Top 9 # Lợi Ích Quan Trọng Nhất Trong Lợi Ích Kinh Tế Là Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Tầm Quan Trọng Và Lợi Ích Kinh Tế Của Chăn Nuôi Trâu Bò

Đặc điểm sinh vật học cơ bản và lợi ích của chăn nuôi trâu bò

Từ ngàn đời nay con người đã thuần hoá và nuôi trâu bò để phục vụ cho các lợi ích khác nhau. Cũng giống một số loài nhai lại khác như dê, cừu…., trâu bò có khả năng sử dụng và chuyển hoá các loại thức ăn thô xanh (các loại rau, cỏ tự nhiên, cỏ trồng…), các phế phụ phẩm công – nông nghiệp (rơm lúa, bã sắn, ngọn mía, bẹ và lá ngô, dây khoai lang….) có giá trị hàng hoá rất thấp hoặc thậm chí không có giá trị hàng hoá, thành năng lượng sức kéo, thành thịt, sữa – những nguồn dinh dưỡng quý giá cho con người. Trâu bò có khả năng sử dụng, đồng hoá cả các chất chứa nitơ phi protein như urê, amoniac… và biến chúng thành protein của cơ thể. Sở đĩ trâu bò có được khả năng này là nhờ cấu tạo dạ dày bốn túi, trong đó có dạ cỏ rất phát triển với hệ vi sinh vật vô cùng phong phú.

Chăn nuôi trâu bò giúp khai thác tối ưu các nguồn lợi thiên nhiên (đồng bãi chăn thả) và nguồn lợi con người (lao động phụ, dư thừa) trong một khu vực hay một vùng nào đó, mang lại hiệu quả kinh tế cao, thiết thực.

Trâu bò có hệ thống thần kinh phát triển cho nên chúng có khả năng thích ứng rộng và chống chịu tốt với những điều kiện sống khó khăn, với bệnh tật. Khi di chuyển từ vùng này sang vùng khác chúng thích nghi dễ dàng hơn so với các loài gia súc khác.

Chăn nuôi trâu bò cung cấp thịt, sữa cho nhu cầu con người

Thịt trâu bò được xếp vào nhóm “thịt đỏ”, có giá trị dinh dưỡng cao. Từ thịt trâu bò người ta có thể chế hiến ra nhiều món ăn ngon, bổ. Chính vì vậy, trên thị trường thịt trâu bò luôn luôn đắt hơn thịt các loại gia súc khác và đắt hơn cả thịt gia cầm (là loại thịt trắng).

Giá trị dinh dưỡng của thịt chủ yếu là nguồn protein. Đó là loại protein hoàn thiện, chứa tất cả các axit amin cần thiết cho cơ thể. Thịt cũng chứa các thành phần khác, trong đó có mỡ. Chính mỡ trong thịt làm cho nó vừa có giá trị năng lượng cao vừa góp phần tăng hương vị thơm ngon của thịt.

Sữa được xếp vào loại thực phẩm cao cấp vì sự hoàn chỉnh về dinh dưỡng của nó và rất dễ tiêu hoá. Sữa là loại thực phẩm quý đối với con người, đặc biệt là đối với trẻ em, người glà yếu, ốm đau, người lao động nặng nhọc hoặc làm việc trong môi trường độc hại. Nó đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể về axit amin không thay thế, axit béo không no, các chất khoáng (đặc biệt canxi và phôtpho) và các vitamin.

Cung cấp phân bón cho cây trồng

Phân trâu bò là loại phân hữu cơ có khối lượng và giá trị đáng kể. Hàng ngày, mỗi con trâu bò trưởng thành thải ra 10 – 20kg phân, một năm thải ra 3 – 5 tấn phân nguyên chất.

Ở nước ta, phân trâu bò được sử dụng làm phân bón cho trồng trọt rất phổ biến, đáp ứng 50 – 70% nhu cầu phân hữu cơ trong nông nghiệp.

