Top 19 # Lợi Ích Nhóm Trong Kinh Tế / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Lợi Ích Nhóm Trong Nền Kinh Tế Việt Nam / 2023

Một dự án bất động sản lớn tại Hà Nội chụp hôm 04/10/2012

Một hình thức tham nhũng

Từ hồi tháng 10 năm ngoái, trong diễn văn bế mạc Hội nghị Trung ương lần thứ 3, ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhắc đến vấn đề lợi ích nhóm trong việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch và chính sách đầu tư ở Việt Nam.

Vấn đề lợi ích nhóm gần đây được nhắc đến ngày một nhiều. Mấy hôm trước đây, cụm từ này đã vang lên trong hội trường Quốc hội, khi Phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp, bà Lê Thị Nga đề cập đến ngành xăng dầu. Mỗi lần doanh nghiệp xăng dầu tăng, giảm giá đều có biểu hiện bắt tay ấn định giá, vi phạm luật cạnh tranh. Theo Phó Giáo sư Tiến sĩ Ngô Trí Long, nguyên Viện phó Viện Nghiên cứu thị trường giá cả, cụ thể vấn đề giá xăng dầu hiện nay như sau:

Vấn đề giá xăng dầu, Việt Nam hiện nay đang thực hiện theo Nghị định 84 của Chính phủ. Trong lãnh vực kinh doanh xăng dầu, vẫn còn là một loại thị trường độc quyền, 3 công ty chiếm thị phần gần 90%. Trong bối cảnh chưa có một thị trường cạnh tranh thực sự, Nghị định lại quy định để cho doanh nghiệp độc quyền tự định giá. Khi giá thế giới tăng cao thì các doanh nghiệp này yêu cầu tăng ngay. Khi giá thế giới giảm, đặc biệt là giảm rất sâu, thì các doanh nghiệp này chần chừ không giảm. Trước áp lực của công luận, các doanh nghiệp này buộc mới giảm và giảm nhỏ giọt. Trong thực tế hiện nay, biểu hiện của lợi ích nhóm trong kinh doanh xăng dầu thể hiện chỗ những tập đoàn này. Vì mục đích lợi nhuận, và do giữ vị thế độc quyền, các tập đoàn này không tăng giảm theo giá cả thế giới. Điều đó đang gây bất ổn về giá cả trong nền kinh tế thị trường.

Từ hình thức độc quyền kinh doanh, có doanh nghiệp lạm dụng đặc quyền tiến hành thống lĩnh thị trường. Biểu hiện của nhóm lợi ích chính là sự cấu kết, trục lợi từ tài nguyên quốc gia diễn ra ở nhiều nơi với tính chất, qui mô khác nhau. Trong nhiều ngành kinh doanh, thông tin lời lỗ biểu hiện mập mờ; thiếu trách nhiệm giải trình. Có thể xem các biểu hiện của lợi ích nhóm là một hình thức tham nhũng trong kinh doanh, quản lý điều hành. Theo Phó Giáo sư Ngô Trí Long, vấn đề lợi ích nhóm của Việt Nam có những biểu hiện như sau:

Biểu hiện của lợi ích nhóm là khi thông qua việc tạo dựng những cơ chế, chính sách; người ta lồng những ý đồ cá nhân của họ vào. PGS Ngô Trí Long

Theo Phó Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, vấn đề lợi ích nhóm của Việt Nam có những nguyên nhân đặc thù như sau:

Ở đây có câu chuyện thế này, 5 năm vừa rồi, sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Khi hội nhập vào môi trường toàn cầu hóa, những câu chuyện về kinh tế về môi trường vĩ mô trở nên bất ổn. Hiện tượng này thể hiện một trình độ thấp, mà khi nhập cuộc vào một thế giới hiện đại, trong khi bản thân lại không biết một tý nào. Cho nên những câu chuyện phát sinh ở Việt Nam, có một lý do rất là nổi bật mà ít người chú ý. Tức là ở trình độ thấp mà đi gia nhập vào một hệ thống cao. Trong khi điều kiện chuẩn bị chưa thực sự tốt, nên dễ phát sinh ra vấn đề. Hiện nay, đây chính là lý do cần phải nghiên cứu một cách nghiêm túc, để có những giải pháp đúng. Chứ không phải chỉ là vấn đề chủ quan đâu, vấn đề lợi ích nhóm còn có cơ sở khách quan. Ảnh hưởng kinh tế quốc gia

Buôn bán trong một khu chợ nhỏ phố cổ Hội An. AFP photo

Lợi nhuận đã tạo nên các nhóm lợi ích. Lợi ích nhóm là một tình trạng xã hội tồn tại khách quan. Tuy nhiên, hiện trạng lợi ích nhóm đang xung đột với lợi ích xã hội là một dạng lợi ích nhóm tiêu cực.

Việt Nam là một nền kinh tế đang chuyển đổi, cần đẩy mạnh hơn nữa những cải cách. Theo Phó Giáo sư Ngô Trí Long, nếu hiện tượng lợi ích nhóm tiếp tục được duy trì và phát triển, thì hiện tượng này sẽ gây ra những hậu quả khó khăn nhất định cho nền kinh tế quốc gia. Cụ thể là như sau:

Chắc chắn là sẽ gây những tổn thất rất lớn cho toàn bộ hoạt động của nền kinh tế. Tất yếu sẽ dẫn đến việc, toàn bộ của cải xã hội sẽ rơi vào tay họ. Cho nên, nếu mà không ngăn chặn triệt để; xử lý một cách nghiêm túc, kiên quyết thì một khi lợi ích nhóm phát triển sẽ gây những hệ lụy rất lớn cho nền kinh tế. Đặc biệt, những bất ổn của nền kinh tế sẽ gây thiệt hại lớn đến lợi ích của người dân lao động.

Vì quyền lợi cục bộ, các nhóm lợi ích có khi làm biến dạng cả nền kinh tế đất nước. Hệ quả là nguồn lực quốc gia không được phân bổ hiệu quả, bị lũng đoạn bởi các nhóm lợi ích khác nhau.

Xã hội đang cần một cơ chế duy trì sự cạnh tranh công bằng giữa các thành phần tham gia hoạt động kinh doanh, sản xuất. Theo Phó Giáo sư Trần Đình Thiên để ngăn chặn tình trạng lợi ích nhóm tiêu cực hiện nay, thì về mặt chính sách vĩ mô, cần phải áp dụng những biện pháp khả thi như:

Nếu mà không ngăn chặn triệt để; xử lý một cách nghiêm túc, kiên quyết thì một khi lợi ích nhóm phát triển sẽ gây những hệ lụy rất lớn cho nền kinh tế.PGS Ngô Trí Long

Thực tế vừa rồi, đưa ra những bài học rất là tốt. Tôi nói ví dụ như chuyện phân quyền, phân cấp. Mặc dù là phân quyền là để đi đến nâng cao trách nhiệm, nói chung là tốt, nhưng việc này phải gắn liền với điều kiện, năng lực. Vấn đề này phải tính cho kỹ hơn. Nếu không thì dễ trở thành là, việc phân ra nhiều quyền nhưng lại không đủ năng lực đáp ứng. Thứ hai là, nếu mà muốn tăng trưởng nhanh mà nguồn lực không tốt, rồi cứ đầu tư thật nhiều. Đến lúc không hoàn thành thì vừa làm chậm, đồng thời cũng tạo sơ hở trong việc quản lý. Bây giờ là phải làm như thế nào để cân đối giữa nỗ lực tăng trưởng nhanh, đầu tư mạnh nhưng phải phù hợp về tính khả thi, về các điều kiện nguồn lực phải bảo đảm. Thứ ba là năng lực quản trị ở tầng vi mô. Khâu này là khâu do Việt Nam chuyển sang kinh tế thị trường chưa lâu, rồi cạnh tranh cũng chưa phát triển. Cho nên năng lực quản trị ở các doanh nghiệp, các dự án chưa thực sự tốt.

