nội Tel: 87696666-0386319999 Hotline: 0938-188-889 – 0913753918 chúng tôi – chúng tôi – www.sanduan.vn“HÃY NÓI VỚI LUẬT SƯ ĐIỀU BẠN CẦN”

Lợi Ích Của Kinh Tế Việt Nam Khi Gia Nhập Wto

Như vậy, hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập WTO tác động, ảnh hưởng đến tình hình hoạt động của các trường đại học, viện nghiên cứu nói chung và về lĩnh vực kế toán nói riêng bao gồm cả những yếu tố thuận lợi sau: – Chỉ sau hơn 10 năm Việt nam đã từng bước chuyển mình bằng việc thể chế hoá các định chế hệ thống pháp lý tạo điều kiện cho mọi tổ chức sẵn sàng hoà nhập và thách thức trong môi trường cạnh tranh. hệ thống pháp luật về kế toán- kiểm toán của Việt nam liên tục được phát triển và hoàn thiện. Bằng chứng là chúng ta đã ban hành các chuẩn mực về kế toán và kiểm toán phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và được quốc tế thừa nhận. Cho đến nay Việt nam đã ban hành được 27 chuẩn mực kế toán và 38 chuẩn mực kiểm toán đã bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động của mọi loại hình doanh nghiệp tạo điều kiện cho việc minh bạch số liệu , đồng thời cũng tạo môi trường đầu tư lành mạnh, từng bước thực hiện các cam kết hội nhập trong lĩnh vực kế toán – kiểm toán theo các Điều ước quốc tế mà Việt nam đã cam kết hoặc gia nhập. – Vị thế của kế toán và kiểm toán Việt nam ngày càng được đề cao khi Hiệp định khung về thừa nhận lẫn nhau ( MRA ) trong lĩnh vực kế toán và kiểm toán đã được ký kết giữa 10 nước ASEAN tại Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN lần thứ 10 vào tháng 8 năm 2011 vừa qua. Từ đây có thể khẳng định sứ mệnh và vai trò của lực lượng kế toán – kiểm toán ngày càng được đề cao trong xã hội , vì thế đòi hỏi của xã hội đối với những người làm nghề kế toán – kiểm toán ngày càng lớn và đó cũng là trọng trách của hoạt động đào tạo kế toán – kiểm toán trong các trường đại học và viện nghiên cứu hiện nay. Đồng thời, các trường đại hoc, viện nghiên cứu có chuyên ngành kế toán – kiểm toán sẽ có điều kiện mở rộng hợp tác liên doanh với các cơ sở của nước ngoài, qua đó có nhiều thuận lợi trong việc học tập, áp dụng kinh nghiệm, phương pháp nghiệp vụ, kỹ năng chuyên môn, công tác đào tạo, nghiên cứu nước ta có điều kiện tiếp cận và theo kịp trình độ tiên tiên của các nước trên thế giới. – Song hành với những thuận lợi thì có thì tiềm năng cơ bản của đào tạo kế toán hiện nay có thể dựa trên nền tảng nhu cầu của các khu vực kinh tế có quan hệ mật thiết đến hoạt động kế toán sau : + Về khu vực doanh nghiệp thì số lượng doanh nghiệp tăng trưởng nhanh chóng với hơn 500.000 doanh nghiệp đăng ký tại thời điểm cuối năm 2010, trong đó riêng năm 2010 số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là hơn 90.000 doanh nghiệp . + Thị trường chứng khoán phát triển với trị giá vốn hoá đến cuối năm 2009 chiếm 23,1% GDP + Các công ty kiểm toán Việt nam chỉ trong vòng hơn 10 năm từ năm 1998 đến năm 2011 phát triển với một tốc độ tăng trưởng bình quân 23% năm, đội ngũ chuyên nghiệp trong giai đoạn này là 20% năm. + Khu vực công phát triển nhanh chóng cùng với phát triển của hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước các cấp…

Đặc biệt để phát triển bền vững hơn nữa cần đổi mới chương trình đào tạo kế toán ở bậc đại học thiết nghĩ chúng ta cần quan tâm các vấn đề cơ bản sau đây: – Thực hiện phải khảo sát thị trường trước – Cần tổ chức họp mặt thường xuyên giữa nhà trường và các đơn vị sử dụng lao động kế toán – kiểm toán – Thu thập phản hồi từ các công ty tuyển dụng sinh viên – Hợp tác với các công ty trong cùng lĩnh vực thường xuyên tổ chức các chương trình hướng nghiệp – Các chương trình mời chuyên gia từ giỏi từ giới kinh doanh đến nói chuyện với sinh viên – Mối quan tâm của các doanh nghiệp khi sinh viên thực tập – Sử dụng công nghệ trong việc đổi mới nội dung giảng dạy tại các trường đại học – Chia sẻ kinh nghiệm về chương trình đào tạo kế toán quốc tế tại Việt nam với các trường đại học quốc tế đã có mặt tại Việt nam. Website: www.gec.edu.vn