Cung cấp sức kéo cho nông nghiệp và vận chuyển

Ở nước ta, nghề nuôi trâu bò gắn liền với nghề trồng lúa nước, Ngày nay chúng ta đang từng bước cơ giới hoá nông nghiệp, nhưng vai trò của trâu bò trong khâu làm đất (cày, bừa) và trong nông nghiệp nói chung vẫn rất quan trọng. Công việc nặng nhọc này thu hút khoảng 70% số trâu bò. Theo số liệu của Bộ NN &PTNT năm 2000 mức độ cơ giới hoá trong khâu làm đất tính chung cho cả nước mới đạt 34 – 35% (năm 1995 đạt 29%), trong đó đồng bằng sông Cửu Long mức độ cơ giới hoá = 66%, đồng bằng sông Hồng = 29% .

Trong việc sử dụng làm sức kéo thì trâu có nhiều ưu thế hơn bò. Bởi vì trâu có khả năng làm việc (cày bừa) tốt hơn bò rất nhiều, đặc biệt là trong những vùng, những cánh đồng lúa nước, có bùn sâu, những nơi “đất nặng”. Trung bình một con trâu có thể cày được 0,25 ha một ngày và có thể đảm nhiệm được 3 ha trồng lúa nước.

Trâu bò còn được sử dụng để kéo xe, vận chuyển lúa từ đồng về nhà, vận chuyển nguyên vật liệu xây dựng và các loại hàng hoá khác.

Cung cấp các phụ phẩm giết mổ cho công nghiệp và thủ công mỹ nghệ

Da trâu bò là một mặt hàng rất quan trọng để xuất khẩu cũng như để cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp địa phương.

Người ta dùng da để sản xuất đế giày, thắt lưng, yên xe, các loại đai da… Da có thể được tách thành 3 lớp: lớp ngoài cùng để sản xuất những cao cấp, làm áo khoác ngoài; lớp giữa làm vali và túi đựng quần áo, còn loại da có dính thịt ở trong cùng dể sản xuất các sản phẩm da mịn, các lớp lót trong.

Da trâu bò là nguồn nguyên liệu chủ yếu cho các nhà máy thuộc da. Đáng tiếc là ở nước ta chưa có những cơ chế và biện pháp thích hợp để thu thập nguồn nguyên liệu này. Nhiều vùng nông thôn sử dụng lãng phí da trâu bò, dùng da trâu bò làm thực phẩm.

Lông trâu bò rất thích hợp để sản xuất bàn chải mỹ nghệ và lau một số máy móc quang học.

Sừng trâu bò có nhiều hình dạng khác nhau. Màu sắc cũng thay đổi. Nếu hơ nóng trên ngọn lửa, sừng trâu bò trở nên dễ uốn theo các hình dạng khác nhau và cuối cùng được cố định trong nước lạnh.

Sừng trâu bò được gia công chế biến cẩn thận có thể sản xuất ra nhiều mặt hàng có giá trị. Là nguyên liệu rất quan trọng cho ngành thủ công mỹ nghệ. Từ sừng trâu bò có thể sản xuất ra trâm cài, lược, cúc áo, các đồ trang trí, kim đan, móc áo.