Thực trạng kinh tế đang cần một khung pháp lý chặt chẽ để điều hòa các lợi ích trong xã hội. Tính công khai trong chủ trương điều hành, rất cần cho việc điều chỉnh hành vi của các nhóm lợi ích. Sự minh bạch, cơ chế giám sát nghiêm túc, công bằng là những công cụ cần thiết để ngăn chặn tình trạng lợi ích nhóm tiêu cực.

Nguồn: Nhân Khánh/ RFA

Lợi Ích Nhóm Trong Y Tế / 2023

   Kỳ 2: Mâu thuẫn ăn chia, người bệnh lãnh đủ

TN – Đầu tháng 8.2013, gần chục người mặc trang phục y bác sĩ cầm băng rôn phản đối trong khuôn viên Bệnh viện Thanh Nhàn, Hà Nội. Cách đó 5 tháng, giám đốc đương nhiệm bệnh viện này bị giang hồ vác dao truy sát đẫm máu.

Bệnh viện Thanh Nhàn, nơi xảy ra nhiều bất thường về xã hội hóa y tế – Ảnh: Hoàng Trang

Theo tìm hiểu của PV Thanh Niên, với hàng chục loại máy móc thiết bị của Công ty ĐY33 liên kết với BV Thanh Nhàn là tài sản không chỉ của doanh nghiệp mà còn là cổ phần của khoảng 60 bác sĩ đang làm việc tại BV Thanh Nhàn và Bạch Mai.

Giám đốc BV bị chém suýt chết

Ngày 9.8.2013, Tòa phúc thẩm TAND tối cao bác đơn kháng án, tuyên y án sơ thẩm đối với 4 bị cáo trong vụ truy sát ông Đào Quang Minh, Giám đốc BV Thanh Nhàn.

Theo hồ sơ, bản chất của vụ việc là do xung đột về lợi ích trong hoạt động xã hội hóa y tế. Theo đó, Nguyễn Quang Đạt nguyên là Giám đốc Công ty TNHH dịch vụ y tế (gọi tắt là Công ty ĐY33). Từ những năm 2005, Đạt là người đại diện pháp luật cho Công ty ĐY33 ký hợp đồng liên kết liên doanh với BV Thanh Nhàn về một số dịch vụ xe tang lễ và máy móc thiết bị khám chữa bệnh. Theo thỏa thuận giữa hai bên, đối với dịch vụ tang lễ, phía Công ty ĐY33 mua sắm ô tô và được hưởng 95% doanh thu, phần còn lại là của BV Thanh Nhàn. Đối với một số máy móc thiết bị khám chữa bệnh cũng do Công ty ĐY33 đầu tư được chia theo tỷ lệ 85% và 15%.

Năm 2011, ông Đào Quang Minh sau khi được bổ nhiệm làm Giám đốc BV Thanh Nhàn có chủ trương xem xét lại các hợp đồng liên doanh liên kết do người tiền nhiệm của mình ký kết trước đó. Khi hai bên không đạt được thỏa thuận nên dẫn đến mâu thuẫn. Cho rằng ông Minh cản trở, gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của mình nên Nguyễn Quang Đạt thuê một nhóm “sát thủ” ở Phú Thọ ra tay. Ngày 1.3.2013, ông Minh dẫn đầu đoàn công tác từ Hà Nội lên Thái Nguyên thì bị các đối tượng phục sẵn tại ngã ba Thạch Lỗi thuộc xã Thanh Xuân, H.Sóc Sơn, Hà Nội rồi dùng dao chém.

 Doanh nghiệp được 10, BV chưa được 1

Tìm hiểu của Thanh Niên, từ 2005-2010, BV Thanh Nhàn đã ký kết hợp đồng liên doanh liên kết với nhiều doanh nghiệp bên ngoài thực hiện xã hội hóa y tế. Riêng Công ty ĐY33, ngoài một số dịch vụ khác đã ký kết 3 hợp đồng liên doanh liên kết với BV Thanh Nhàn về máy móc chẩn đoán hình ảnh theo hình thức thuê máy. Với việc xã hội hóa này, toàn bộ thiết bị của ĐY33 lắp đặt khai thác đã tạo thành một đơn nguyên chẩn đoán hình ảnh kỹ thuật cao chiếm diện tích khoảng 300 m2 ở vị trí gần như đẹp nhất trong BV.

Theo phản ánh của một số bác sĩ tại BV Thanh Nhàn (đề nghị không nêu tên), khi ký kết hợp đồng trước đây, các lãnh đạo BV không hiểu vì lý do gì đã không tính đến cơ sở vật chất cũng như nguồn bệnh nhân của BV và cả khấu hao tài sản. Các hợp đồng được ký có thời hạn 10 năm, tức là những hợp đồng đến năm 2020 mới hết hạn, sau thời gian này thì toàn bộ máy móc vẫn thuộc về doanh nghiệp. Theo tìm hiểu của Thanh Niên, dù liên doanh liên kết hoành tráng nhưng hiệu quả thu được về cho BV rất khiêm tốn. Năm 2009, dựa trên con số tổng thu các ca bệnh, Công ty ĐY33 được chia hơn 5,5 tỉ đồng còn BV Thanh Nhàn chỉ được hưởng 972 triệu đồng. Sáu tháng đầu năm 2012, ĐY33 được chia hơn 5 tỉ đồng, còn BV Thanh Nhàn được chia 980 triệu đồng. Đáng chú ý, trong khoản được hưởng thì BV Thanh Nhàn còn chưa trừ đi số tiền lương phải trả cho 11 cán bộ nhân viên của BV được huy động sang làm việc tại mô hình liên doanh này.

Ngoài liên kết với Công ty ĐY33, năm 1998, BV Thanh Nhàn còn ký hợp đồng hợp tác khoa học kỹ thuật lọc thận nhân tạo với Công ty thương mại Đại Việt (thời hạn 15 năm), với tỷ lệ ăn chia cũng khập khiễng. Năm 2009, tổng thu của mô hình liên kết này là gần 9 tỉ đồng, nhà đầu tư được chia hơn 8,7 tỉ đồng còn phía BV được 170 triệu đồng. 6 tháng đầu năm 2012, tổng thu mô hình này là  4,9 tỉ, nhà đầu tư được hưởng hơn 4,8 tỉ đồng còn BV chỉ được hưởng… 44,5 triệu đồng!