Việt Nam Gia Nhập Wto Năm Nào

Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức WTO, đây được coi là một bước ngoặt trọng đại và một khởi đầu đầy tốt đẹp từ năm 2007, mặc dù sự kiện này đã được biết trông đợi từ trước (năm 1995, Việt Nam đã chính thức xin gia nhập vào Tổ chức mậu dịch Thế Giới, hay còn được gọi với tên theo Anh ngữ là WTO).

Trước đó, Việt Nam đã kết thúc năm 2016 với rất nhiều thành công trong việc đàm phán gia nhập WTO và quan trọng hơn hết là đạt được những chỉ số kinh tế vĩ mô hơn cả sự mong đợi.

Vì sao việt nam gia nhập wto?

Mong muốn Việt Nam được gia nhập WTO cũng vì mục tiêu thúc đẩy tự do hàng hóa thương mại với thế giới, WTO có các hình thức hỗ trợ như: Giảm thuế quan, xóa bỏ những rào cản phi thuế quan ( hạn ngạch, cấp phép xuất nhập, khẩu), xóa bỏ đi trợ cấp, mở cửa thị trường kinh doanh với các nước, tạo một sân chơi bình đẳng cho hầu hết doanh nghiệp trong và ngoài nước, bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm, bảo đảm quyền trí tuệ và bản quyền sáng tạo.

Những quy định được WTO đưa ra, trên lý thuyết sẽ tạo một thuận lợi cho những nước thành viên mở rộng thị trường, thâm nhập sâu vào trong thị trường của các nước và tranh thủ vốn đầu tư, được nhận sự hỗ trợ từ công nghệ và kỹ năng quản lý của nước ngoài, được quyền tham gia đóng góp các “luật chơi” mới, được quyền xử lý những cạnh tranh thương mại, thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước nâng cao khả năng tư duy, phát triển, cạnh tranh, đem lại nhiều lợi ích cho người tiêu dùng.

Tất cả những lợi ích trên nước ta đều phấn đấu để trở thành thành viên của Tổ chức WTO. Hơn hết, nền kinh tế của nước ta chưa thực sự phát triển nên còn phụ thuộc đáng kể vào nền kinh tế từ thế giới ở cả đầu vào lẫn đầu ra. Ở đầu vào, vốn nước ngoài (trong đó có cả ODA lẫn FDI) chiếm tới 30% tổng số vốn đầu tư của toàn bộ xã hội. Còn ở đầu ra, kim ngạch xuất khẩu bằng khoảng trên dưới 60% trị giá GDP, nếu tính cả kim ngạch xuất, nhập khẩu thì đạt tới 132%.

Do đó, nếu muốn nền kinh tế phát triển hơn, ta cần tranh thủ những vốn đầu tư ở nước ngoài vào thị trường để tiêu thụ sản phẩm, nhất là sức mua của thị trường ở trong nước còn đang rất hạn chế. Nói sâu xa hơn thì việc trở thành thành viên của WTO là một điều tất yếu và khách quan, bởi sẽ đạt được nhiều lợi ích cho chính chúng ta, xong cũng chỉ là phương tiện để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế chứ không phải là mục đích tự thân.

Quá trình việt nam gia nhập wto

1 – 1995: Việt Nam chính thức nộp đơn xin gia nhập WTO. Ban chỉ đạo công tác xét duyệt hồ sơ gia nhập của Việt Nam được thành lập do Chủ tịch là ông Eirik Glenne, Đại sứ đến từ Na Uy tại WTO.

8 – 1996: Việt Nam nộp bị WTO đưa ra quyết định “Bị vong lục về chính sách thương mại”.

1996: Bắt đầu đàm phán hiệp đại thương mại song phương với nước Mỹ.

1998 – 2000: Thực hiện 4 phiên họp đa phương cùng với Ban Công tác về Minh bạch hóa những chính sách thương mại kể từ năm 7-1998, 12-1998, 7-1999 và 11-2000. Sau khi thực hiện xong 4 phiên họp này, Ban công tác của WTO đã đưa ra nhận xét Việt Nam cơ bản đã kết thúc quá trình minh bạch hóa chính sách và chuyển sang một giai đoạn đàm phán mở cửa thị trường.