Tiểu Luận Quan Hệ Lợi Ích Kinh Tế

Tiểu Luận Quan Hệ Lợi ích Kinh Tế, Bài Tiểu Luận Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế, Tiểu Luận Quán Lý Dự án Đầu Tư Kinh Doanh, Tiểu Luận Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế, Tiểu Luận Ngành Quản Trị Kinh Doanh, Tiểu Luận Mối Quan Hệ Giữa Đổi Mới Kinh Tế Và Đổi Mới Chính Trị, Tiểu Luận Lập Kế Hoạch Kinh Doanh Quán Cà Phê, Tiểu Luận Kinh Doanh Quán Cafe, Bài Tiểu Luận Nhập Môn Ngành Quản Trị Kinh Doanh, Bài Tiểu Luận Lập Kế Hoạch Kinh Doanh Quán Cafe, ài Tiểu Luận Lập Kế Hoạch Kinh Doanh Quán Cafe, Tiểu Luận Về Mối Quan Hệ Giữa Cạnh Tranh Và Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế Thị Trường, Tiểu Luận Vai Trò Của Kinh Tế Thị Trường Đối Với Việc Phát Triển Kinh Tế Xã Hội ở Việt Nam Hiện Nay, Tiểu Luận Tình Huống Trong Lanh Dao, Quan Ly O Truong Tieu Hoc, Đường Tổng Chi Tiêu Phản ánh Mối Quan Hệ Giữa Tổng Chi Tiêu Của Nền Kinh Tế Và Thu Nhập Quốc Dân, Tiểu Luận Tình Huống Quản Lý Nhà Nước Ubnd Quận, Tiểu Luận Tình Huống Quản Lý Nhà Nước Ubnd Quận Hồng Bàng, Tiểu Luận Kinh Tế, Tiểu Luận Kinh Tế Vĩ Mô, Tiểu Luận Môn Kinh Te Hoc, Tiểu Luận 2 Địa Lý Kinh Tế, Tiểu Luận Dự Báo Kinh Tế, Tiểu Luận Kinh Tế 2, Bài Tiểu Luận Địa Lý Kinh Tế, Bài Mẫu Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô, Tiểu Luận Địa Lý Kinh Tế, Một Số Bài Tiểu Luận Môn Kinh Tế Vĩ Mô, Bài Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô, Một Số Bài Tiểu Luận Kinh Tế Vĩ Mô, Kết Luận Của Bài Tiểu Luận Tổng Qyan Quản Trị Nhân Sự, 199 Bài Tiểu Luận Kinh Tế Chính Trị, Bài Tiểu Luận Luật Kinh Tế 1, Tiểu Luận Môn Luật Kinh Tế, Đề Tiểu Luận Luật Kinh Tế 2, Tiểu Luận Đạo Đức Kinh Doanh, Tiểu Luận Kinh Kim Cang, Tiểu Luận 1 Địa Lý Kinh Tế Hubt, Các Đề Tài Tiểu Luận Môn Luật Kinh Tế 1, Tiểu Luận Luật Kinh Tré, Tiểu Luận Địa Lý Kinh Tế Hubt, Tiểu Luân Về Thủ Đoạn Kinh Têa, Tiểu Luận Về Công Ty Kinh Đô, Bài Tiểu Luận Về Công Ty Kinh Đô, Đề Tiểu Luận Luật Kinh Tế 1, 329 Bài Tiểu Luận Kinh Tế Chính Trị, Tiểu Luận Kinh Doanh, Bài Tiểu Luận Kinh Tế Môi Trường, Bài Tiểu Luận Kinh Tế Lượng, Tiểu Luận Môn Địa Lý Kinh Tế Việt Nam, Bài Tiểu Luận Kinh Tế Chính Trị, Bài Tiểu Luận Luật Kinh Tế, Tiểu Luận Môn Địa Lí Kinh Tế Việt Nam, Tiểu Luận Luật Kinh Tế 2, Tiểu Luận Luaatj Kinh Tế, Tiểu Luận Môn Luật Kinh Tế 1, Tiểu Luận Hộ Kinh Doanh, Bài Tiểu Luận Địa Lý Kinh Tế Việt Nam, Tiểu Luận Kinh Tế Chính Trị, Bài Tiểu Luận Kinh Tế Vĩ Mô Về Lạm Phát, Tiểu Luận Luật Kinh Tế 3, Tiểu Luận Kinh Tế Lượng, Tiểu Luận Kinh Tế Chính Trị Ftu, Tiểu Luận Kinh Tế Vĩ Mô Về Thất Nghiệp, Tiểu Luận Luật Kinh Tế 1, Bài Tiểu Luận Kinh Tế Quốc Tế, Tiểu Luận Luật Kinh Tế, Bài Tiểu Luận Kinh Tế Phát Triển, Tiểu Luận ý Tưởng Kinh Doanh, Bài Tiểu Luận ý Tưởng Kinh Doanh, Bài Tiểu Luận Xác Định Kết Quả Kinh Doanh, Tiểu Luận Luật Kinh Tế 2 Hubt, Bài Tiểu Luận Về ý Tưởng Kinh Doanh, Tiểu Luận Mô Hình Kinh Doanh, Tiểu Luận Kinh Tế Phát Triển, Bìa Tiểu Luận Kinh Tế Chính Trị Mac Lenin, Bài Tiểu Luận Lập Kế Hoạch Kinh Doanh, Tiểu Luận Rủi Ro Trong Kinh Doanh, Tiểu Luận Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế, Tiểu Luận Luật Hình Sự Kinh Tế, Tiểu Luận Môn Luật Kinh Doanh Ueh, Bài Tiểu Luận Về Tăng Trưởng Kinh Tế, Tiểu Luận Môn Kinh Tế Chính Trị Về Vấn Đề Thất Nghiệp, Tiểu Luận Kinh Tế Chính Trị Mác Lênin, Tiểu Luận Kinh Tế Phát Triển, Tiểu Luận Kinh Doanh Bảo Hiểm, Tiểu Luận Môn Kinh Tế Phát Triển, Tiểu Luận Kế Hoạch Kinh Doanh, Tiểu Luận Luật Kinh Doanh, Tiểu Luận Lập Kế Hoạch Kinh Doanh, Tiểu Luận Môn Kinh Tế Học Phát Triển, Tiểu Luận Kinh Tế Chính Trị Về Thất Nghiệp, Tiểu Luận Luật Kinh Tế 3 Hubt, Tiểu Luận Luật Kinh Tế 1 Hubt, Tiểu Luận Kinh Doanh Quốc Tế, Luận Văn Quản Lý Kinh Tế, Bài Tiểu Luận Về Nghiên Cứu Mô Hình Kinh Doanh Trà Sữa, Bài Tiểu Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Kinh Tế, Bài Tiểu Luận Khủng Hoảng Kinh Tế 2008, Tiểu Luận Học Thuyết Kinh Tế Của William Petty, Tiểu Luận Đổi Mới Mô Hình Tăng Trưởng,câu Cấu Nền Kinh Tế,