Người bệnh lãnh đủ

Những bất đồng trong quan điểm và xung đột về lợi ích kinh tế trong xã hội hóa y tế ở BV Thanh Nhàn đã gây ra nhiều hệ lụy xã hội. Đầu tháng 8 mới đây, nhân viên ĐY33 đã căng băng rôn đứng trước điểm khám bệnh của BV Thanh Nhàn để đòi quyền lợi.

Nguyên nhân do sau khi tiến hành đàm phán về tỷ lệ ăn chia không được, từ ngày 1.8, BV Thanh Nhàn đã dừng toàn bộ dịch vụ liên kết với Công ty ĐY33. Phía ĐY33 lại cho rằng, các hợp đồng ký kết giữa hai bên còn có hiệu lực nhiều năm, việc BV Thanh Nhàn đơn phương chấm dứt hợp đồng là vi phạm pháp luật.

Từ chối tiếp phóng viên

Đáng chú ý, trong quá trình tìm hiểu sự việc này, PV Thanh Niên đã nhiều lần liên lạc để hẹn làm việc với lãnh đạo BV Thanh Nhàn, song bà Chu Thị Dự – Phó giám đốc cho rằng đây là vấn đề “nhạy cảm” nên không thể cung cấp thông tin cho báo chí. Tương tự, ông Đào Quang Minh, Giám đốc cũng nhiều lần cáo bận để từ chối không làm việc với PV.

(Còn tiếp)

Thái Sơn – Hoàng Trang

   

Lợi ích nhóm trong y tế

TN – Bên cạnh mặt tích cực của việc xã hội hóa dịch vụ y tế, thực tế cũng tồn tại nhiều mặt trái, bất bình thường mà không ít người cho rằng đó là hiện tượng bỏ rơi quyền lợi người bệnh để phục vụ lợi ích cho một nhóm người.

Điển hình và mới nhất là tại Bệnh viện đa khoa (BVĐK) Hoài Đức (H.Hoài Đức, TP.Hà Nội). Bên cạnh tố cáo gian lận xét nghiệm, nhiều bác sĩ còn tố cáo có những dấu hiệu lợi ích nhóm ở bệnh viện (BV) này.

  Minh họa: DAD

Máy công “đắp chiếu”, máy tư chạy “tẹt ga”

Theo tìm hiểu của PV Thanh Niên, tháng 12.2011 và tháng 8.2012, BVĐK Hoài Đức lần lượt tiếp nhận 3 thiết bị của Công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây (Công ty dược Hà Tây), gồm máy huyết học, máy phân tích nước tiểu và máy sinh hóa máu bán tự động. Trước đó, BV này đã được trang bị bằng ngân sách nhà nước 2 máy huyết học và 1 máy sinh hóa máu bán tự động mới 100%. Tuy nhiên, các máy của BV dù được coi là loại xịn, do Đức sản xuất không hiểu vì sao luôn trong tình trạng hoạt động tậm tịt và bị “đắp chiếu”.

Sự thiếu minh bạch trong việc mua sắm máy móc cho BV, để máy móc “đắp chiếu” cũng như việc cho Công ty dược Hà Tây lắp đặt máy và bán hóa chất là những biểu hiện của lợi ích nhóm gây ảnh hưởng đến cán bộ nhân viên trong BV cũng như quyền lợi của người bệnh, cần phải được làm rõ

Trích đơn nhóm cán bộ bác sĩ BVĐK Hoài Đức gửi cơ quan báo chí

Trong văn bản gửi Công ty dược Hà Tây vào tháng 11.2011, Giám đốc BVĐK Hoài Đức Nguyễn Trí Liêm cho biết do máy móc của BV thường xuyên hỏng hóc, nguồn kinh phí tự chủ chưa có nên đề nghị phía Công ty dược Hà Tây cho mượn máy để phục vụ khám chữa bệnh. Thế nhưng, theo đơn tố cáo của nhiều bác sĩ BVĐK Hoài Đức, việc mượn, lắp đặt các loại máy nói trên tại BV là không minh bạch. Cụ thể, tổng giá trị của 3 chiếc máy nói trên chỉ khoảng 250 triệu đồng, hiện tại nhiều phòng khám tư nhân đã trang bị được, trong khi tổng thu hằng năm của BVĐK Hoài Đức khoảng 20 tỉ đồng nên không cần phải “than nghèo kể khổ” để mượn máy của doanh nghiệp. Mặt khác, dù được coi là thiếu máy móc nhưng lãnh đạo BVĐK Hoài Đức không lập kế hoạch mua bổ sung, cũng không xin cấp ngân sách để mua. Quan trọng hơn, các máy nhà nước trang bị cho BV cũng chỉ bị những lỗi nhỏ như hỏng dây bơm, bàn phím, bóng đèn nhưng lãnh đạo BVĐK Hoài Đức không sửa chữa, bảo dưỡng mà quyết định mượn máy từ Công ty dược Hà Tây.

Cùng với việc máy nhà nước nằm “đắp chiếu” hoặc hoạt động tậm tịt thì máy móc mượn của Công ty dược Hà Tây được đưa vào khu vực xét nghiệm ngoại trú, là nơi chiếm 97% khối lượng công việc xét nghiệm của toàn BV.

Để làm rõ hơn việc cho mượn máy, PV Thanh Niên đã có buổi tiếp xúc với Công ty dược Hà Tây. Điều bất ngờ là người đại diện của công ty này cho biết một số máy công ty không có mà phải đi thuê từ nơi khác với giá hàng chục triệu đồng để cho BVĐK Hoài Đức… mượn. Câu hỏi đặt ra là vì sao Công ty dược Hà Tây lại tốt đến mức sẵn sàng đi thuê máy rồi đem cho BVĐK Hoài Đức mượn?

Bán hóa chất và đưa phong bì

Theo bà Hoàng Thị Nguyệt, cán bộ Khoa Xét nghiệm BVĐK Hoài Đức, một trong những người đứng đơn tố cáo những sai phạm tại BVĐK Hoài Đức, thì bản chất việc mượn máy, lắp đặt tại BVĐK Hoài Đức là nhằm để sử dụng hóa chất do Công ty dược Hà Tây cung cấp. Làm việc với PV Thanh Niên, đại diện Công ty dược Hà Tây cho biết trong 2 năm 2011-2012, công ty này đã trúng thầu tổng cộng hơn 1 tỉ đồng hóa chất cung cấp cho BVĐK Hoài Đức. Giải thích nghịch lý đi thuê máy cho người khác mượn, vị đại diện cho công ty này nói là để… chiều theo ý khách hàng.