7-2000: Ký kết chính thức BTA với Hoa Kỳ

12-2001: BTA đã đạt được hiệu lực

4-2002: Thực hiện phiên họp đa phương lần thứ 5 với Ban công tác. Chúng ta đã đưa ra bản chào đầu tiên về hàng hóa và dịch vụ. Tiếp đến thực hiệp đàm phán song phương.

2002 – 2006: Đàm phán song phương cùng với một vài thành viên có yêu cầu đàm phán, cùng với 2 mốc quan trọng.

10 – 2004: Chúng ta đã đàm phán song phương với EU( là đối tác quan trọng lớn nhất).

5-2006: Kết thúc phiên đàm phán song phương với Mỹ – đây là đối tác cuối cùng trong tổng 28 đối tác cần phải đàm phán.

26-10-2006: Kết thúc phiên đàm phán cuối cùng, Ban công tác đã chính thức thông qua giấy tờ sổ sách gia nhập WTO của Việt Nam.

11-1-2007: WTO đã chính thức nhận được sự phê duyệt chính thức của toàn quốc hội nước CHXHCN Việt Nam. Bắt đầu từ lúc này Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức WTO.

Lợi ích khi việt nam gia nhập WTO?

Tăng trưởng kinh tế khả quan

Nền kinh tế Việt sau khi gia nhập WTO được hơn 12 năm, mặc dù bị ảnh hưởng nhiều tác động từ khủng hoảng tài chính toàn cầu, những vấn đạt được mức kỳ vọng tăng trưởng bình quân là 6,29%/năm – thành tựu này vô cùng quan trọng.

Đổi thay thể chế chính sách kinh tế, thương mại đầu tư

WTO đã giúp chúng ta thay đổi một diện mạo khung khổ pháp lý, thể chế chính sách về kinh tế, thương mại, đầu tư, phát triển, cũng như phương thức quản lý kinh tế của Việt Nam.

Từ khi gia nhập, đã mở màn cho sự bùng nổ mới của khu vực doanh nghiệp tư nhân Việt Nam, đạt kỷ lục gần 60.000 doanh nghiệp mới đã được thành lập.

Điểm sáng xuất nhập khẩu, hút vốn FDI

Sau 10 năm Việt Nam gia nhập WTO, tổng kinh ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đã tăng vượt trội hơn 4 lần, vượt mốc 350 tỷ USD.

Tốc độ sản xuất nhập khẩu ngày một tăng nhanh chóng. Theo nhiều chuyên gia kinh tế, tốc độ tăng trưởng thương mại lớn là một điều rất đáng mừng, đây là một minh chứng cho nền kinh tế Việt Nam mở cửa đang rất phát triển.

Việt Nam Gia Nhập Wto, Cơ Hội Và Thách Thức

– 1998 – 2000: Tiến hành 4 phiên họp đa phương với Ban Công tác về Minh bạch hóa các chính sách thương mại vào tháng 7-1998, 12-1998, 7-1999, và 11-2000. Kết thúc 4 phiên họp, Ban công tác của WTO đã công nhận Việt Nam cơ bản kết thúc quá trình minh bạch hóa chính sách và chuyển sang giai đoạn đàm phán mở cửa thị trường.

– 1-1995: Việt Nam nộp đơn xin gia nhập WTO. Ban Công tác xem xét việc gia nhập của Việt Nam được thành lập với Chủ tịch là ông Eirik Glenne, Đại sứ Na Uy tại WTO (riêng từ 1998–2004, Chủ tịch là ông Seung Ho, Hàn Quốc)

– Từ đầu những năm 90 Việt Nam đã bắt đầu quá trình tham gia vào nền kinh tế thế giới

– 12-2001: BTA có hiệu lực

– – 4-2002: Tiến hành phiên họp đa phương thứ 5 với Ban Công tác. Việt Nam đưa ra Bản chào đầu tiên về hàng hóa và dịch vụ. Bắt đầu tiến hành đàm phán song phương.

- - 2002 – 2006: Đàm phán song phương với một số thành viên có yêu cầu đàm phán, với 2 mốc quan trọng:

– – 10-2004: Kết thúc đàm phán song phương với EU – đối tác lớn nhất

– – 5-2006: Kết thúc đàm phán song phương với Hoa Kỳ – đối tác cuối cùng trong 28 đối tác có yêu cầu đàm phán song phương.

– – 26-10-2006: Kết thúc phiên đàm phán đa phương cuối cùng, Ban Công tác chính thức thông qua toàn bộ hồ sơ gia nhập WTO của Việt Nam. Tổng cộng đã có 14 phiên họp đa phương từ tháng 7-1998 đến tháng 10-2006.