Tiểu Luận Quan Hệ Lợi ích Kinh Tế, Bài Tiểu Luận Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế, Tiểu Luận Quán Lý Dự án Đầu Tư Kinh Doanh, Tiểu Luận Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế, Tiểu Luận Ngành Quản Trị Kinh Doanh, Tiểu Luận Mối Quan Hệ Giữa Đổi Mới Kinh Tế Và Đổi Mới Chính Trị, Tiểu Luận Lập Kế Hoạch Kinh Doanh Quán Cà Phê, Tiểu Luận Kinh Doanh Quán Cafe, Bài Tiểu Luận Nhập Môn Ngành Quản Trị Kinh Doanh, Bài Tiểu Luận Lập Kế Hoạch Kinh Doanh Quán Cafe, ài Tiểu Luận Lập Kế Hoạch Kinh Doanh Quán Cafe, Tiểu Luận Về Mối Quan Hệ Giữa Cạnh Tranh Và Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế Thị Trường, Tiểu Luận Vai Trò Của Kinh Tế Thị Trường Đối Với Việc Phát Triển Kinh Tế Xã Hội ở Việt Nam Hiện Nay, Tiểu Luận Tình Huống Trong Lanh Dao, Quan Ly O Truong Tieu Hoc, Đường Tổng Chi Tiêu Phản ánh Mối Quan Hệ Giữa Tổng Chi Tiêu Của Nền Kinh Tế Và Thu Nhập Quốc Dân, Tiểu Luận Tình Huống Quản Lý Nhà Nước Ubnd Quận, Tiểu Luận Tình Huống Quản Lý Nhà Nước Ubnd Quận Hồng Bàng, Tiểu Luận Kinh Tế, Tiểu Luận Kinh Tế Vĩ Mô, Tiểu Luận Môn Kinh Te Hoc, Tiểu Luận 2 Địa Lý Kinh Tế, Tiểu Luận Dự Báo Kinh Tế, Tiểu Luận Kinh Tế 2, Bài Tiểu Luận Địa Lý Kinh Tế, Bài Mẫu Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô, Tiểu Luận Địa Lý Kinh Tế, Một Số Bài Tiểu Luận Môn Kinh Tế Vĩ Mô, Bài Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô, Một Số Bài Tiểu Luận Kinh Tế Vĩ Mô, Kết Luận Của Bài Tiểu Luận Tổng Qyan Quản Trị Nhân Sự, 199 Bài Tiểu Luận Kinh Tế Chính Trị, Bài Tiểu Luận Luật Kinh Tế 1, Tiểu Luận Môn Luật Kinh Tế, Đề Tiểu Luận Luật Kinh Tế 2, Tiểu Luận Đạo Đức Kinh Doanh, Tiểu Luận Kinh Kim Cang, Tiểu Luận 1 Địa Lý Kinh Tế Hubt, Các Đề Tài Tiểu Luận Môn Luật Kinh Tế 1, Tiểu Luận Luật Kinh Tré, Tiểu Luận Địa Lý Kinh Tế Hubt, Tiểu Luân Về Thủ Đoạn Kinh Têa, Tiểu Luận Về Công Ty Kinh Đô, Bài Tiểu Luận Về Công Ty Kinh Đô, Đề Tiểu Luận Luật Kinh Tế 1, 329 Bài Tiểu Luận Kinh Tế Chính Trị, Tiểu Luận Kinh Doanh, Bài Tiểu Luận Kinh Tế Môi Trường, Bài Tiểu Luận Kinh Tế Lượng, Tiểu Luận Môn Địa Lý Kinh Tế Việt Nam, Bài Tiểu Luận Kinh Tế Chính Trị,