Theo nhiều bác sĩ BVĐK Hoài Đức, cùng với việc lắp đặt 2 máy huyết học và phân tích nước tiểu, Khoa Xét nghiệm đã được cung cấp các loại hóa chất có tên là Stronalyso, Cellclean, Cellpack, Mission để phục vụ cho máy hoạt động. Các loại hóa chất này không thuộc loại hóa chất do bộ phận chuyên môn dự trữ thực tế và không giống các loại hóa chất thường dùng trước đây. “Chúng tôi có hỏi thì được lãnh đạo trả lời  hóa chất được cung cấp theo máy, tức máy nào thì phải dùng theo hóa chất đó”, một bác sĩ cho biết. Đáng chú ý, trong khi một số bác sĩ Khoa Xét nghiệm phản ứng vì hóa chất do Công ty dược Hà Tây cung cấp có chất lượng không ổn định thì có người bắn tiếng sẽ trích “phần trăm” trên cơ sở lượng hóa chất được tiêu thụ.

Bà Hoàng Thị Nguyệt cho biết, vào ngày 13.11.2012, trong lúc bà đang được giao phụ trách Khoa Xét nghiệm do trưởng khoa đi vắng thì được một nam nhân viên Công ty dược Hà Tây đưa cho một phong bì và nói: “Đây là phần trăm dành cho chị”. “Trước tập thể khoa, chúng tôi bóc ra đếm được 5,1 triệu đồng và 1 mảnh giấy ghi số hóa chất để tiêu thụ”,  bà Nguyệt cho hay. Theo một số bác sĩ BVĐK Hoài Đức, việc đơn vị lắp đặt máy đưa phong bì không chỉ một lần, ngoài cán bộ thì lãnh đạo khoa phòng được đưa riêng.

Trao đổi với PV Thanh Niên, đại diện cho Công ty dược Hà Tây cho biết việc đưa tiền cần chờ kết luận của cơ quan điều tra, nhưng công ty đã tạm đình chỉ công tác đối với cán bộ được phản ánh là đưa tiền “phần trăm” kể trên. Theo vị này, việc đưa tiền là vi phạm pháp luật, trái với quy định của công ty.

“Sự thiếu minh bạch trong việc mua sắm máy móc cho BV, để máy móc “đắp chiếu” cũng như việc cho Công ty dược Hà Tây lắp đặt máy và bán hóa chất là những biểu hiện của lợi ích nhóm gây ảnh hưởng đến cán bộ nhân viên trong BV cũng như quyền lợi của người bệnh, cần phải được làm rõ”, nhóm cán bộ bác sĩ BVĐK Hoài Đức kiến nghị trong đơn gửi cơ quan báo chí. (Còn tiếp)

Không phải cá biệt

Năm 2009, tại BV K, PV Thanh Niên từng phát hiện vụ việc tương tự. Theo đó, BV K được ngân sách đầu tư 1,4 triệu USD để mua máy gia tốc, kèm theo khoảng 60.000 USD/năm để duy tu, bảo dưỡng. Sau khi đi vào hoạt động, bình quân một ngày chiếc máy điều trị cho khoảng 150 bệnh nhân. Để giảm tải bệnh nhân và thực hiện xã hội hóa, BV K đã liên kết với doanh nghiệp bên ngoài lắp thêm một máy khác. Tuy nhiên, sau khi có máy của doanh nghiệp thì máy của nhà nước liên tục hỏng hóc và hoạt động cầm chừng khiến bệnh nhân phải điều trị bằng máy tư nhân. Theo quy định, bệnh nhân sử dụng máy nhà nước không mất tiền, nhưng sử dụng của tư nhân thì người có bảo hiểm y tế phải nộp khoảng 13 triệu đồng/đợt điều trị; không có thì phải chi khoảng 26 triệu đồng (!?). Sau khi báo đăng, Bộ Y tế đã vào cuộc chấn chỉnh tình trạng này ở BV K.

Thái Sơn – Liên Châu

>> Đừng bắt dân phục vụ lợi ích nhóm >> Công khai lợi ích nhóm

Kinh Tế Vĩ Mô Trong Nền Kinh Tế Mở / 2023

Published on

2. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở III Quản lý tỷ giá hối đoái 1 Hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi 2 Hệ thống tỷ giá hối đoái cố định 3 Hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý IV Tác động của tỷ giá hối đoái tới nền kinh tế 1 Tỷ giá hối đoái tăng 2 Tỷ giá hối đoái giảm

3. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở I Cán cân thanh toán (balance of payment) Cán cân thanh toán là một bảng cân đối ghi chép một cách hệ thống toàn bộ những giao dịch kinh tế giữa trong nước với thế giới bên ngoài trong khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Nó phản ánh giá trị hàng hóa và dịch vụ mà nền kinh tế đã xuất khẩu hoặc nhập khẩu cũng như các khoản tiền mà đất nước đã đi vay hoặc cho thế giới bên ngoài vay. Ngoài ra, sự can thiệp của NHTW vào thị trường ngoại hối thông qua việc thay đổi dự trữ ngoại tệ cũng được phản ánh trong cán cân thanh toán.

5. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở I Cán cân thanh toán 1 Tài khoản vãng lai (current account) Các yếu tố tác động đến NX(cán cân thương mại) – Thị hiếu của người tiêu dùng về hàng trong nước và hàng nước ngoài – Mức lạm phát giữa hai quốc gia – Tỷ giá hối đoái – Thu nhập người tiêu dùng trong nước, thu nhập người tiêu dùng nước ngoài – Chi phí bảo hiểm và vận chuyển hàng hóa từ nước này qua nước khác – Các chính sách của chính phủ đối với thương mại

6. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở I Cán cân thanh toán 1 Tài khoản vãng lai (current account) – Tài khoản thu nhập nhân tố ròng (net investment income account): là khoản chênh lệch giữa GNP và GDP – Tài khoản chuyển khoản quốc tế (net transfer account) giao dịch giữa các quốc gia mà không có các khoản đối ứng

7. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở I Cán cân thanh toán 2 Tài khoản vốn (capital account) – Tài khoản vốn ghi lại các khoản + Vốn dùng để mua nhà máy, mua cổ phiếu của các công ty được gọi là đầu tư. Chênh lệch giữa luồng đi vào và đi ra được xếp vào mục đầu tư ròng. + Vốn dùng để gửi Ngân hàng và mua công trái của Chính phủ nước ngoài, hay trực tiếp vay mượn từ bên ngoài được gọi là giao dịch tài chính. Chênh lệch giữa luồng đi vào và đi luồng đi ra được xếp vào mục giao dịch tài chính ròng

8. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở I Cán cân thanh toán 2 Tài khoản vốn (capital account) – Dòng vốn lưu chuyển giữa các quốc gia chịu chi phối bởi những yếu tố sau đây: + Lãi suất thực tế trả cho tài sản nước ngoài, tài sản trong nước + Nhận thức về rủi ro kinh tế và chính trị của việc nắm giữ tài sản nước ngoài + Các chính sách của chính phủ ảnh hưởng tới việc người nước ngoài nắm giữ tài sản trong nước

11. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở I Cán cân thanh toán Ngoài ra còn có khoản mục sai số thống kê (statistical discrepancy) Ở các nước có thị trường ngoại hối theo cơ chế thả nổi (tỷ giá điều chỉnh theo cung, cầu ngoại hối) thì sai số thống kê được cho là các giao dịch ngoại hối bị bỏ sót. Sau khi tính khoản mục này thì cán cân thanh toán tổng thể bằng 0 Còn ở các nước có thị trường hối đoái theo cơ chế cố định hoặc thả nổi có quản lý (tỷ giá hối đoái có sự điều tiết của chính phủ) thì dù có sai số thống kê cán cân thanh toán tổng thể vẫn không thể bằng 0 (tồn tại thặng dư, thâm hụt)

14. Cán cân thanh toán của MỹCurrent accountExports of goods 1149Imports of goods 1965Balance of trade -816Export of services 479Import of services -372Balance of services 107Income received on 782investmentsIncome received on -708investmentsNet income on investments 74Net transfers -104Balance of current account -739Financial accountIncrease in foreign holdings of 1864assets in the USIncrease in US holdings of -1206assets in foreign countriesBalance on financial account 658Balance on capital account -2Statistical discrepancy 83Balance of payment 0The Balance of Payments of the United States, 2007 (billions of dollars)Nguồn: US Department of Commerce, Survey of Current Business, June 2008

15. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở II Tỷ giá hối đoái 1 Khái niệm và phương pháp đo lường 1.1 Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (E) – Khái niệm: Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ lệ trao đổi giữa đồng tiền của các quốc gia. Hay giá cả của một đơn vị tiền tệ này được thể hiện bằng một số đơn vị tiền tệ nước kia được gọi là tỷ giá hối đoái danh nghĩa VD: 1 USD = 19.000 VND, 1 GBP = 28.000 VND… – Tỷ giá hối đoái danh nghĩa có thể được niêm yết dưới 2 dạng: + Yết giá trực tiếp: là phương pháp quy định giá ngoại tệ khi niêm yết được thể hiện trực tiếp ra bên ngoài, bao nhiêu nội tệ đổi được 1 đơn vị ngoại tệ (E) + Yết giá gián tiếp: là phương pháp quy định giá ngoại tệ khi niêm yết không thể hiện trực tiếp ra bên ngoài mà chỉ thể hiện gián tiếp, bao nhiêu ngoại tệ đổi được 1 đơn vị nội tệ (e)

16. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở II Tỷ giá hối đoái 1 Khái niệm và phương pháp đo lường 1.2 Tỷ giá hối đoái thực tế (ξ) – Khái niệm: Tỷ giá hối đoái thực tế (ξ) là tỷ lệ mà tại đó một người trao đổi hàng hóa và dịch vụ của nước này lấy hàng hóa và dịch vụ của nước khác – Công thức: ξ = E x P*/P trong đó P* là mức giá nước ngoài P là mức giá trong nước

17. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở II Tỷ giá hối đoái 1 Khái niệm và phương pháp đo lường 1.2 Tỷ giá hối đoái thực tế (ξ) Điều gì quyết định sự thay đổi của E → E = ξ x P/P* → % thay đổi E = % thay đổi ξ + % thay đổi P – % thay đổi P* → % thay đổi E = % thay đổi ξ + (π – π*) Như vậy trong dài hạn E được quyết định bởi ξ, và mức độ chênh lệch lạm phát giữa trong nước và ngoài nước

18. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở II Tỷ giá hối đoái 1 Khái niệm và phương pháp đo lường 1.3 Tỷ giá hối đoái bình quân (EER) – Tỷ giá hối đoái bình quân được hiểu là số bình quân giá quyền của hầu hết các tỷ giá song phương quan trọng với mức gia quyền được xác định bởi tỷ trọng của mỗi loại ngoại tệ trong tổng kim ngạch ngoại thương của nước đó – Công thức EER = Eri x Wi trong đó EER là tỷ giá hối đoái bình quân, Eri là tỷ giá hối đoái song phương với nước i, Wi là tỷ trọng thương mại của nước i trong tổng giá trị thương mại của nước đang xét

19. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở II Tỷ giá hối đoái 2 Cơ sở để xác định tỷ giá hối đoái: lý thuyết ngang bằng sức mua (PPP – purchasing power parity) – Quy luật một giá (one price law): hàng hóa phải được bán với mức giá như nhau ở mọi nơi, nếu không, sẽ có những cơ hội kiếm lợi nhuận chưa được khai thác và buôn bán ăn chênh lệch giá (carry trade) sẽ diễn ra khiến cho giá cả của hàng hóa đó trở lại cân bằng – Lý thuyết ngang bằng sức mua (PPP): một đơn vị tiền tệ phải có giá trị thực tế như nhau (mua được cùng số lượng hàng hóa) ở mọi quốc gia

20. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở II Tỷ giá hối đoái 2 Cơ sở để xác định tỷ giá hối đoái Sử dụng lý thuyết PPP để tính tỷ giá hối đoái danh nghĩa Giả sử 1 USD mua được 1 giỏ hàng ở Mỹ. Với 19.000 VND ta cũng mua được 1 giỏ hàng tương tự ở Việt Nam (cùng số lượng, chất lượng); giả định rằng chi phí vận chuyển là không đáng kể và hàng hóa sẽ được mua bán hết nếu buôn bán chênh lệch giá xảy ra → theo lý thuyết PPP 1USD = 19.000 VND Tổng quát nếu ta có 1 đô la P* là giá cả hàng hóa ở nước Mỹ; P là giá cả hàng hóa tương tự ở Việt Nam thì 1/P* = E/P → E = P/P*

21. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở Tỷ giá hối đoái (số xu Mỹ đổi được 1 mác Đức), cung tiền và tỷ lệ lạm phát ở Đức giai đoạn 1921 – 1925.

22. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở II Tỷ giá hối đoái 2 Cơ sở để xác định tỷ giá hối đoái Mặt khác sử dụng công thức trên ta có: 1 = ExP*/P hay tỷ giá hối đoái thực tế luôn bằng 1 nhưng trên thực tế điều này không xảy ra vì lý thuyết PPP còn có những hạn chế sau: + Có rất nhiều mặt hàng khó đem ra trao đổi + Ngay cả khi hàng hóa trao đổi được thì không phải lúc nào cũng thay thế được cho nhau nếu chúng được sản xuất ở các nước khác nhau (thị hiếu) + tồn tại chi phí vận chuyển, thuế quan, hạn ngạch

23. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở Chế độ bản vị hambơgơ, chỉ số Big Mac Nước Giá của chiếc Big Mac Tỷ giá hối đoái dự báo Tỷ giá hối đoái trên thực tế Hàn Quốc 3200 won 896 won/đôla 1018 won/đôla Nhật 280 yên 78.4 yên/đôla 106.8 yên/đôla Nga 59 rúp 16.5 rúp/đôla 23.2 rúp/đôla Canada 4.09 đôCa 1.15 đôCa/đôla 1.00 đôCa/đôla Braxin 7.5 rian 2.1 rian/đôla 1.58 rian/đôla Anh 2.29 bảng 0.64 bảng/đôla 0.50 bảng/đôla EU 3.37 euro 0.94 euro/đôla 0.63 euro/đôla Tạp chí Economists số 24/7/2008

24. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở II Tỷ giá hối đoái 3 Thị trường ngoại hối Khái niệm ngoại hối rất rộng bao gồm ngoại tệ, kim loại quý như vàng hay các giấy tờ có giá được tính bằng ngoại tệ. Theo quy định của pháp lệnh ngoại hối có hiệu lực từ ngày 1/6/2006 ngoại hối bao gồm: – Đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung Châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong than toán quốc tế và khu vực (ngoại tệ) – Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ, gồm séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và các phương tiện thanh toán khác

25. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở II Tỷ giá hối đoái 3 Thị trường ngoại hối (Khái niệm ngoại hối) – Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác – Vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài của người cư trú; vàng dưới dang khối, thỏi, hạt miếng trong trường hợp mang vào và ra khỏi lãnh thổ Việt Nam – Đồng tiền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trong thanh toán quốc tế

26. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở II Tỷ giá hối đoái 3 Thị trường ngoại hối 3.1 Cung ngoại hối Cung ngoại hối bắt nguồn từ tất cả các giao dịch quốc tế của Việt Nam tạo ra nguồn thu về ngoại hối (cột có trong các tài khoản của cán cân thanh toán) Cung ngoại hối tăng/giảm khi tỷ giá hối đoái E tăng/giảm, các hoạt động tạo nguồn thu về ngoại hối gia tăng/giảm

27. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở II Tỷ giá hối đoái 3 Thị trường ngoại hối 3.2 Cầu ngoại hối Cầu ngoại hối bắt nguồn từ tất cả các giao dịch quốc tế của Việt Nam trong đó phải thanh toán ngoại hối với nước ngoài (cột nợ trong các tài khoản của cán cân thanh toán) Cầu ngoại hối tăng/giảm khi tỷ giá hối đoái E giảm/tăng, các hoạt động phải thanh toán ngoại hối cho nước ngoài tăng/giảm

28. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở II Tỷ giá hối đoái 3 Thị trường ngoại hối 3.3 Cân bằng trên thị trường ngoại hối Lấy ngoại tệ là USD đại diện cho ngoại hối

29. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở II Tỷ giá hối đoái 3 Thị trường ngoại hối 3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi của tỷ giá hối đoái Nguyên nhân gây nên sự thay đổi của E trên thị trường ngoại hối (sự dịch chuyển của đường cung, đường cầu)

30. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở II Tỷ giá hối đoái 3 Thị trường ngoại hối 3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi của tỷ giá hối đoái Các nhân tố làm đường cung, đường cầu ngoại hối dịch chuyển: + Sự tăng/giảm giá trong nước của hàng xuất khẩu + Sự tăng/giảm giá quốc tế của hàng nhập khẩu + Sự thay đổi của mức giá chung + Sự vận động của luồng vốn quốc tế + Đầu cơ → trong ngắn hạn (P trong và ngoài nước không thay đổi nhiều) thì E được quyết định bởi cung, cầu ngoại hối

31. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở Mở rộng: Thị trường ngoại hối theo quan điểm của Mankiw (đồng nhất thức NFI ≡ NX) E NFI NX E* Qusd NFI phụ thuộc vào lãi suất trong nước, nước ngoài (không phụ thuộc vào E) → NFI là 1 đường thẳng đứng NX phụ thuộc dương vào E (E tăng → đồng nội tệ mất giá) → NX là 1 đường dốc lên

32. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở Mở rộng: Giải thích thâm hụt kép (twin deficit): thâm hụt cán cân ns (T < G) đi kèm với thâm hụt thương mại (X < IM) r S’vốn r E NFI’ NFI Svốn ∆G NX Dvốn Qvốn Qusd Chính phủ tăng chi tiêu G → Cung vốn vay giảm → lãi suất thực tế cân bằng tăng → NFI giảm (vốn nước ngoài đổ vào trong nước tăng) → E giảm (đồng nội tệ lên giá) → NX giảm

33. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở Mở rộng Giải thích tác động của CSTT mở rộng hiệu quả hơn khi nền kinh tế mở i MS1 MS2 E NFI1 NFI2 NX i1 E2 i2 E1 MD i Lượng tiền Khi thực hiện CSTT mở rộng, lãi suất giảm → NFI tăng → E tăng, NX tăng

34. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở III Quản lý tỷ giá hối đoái 1 Hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi/linh hoạt (Floating/flexible foreign exchange system) – Là hệ thống mà tỷ giá hối đoái hoàn toàn được xác định theo quan hệ cung cầu trên thị trường (như mô hình thị trường hối đối pt ở trên) – Nhược điểm cơ bản của hệ thống những dao động thường xuyên của tỷ giá hối đoái gây thêm tính bất trắc và rủi ro trong các giao dịch thương mại và tài chính quốc tế, hạn chế sự tăng trưởng của những giao dịch đó → xuất hiện can thiệp của chính phủ nhằm cố định tỷ giá ở một mức nào đó, tránh những biến động bất lợi của thị trường ngoại hối

35. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở III Quản lý tỷ giá hối đoái 2 Hệ thống tỷ giá hối đoái cố định (Fixed foreign exchange system) – Là hệ thống mà tỷ giá hối đoái được giữ ở một mức nhất định nhờ sự can thiệp của nhà nước – Ví dụ về sự can thiệp của nhà nước (NHTW) vào thị trường ngoại hối nhằm duy trì tỷ giá hối đoái cố định – NHTW muốn duy trì E thấp hơn nên đã bán ra 1 lượng USD làm tăng cung USD (đường cung USD dịch chuyển sang phải). Đây cũng là hoạt động trên thị trường mở của NHTW (thu

36. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở III Quản lý tỷ giá hối đoái 2 Hệ thống tỷ giá hối đoái cố định (Fixed foreign exchange system) Kết luận – Nếu NHTW muốn duy trì một mức E thấp hơn thì bán ngoại tệ làm tăng cung ngoại tệ (giảm MS) – Nếu NHTW muốn duy trì một mức E cao hơn thì mua ngoại tệ làm tăng mức cầu về ngoại tệ (tăng MS)

37. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở III Quản lý tỷ giá hối đoái 2 Hệ thống tỷ giá hối đoái cố định (Fixed foreign exchange system) Tuy nhiên, trong xu hướng mở cửa và hội nhập kinh tế hiện nay, việc theo đuổi chế độ tỷ giá cố định, thoát ly sự nhạy bén của thị trường sẽ dẫn đến các vấn đề sau: – Nếu tỷ lệ lạm phát trong nước cao hơn thế giới bên ngoài trong khi E không đổi thì hàng hóa trong nước sẽ mất dần khả năng cạnh tranh trên các thị trường quốc tế, gây tổn thất cho cán cân thanh toán quốc tế và ảnh hưởng xấu đến sản xuất trong nước 