– – 7-11-2006: WTO triệu tập phiên họp đặc biệt của Đại Hội đồng tại Geneva để chính thức kết nạp Việt Nam vào WTO. Ngày 7/11/2006, Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển và Tổng giám đốc Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Pascal Lamy đã ký vào Nghị định thư gia nhập của Việt Nam kết thúc 11 năm tiến hành hàng loạt các cuộc đàm phán song phương, đa phương và tham vấn kể từ khi đệ đơn gia nhập vào năm 1995.

– – 11-1-2007 WTO nhận được được quyết định phê chuẩn chính thức của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam. Kể từ đây, Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ của WTO.

Lí do gia nhập WTO của Việt Nam cũng như của phần lớn các nước đang phát triển khác là để có động lực thúc đẩy xuất khẩu do phải cải thiện các điều kiện tham gia vào thị trường quốc tế. Cùng với việc mở rộng doanh số hàng nông sản và dệt may, Việt Nam cũng hi vọng thu hút thêm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Một lợi ích quan trọng nữa đối với Việt Nam, nhất là sau một số vụ kiện bán phá giá tại Hoa Kỳ (cá da trơn, tôm) và EU (xe đạp), chính là việc tiếp cận với cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO. Sau cùng, việc gia nhập cũng sẽ tạo ra động lực mạnh hơn cho những cải cách trong nước tiếp theo về định hướng thị trường

2. Cơ hội và thách thức của Việt Nam khi gia nhập WTO

11-1-2007, Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ của WTO. Sự kiện này mở ra cơ hội mới cho sự phát triển đất nước và cả những thách thức cần phải vượt qua khi VN được tham gia vào tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu.

Cơ hội

Một là: khi gia nhập WTO, Việt Nam được tiếp cận thị trường hàng hoá và dịch vụ ở tất cả các nước thành viên với mức thuế nhập khẩu đã được cắt giảm và các ngành dịch vụ, không bị phân biệt đối xử.

Hai là: Với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện công khai minh bạch các thiết chế quản lý theo quy định của WTO, môi trường kinh doanh của Việt Nam ngày càng được cải thiện.

Ba là: Gia nhập WTO, Việt Nam có được vị thế bình đẳng như các thành viên khác trong việc hoạch định chính sách thương mại toàn cầu, có cơ hội để đấu tranh nhằm thiết lập một trật tự kinh tế mới công bằng hơn, hợp lý hơn, có điều kiện để bảo vệ lợi ích của đất nước, của doanh nghiệp.

Bốn là: Việc gia nhập WTO, hội nhập vào nền kinh tế thế giới cũng thúc đẩy tiến trình cải cách trong nước, bảo đảm cho tiến trình cải cách của Việt Nam đồng bộ hơn, có hiệu quả hơn.

Năm là: Cùng với những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử sau 20 năm Đổi mới, việc gia nhập WTO sẽ nâng cao vị thế của ta trên trường quốc tế, tạo điều kiện cho Việt Nam triển khai có hiệu quả đường lối đối ngoại.

Thách thức

Một là: Cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn, với nhiều “đối thủ” hơn, trên bình diện rộng hơn, sâu hơn.

Hai là: Trên thế giới sự “phân phối” lợi ích của toàn cầu hoá là không đồng đều. Những nước có nền kinh tế phát triển thấp được hưởng lợi ít hơn. Ở mỗi quốc gia, sự “phân phối” lợi ích cũng không đồng đều. Một bộ phận dân cư được hưởng lợi ít hơn, thậm chí còn bị tác động tiêu cực của toàn cầu hoá; nguy cơ phá sản một bộ phận doanh nghiệp và nguy cơ thất nghiệp sẽ tăng lên, phân hoá giàu nghèo sẽ mạnh hơn. Điều đó đòi hỏi phải có chính sách phúc lợi và an sinh xã hội đúng đắn; phải quán triệt và thực hiện thật tốt chủ trương của Đảng: “Tăng trưởng kinh tế đi đôi với xoá đói, giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển”.

Ba là: Hội nhập kinh tế quốc tế trong một thế giới toàn cầu hoá, tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nước sẽ tăng lên. Trong điều kiện tiềm lực đất nước có hạn, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, kinh nghiệm vận hành nền kinh tế thị trường chưa nhiều thì đây là khó khăn không nhỏ.

Bốn là: Hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra những vấn đề mới trong việc bảo vệ môi trường, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá và truyền thống tốt đẹp của dân tộc, chống lại lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền.

 Nguồn: Bộ Tài Chính Việt Nam