Đặc Khu Kinh Tế Là Gì ? Lợi Ích Của Đặc Khu Kinh Tế

Trong chúng ta hẳn ai cũng đã từng nghe ít nhất một lần cụm từ “đặc khu kinh tế”. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết đặc khu kinh tế là gì, lợi ích của nó ra sao, trên thế giới và ở Việt Nam có những đặc khu kinh tế nào. Do vậy, bài viết sau đây chúng tôi giúp bạn đọc hiểu rõ hơn điều đó.

Đặc khu kinh tế trong tiếng Anh nghĩa là Special Economic Zones – SEZ, đây là các khu vực kinh tế được thành lập trong một quốc gia với mục đích thu hút nguồn đầu tư trong và ngoài nước bằng những biện pháp khuyến khích đặc biệt.

Sử dụng thuật ngữ đặc khu kinh tế để chỉ những khu vực kinh tế tại nơi ấy. Những công ty sẽ không bị đánh thuế hoặc bị đánh thuế nhưng với mức độ nhẹ khi đầu tư vào nơi này, mục đích là để khuyến khích hoạt động kinh tế phát triển hơn.

Đặc khu kinh tế được xác định riêng tùy theo mỗi quốc gia khác nhau. Theo ngân hàng thế giới vào năm 2008, đặc khu kinh tế là khu vực được giới hạn về mặt địa lý và nó thường được đảm bảo về mặt vật lý, nghĩa là có rào chắn, có người quản lý, điều hành.