38. (vấn đề của hệ thống tỷ giá hối đoái cố định)- Để bảo vệ tỷ giá cố định chính phủ thường phải sử dụng các công cụ hạn chế nhập khẩu như thuế quan, hạn ngạch… và hạn chế luồng vốn luân chuyển quốc tế nhằm kiềm chế thâm hụt cán cân thanh toán. Điều này sẽ mâu thuẫn với yêu cầu của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế- Hệ thống tỷ giá hối đoái cố định không cho phép sử dụng chính sách tiền tệ vào mục tiêu khác (như ổn định việc làm hoặc mức giá) mà chỉ sử dụng vào một mục tiêu duy nhất là duy trì tỷ giá cố định ở mức đã công bố- NHTW phải duy trì một quỹ dự trữ ngoại hối tương đối để có thể can thiệp hiệu quả vào thị trường ngoại hối gây lãng phí nguồn lực

40. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở III Quản lý tỷ giá hối đoái 3 Hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý (managed floating foreign exchange system) Là sự kết hợp của hệ thống tỷ giá thả nổi và hệ thống tỷ giá cố định Khác với can thiệp trong hệ thống tỷ giá hối đoái cố định, can thiệp trong hệ thống này của NHTW nhằm thu hẹp biên độ dao động của tỷ giá, giảm thiểu rủi ro cho các hoạt động kinh tế hoặc điều chỉnh tỷ giá theo hướng có lợi (vỗ tay bằng cả 2 bàn tay)

41. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở IV Tác động của tỷ giá hối đoái đến nền kinh tế 1 Tỷ giá hối đoái tăng – Hàng hóa trong nước trở nên rẻ tương đối hơn so với trước →xuất khẩu tăng – Hàng hóa nước ngoài trở nên đắt tương đối hơn so với →nhập khẩu giảm → Xuất khẩu ròng tăng

42. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở IV Tác động của tỷ giá hối đoái đến nền kinh tế 2 Tỷ giá hối đoái giảm – Hàng hóa trong nước trở nên đắt tương đối hơn so với trước →xuất khẩu giảm – Hàng hóa nước ngoài trở nên rẻ tương đối hơn so với →nhập khẩu tăng → Xuất khẩu ròng giảm

43. Có (+ ) Nợ (-)1. Tài khoản vãng lai-Giá trị hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu (X). -Giá trị hàng hoá và dich vụ nhập khẩu (IM)-Thu nhập từ nước ngoài. -Chi trả thu nhập cho nước ngoài.-Nhận viện trợ của nước ngoài -Viện trợ ra nước ngoài và đóng góp cho ngân sách cho tổ chức quốc tế.2. Tài khoản vốn (tài khoản tư bản)-Đầu tư nước ngoài vào trong nước. – Đầu tư ra nước ngoài.-Vay của chính phủ và tư nhân, nhận trả nợ – Cho chính phủ và tư nhân nước ngoài vay, trả nợ. Các hoạt động cột có Các hoạt động ở cột (+) (nợ) E tăng, e giảm Tăng Giảm E giảm, e tăng Giảm Tăng E e Các hoạt động cột có (+) tăng giảm tăng Các hoạt động cột có (+) giảm tăng giảm Các hoạt động cột nợ (-) tăng tăng giảm Các hoạt động cột nợ (-) giảm giảm tăng

44. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở III Quản lý tỷ giá hối đoái Hiệu ứng J Hiệu ứng J cho biết không phải cứ khi nào đồng nội tệ mất giá thì sẽ làm cho xuất khẩu ròng tăng ngay lập tức, lý do: – Sự chậm trễ trong phản ứng của người tiêu dùng – Sự chậm trễ trong phản ứng của các nhà sản xuất -Sự cạnh tranh không hoàn hảo → ban đầu khi đồng nội tệ mất giá NX giảm sau một thời gian sẽ tăng

45. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở III Quản lý tỷ giá hối đoái Hiệu ứng J Phân tích tương tự khi đồng nội tệ lên giá

46. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở III Quản lý tỷ giá hối đoái Phân tích việc phá giá đồng nội tệ (currency devaluation) – Khái niệm phá giá – currency devaluation thường được sử dụng để nói tới bất kỳ hiện tượng giảm giá danh nghĩa nào của đồng nội tệ một cách có chủ ý và với mức độ đáng kể – Là biện pháp được IMF khuyến nghị các nước gặp khó khăn về cán cân thanh toán

47. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở III Quản lý tỷ giá hối đoái Phân tích việc phá giá đồng nội tệ (currency devaluation) Lợi ích của việc phá giá * Hàng hóa nhập khẩu tăng giá, hàng xuất khẩu giảm giá → tăng khả năng cạnh tranh của hàng trong nước, của hàng xuất khẩu → các nguồn lực tập trung vào các ngành sản xuất này → đầu tư trong nước tăng, xuất khẩu ròng tăng → tăng tổng cầu → sản lượng tăng, thất nghiệp giảm * Thu hút các nhà đầu tư nước ngoài sau khi tình hình đã ổn định

48. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở III Quản lý tỷ giá hối đoái Phân tích việc phá giá đồng nội tệ (currency devaluation) Tác hại của việc phá giá * Giá cả chung có thể sẽ tăng dẫn đến nguy cơ về lạm phát vì nhu cầu nguyên vật liệu nhập khẩu tăng do tổng cầu tăng mà bây giờ cần nhiều nội tệ hơn rất nhiều để mua lượng nguyên vật liệu nhập khẩu tăng lên * Hiệu ứng J

49. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở (Tác hại của việc phá giá) * Những yêu cầu khắc nghiệt kèm theo của IMF như giảm thâm hụt ngân sách (tăng thuế T giảm chi tiêu chính phủ G) từ đó làm giảm tổng cầu khiến cho nền kinh tế suy thoái hơn; cơ cấu lại nền kinh tế cho phép tư nhân hóa những lĩnh vực nhạy cảm như tài chính, ngân hàng, khai khoáng với lý do cạnh tranh tư nhân sẽ hiệu quả hơn nhà nước quản lý (nguồn vốn ra vào tự do khiến cho hệ thống tỷ giá hối đoái thêm bất ổn); hạn chế tăng giá (thường là hậu quả của phá giá đồng nội tệ) dẫn đến giảm cung tiền đẩy lãi suất lên cao → là những liều thuốc không hợp lý đi kèm phương thức phá giá * Nợ nước ngoài tăng lên tính theo đồng nội tệ * Gây khó khăn cho những nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào trong nước, chưa rút vốn ra kịp

51. Câu hỏi tư duyMột số thời điểm đôla Mỹ tăng vọt trong khi các yếu tố vĩ mô ổn định(tỷ lệ lạm phát), áp lực nhập siêu không lớn, lý do tại sao?VND mất giá có thực sự trợ giúp cho xuất khẩu ròng hay không? Đề xuất biện pháp khắc phục?

Thực Trạng Băng Nhóm “Xã Hội Đen” Trong Nền Kinh Tế: Làm Sao Xóa Bỏ? / 2023

Ông Phan Văn Anh Vũ (giữa), có biệt danh Vũ ‘Nhôm”-“mafia” của Đà Nẵng. Ảnh chụp ngày 29 tháng 4 năm 2016.