Ngoài ra, nó còn được nhận các lợi ích dựa trên vị trí thực tế trong khu vực như lợi ích miễn thuế, thủ tục đơn giản,…

Cuối năm 1950, những đặc khu kinh tế SEZ bắt đầu xuất hiện tại các nước công nghiệp. Đầu tiên nhất là ở sân bay Sannon tại Clare, Ireland. Còn tùy vào mỗi quốc gia khác nhau mà các đặc khu kinh tế sẽ có những tên gọi khác nhau như sau:

Khu thương mại tự do FTZ

Khu chế xuất EPZ

Khu kinh tế tự do FZ

Khu công nghiệp IE

Cảng tự do Free Ports

Những biện pháp khuyến khích đặc biệt hay được áp dụng tại các đặc khu kinh tế nhằm thu hút đầu tư cụ thể như sau:

Tạo nên môi trường kinh doanh thuận lợi, miễn giảm thuế, đơn giản hóa các thủ tục, những chính sách linh hoạt về người lao động.

Các hạ tầng tiện lợi, tạo điều kiện sống thật tốt cho người làm việc ở trong đặc khu kinh tế.

Tại các vị trí chiến lược gắn liền với cảng biển, cảng hàng không quốc tế,…

Các hỗ trợ và ưu đãi khác.

Đặc khu kinh tế được tạo nên thúc đẩy công nghiệp hóa, tăng trưởng kinh tế bền vững. Lợi ích mà đặc khu kinh tế mang lại như sau:

Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động của địa phương và nguồn lao động ở các khu vực lân cận.

Thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ.

Phát triển cơ sở hạ tầng tại khu vực này

Tránh tình trạng thuế tràn lan

So sánh các đặc khu kinh tế và khu công nghiệp thông thường

Thời gian thuê đất

Tối đa 99 năm

Tối đa 50 năm

Thuế thu nhập cá nhân

● Miễn thuế TNCN trong 5 năm.

● Giảm 50% thuế TNCN trong các năm tiếp theo

Theo luật định

Thuế thu nhập doanh nghiệp

10% trong 30 năm

20% ưu đãi về thuế tùy theo chính sách từng địa phương khác nhau.

Tổ chức chính quyền

● Không có hội đồng nhân dân.

● Trưởng đặc khu là do thủ tướng bổ nhiệm.

Ban quản lý khu kinh tế – khu công nghiệp trực thuộc tỉnh UBND thành phố bổ nhiệm.

Sở hữu nhà với người nước ngoài

● Tự do mua bán nhà với người có thời gian lao động trên 3 tháng.

● Thời hạn vĩnh viễn đối với nhà ở biệt thự.

● 99 năm với chung cư.

Tối đa 50 năm

Casino

Người Việt vào chơi Casino

Người Việt chỉ chơi Casino với các điều kiện trong thời gian thí điểm 3 năm.

Đặc khu kinh tế của có luật riêng biệt. Dự thảo luật đặc khu kinh tế là do Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư Việt Nam chủ trì xây dựng, nó được gọi tắt là Dự thảo Luật Đặc Khu.

Dự thảo Luật đặc khu đã được chính phủ quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 4 vào tháng 10 năm 2017, được tiếp thu chỉnh lý và trình tiếp vào kỳ họp thứ 5.

Song đến ngày 9/6/2018 chính phủ ở nước ta đã thông báo đề nghị ủy ban thường vụ Quốc Hội Việt Nam lùi việc thông qua Dự án Luật Đặc khu sang kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa 14 (tháng 10 năm 2018) để có thêm thời gian nghiên cứu.

Ngày 11 tháng 6 năm 2018 Quốc hội đã cho ý kiến về việc rút nội dung biểu quyết thông qua Dự án Luật Đặc Khu.

Kết quả biểu quyết 423 đại biểu tán thành rút trong tổng số 432 đại biểu tham gia biểu quyết ( tổng số đại biểu Quốc hội là 487.55 đại biểu không tham gia biểu quyết) chiếm tỉ lệ 87.45%.

Các đặc khu kinh tế trên thế giới

Hiện nay trên thế giới có trên 4300 khu kinh tế tự do ở hơn 140 quốc gia.