Quyền lực không được kiểm soát

Trong lời phát biểu tại Hội nghị của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ 8, diễn ra vào ngày 5 tháng Giêng ở thành phố Hồ Chí Minh, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị cơ quan này góp phần vào công tác loại bỏ băng nhóm mà ông gọi là “xã hội đen” trong nền kinh tế thị trường đe đọa cuộc sống người dân và doanh nghiệp.

Băng nhóm “xã hội đen” mà Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề cập đến như vừa nêu được báo giới trong nước nhắc lại lời của Chủ tịch thành phố Hà Nội, Tướng Nguyễn Đức Chung từng tuyên bố rằng đó không phải là những người đi chiếm đoạt vài ba ngàn đồng ở các bến xe, mà đã chuyển hướng sang các hoạt động lấn chiếm đất đai và đất công. Một số bài báo còn nêu lên nhiều trường hợp minh chứng cho thực trạng băng nhóm “xã hội đen” góp phần không nhỏ trong việc thao túng kinh tế và thao túng cả giới chính quyền, như nhân vật Vũ “nhôm” có biệt danh “mafia” của Đà Nẵng, một doanh nhân sở hữu nhiều công ty và sở hữu các khu đất, nhà cửa có nguồn gốc là nhà đất công.

Đài Á Châu Tự Do ghi nhận câu hỏi dư luận đặt ra là các băng nhóm “xã hội đen” trong nền kinh tế mà Thủ tướng Nguyễn Xuân phúc nói đến có phải là những nhóm người hay cá nhân giống như nhân vật Vũ “nhôm” hay không? Và làm thế nào các băng nhóm này có thể thao túng được nền kinh tế quốc gia? Dư luận cho rằng phải chăng băng nhóm “xã hội đen” mà người đứng đầu Chính phủ nhắm tới mục tiêu xóa sổ chính là các nhóm lợi ích?

Một số nhà quan sát tình hình Việt Nam ở trong nước nói với Đài Á Châu Tự Do rằng thực trạng hoạt động “xã hội đen” trong nền kinh tế luôn tồn tại với mức độ không hề thuyên giảm. Những nhà quan sát tình hình Việt Nam, mà RFA tiếp xúc khẳng định nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là do quyền lực không được kiểm soát. Họ cho biết quyền lực điều hành của hệ thống công quyền thay vì phục vụ cho nền kinh tế của đất nước, thì được sử dụng để mang lại lợi ích cho các nhân và lợi ích nhóm. Nhà quan sát chính trị Việt Nam, ông Vũ Hồng Lâm, ở Hawaii, Hoa Kỳ lên tiếng sự kết hợp giữa những doanh nghiệp và các thế lực có quyền hành trong chính quyền như là một mắc xích để cả hai bên cùng có lợi. Ông Vũ Hồng Lâm nói:

Tôi nghĩ rằng tình hình các nhóm lợi ích đã đề ra là vấn đề thực sự thời sự và cũng rất là gay gắt hiện nay. Các lợi ích nhóm đó không phải chỉ có ở tầm đầu tư hay đất đai…mà bây giờ có thể xuất hiện kể cả trong việc ảnh hưởng đến những chính sách được quyết định ở các cấp cao

-TS. Lê Đăng Doanh

” Nói chung, tình hình chung ở Việt Nam là ông đại gia nào cũng có ô dù, không có ô dù thì không thể nào sống được. Còn nếu trở thành đại gia rồi mà không có ô dù thì ô dù sẽ chạy đến xin làm ô dù cho ông ta.”

Từ trong nước, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, thành viên Ủy ban Chính sách Phát triển của Liên Hiệp Quốc, nêu lên nhận xét của ông với RFA về thực trạng hoạt động “xã hội đen” trong các nhóm lợi ích:

“Ví dụ trong trường hợp ông Đinh La Thăng, chúng ta thấy rất rõ là có hiện tượng ông Đinh La Thăng đã chỉ định thầu. Thế nhưng mới đây, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng của Chính phủ vừa ra quyết định từ nay trở đi cấm chỉ định thầu, mà phải đấu thầu tất cả dự án đầu tư công. Tôi nghĩ đây là dấu hiệu tiến bộ rất đáng chú ý. Và nếu chúng ta thực hiện được các điều đó thì đây là bước ban đầu để có sự giám sát và kiểm soát các lợi ích nhóm.”

Tiến sĩ Nguyễn Quang A cũng cho rằng Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu Mặt trận Tổ quốc phải góp phần trong việc giúp Chính phủ loại bỏ các băng nhóm “xã hội đen” trong nền kinh tế, có thể sẽ đem lại hiệu quả với điều kiện có sự hợp tác chặt chẽ với các cơ quan chấp pháp và hành pháp cùng người dân. Tiến sĩ Nguyễn Quang A khẳng định:

Trong khi đó, không ít những người quan tâm đến yêu cầu loại bỏ các băng nhóm xã hội đen trong nền kinh tế thị trường của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc lại cho rằng họ không lấy làm lạc quan và có niềm tin là Chính phủ sẽ dẹp bỏ được thực trạng này, khi mà doanh nghiệp liên kết với chính quyền địa phương, thậm chí sử dụng cả côn đồ để hành hung các tài xế phản đối trạm BOT thu phí quá cao hay đặt sai vị trí, trấn áp nạn nhân thảm họa môi trường biển khiếu kiện nhà máy Formosa, hay cưỡng chế phi pháp đất đai và tư liệu sản xuất của người dân dân một cách trắng trợn đến mức họ bị dồn vào đường cùng phải nổ súng.

Những ngày đầu năm 2018, dư luận đặc biệt quan tâm đến phiên tòa xét xử các nông dân nổ súng ở Đắk Nông chống đối Công ty tư nhân Long Sơn tiến hành cưỡng chế đất phi pháp và cho côn đồ đến phá hoại tài sản hồi tháng 10 năm 2016. Dư luận cho rằng Tòa án tỉnh Đắk Nông vào ngày 3 tháng Giêng đã tuyên các bản án quá nặng nề đối với những nông dân này, trong đó nông dân Đặng Văn Hiến bị mức án tử hình, dù ông Hiến đã đầu thú để được khoan hồng.

Một số những người dân quan tâm thời cuộc tại Việt Nam chia sẻ với RFA rằng họ trông đợi phiên tòa phúc thẩm đối với nông dân Đặng Văn Hiến, ở Đắk Nông; vì nếu Tòa án tỉnh Đắk Nông tuyên hủy bản án tử hình, đồng thời xét xử việc làm sai trái của công ty Long Sơn cũng như xem xét trách nhiệm của chính quyền huyện Tuy Đức đến nơi đến chốn, thì đó là dấu hiệu cho thấy Chính phủ Việt Nam thực tâm loại bỏ tình trạng hoạt động “xã hội đen” trong nền kinh tế mà Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh đang đe dọa cuộc sống của người dân.

Nguồn: RFA