Đặc khu kinh tế ở Việt Nam

Ở Việt Nam có tổng cộng ba đặc khu kinh tế bao gồm Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc. Dự kiến những đặc khu này sẽ tạo sức hút cực kỳ lớn của các nhà đầu từ trong và ngoài nước.

Theo ước tính của Bộ Tài chính, ba đề án đặc khu kinh tế cần khoảng 70 tỉ USD, tức là khoảng 1.57 triệu tỉ đồng, Vân Đồn cần 270 ngàn tỉ (2018 đến 2030), Bắc Vân Phong 400 ngàn tỉ (2019 đến 2025) và cuối cùng Phú Quốc là 900 ngàn tỉ (2016 đến 2030).

khu kinh tế Phú Quốc – Kiên Giang

Ngày 22/5/2013 Thủ Tướng Chính Phủ Việt Nam đã ra quyết định 31/2013/QD-TTg về việc thành lập khu kinh tế Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Khu kinh tế Phú Quốc chính thức được thành lập khi quyết định này có hiệu lực từ ngày 10 tháng 7 năm 2013.

Theo quy hoạch tổng thể đến năm 2030 sửa đổi, Phú Quốc sẽ có thêm 3 khu đô thị lớn, 15 khu du lịch sinh thái, 2 khu du lịch phức hợp 5 sân golf. Theo dự kiến, Phú Quốc sẽ trở thành đặc khu kinh tế vào năm 2020.

Đặc khu kinh tế Vân Đồn Quảng Ninh

Đặc khu kinh tế Vân đồng chính là khu kinh tế ở miền Bắc Việt Nam được thành lập vào năm 2007 với mục tiêu trở tâm một trung tâm sinh thái biển đảo chất lượng cao, dịch vụ chất lượng.

Không những vậy, nơi đây còn đặt mục tiêu trở thành trung tâm hàng không, đầu mối giao thương quốc tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Ninh.

Khu kinh tế Vân Đồn bao gồm một khu phi thuế quan và một khu thuế quan có diện tích rộng 2.200km. Trong đó diện tích của đất là 551.33km2 và vùng biển rộng 1620k2.

Đặc khu kinh tế bắc Vân Phong – Khánh Hòa

Được thành lập vào năm 2005, đặc khu kinh tế Bắc Phong Vân được đặt mục tiêu trở thành mộ hạt nhân tăng trưởng kinh tế, trung tâm đô thị, công nghiệp, dịch vụ, du lịch của khu vực Nam Trung bộ.

Đây chính là một đặc khu kinh tế tổng hợp lấy khu cảng trung chuyển container quốc tế làm chủ đạo. Có một khu phi thuế quan và một khu thuế quan ngăn cách nhau bằng tường rào.

Đặc khu kinh tế Bắc Vân Phong với diện tích hơn 1500km2, trong đó có phần biển rộng 800km2. Lợi thế của nó là cảng nước sâu Đầm Môn, nó có thể tiếp nhận tàu 200 DWT ra vào dễ dàng, giao thông tiện lợi do nằm trên giao lộ Bắc Nam và Tây Nguyên.

Các đặc khu kinh tế khác trên thế giới

với tổng cộng 10 đặc khu kinh tế

Khu kinh tế đặc biệt Visakhapatnam

Khu kinh tế đặc biệt Kandla

Khu kinh tế đặc biệt Surat

Khu kinh tế đặc biệt Cochin

Khu kinh tế đặc biệt Indore

Khu kinh tế đặc biệt SEEPZ

Khu kinh tế đặc biệt Jaipur

Khu kinh tế đặc biệt Madras

Mahindra City, Chennai

Khu kinh tế đặc biệt Noida

Bắc Triều Tiên

Khu kinh tế tự do Iquique

Khu kinh tế tự do Poti, khu kinh tế tự do Samegrelo

Khu kinh tế tự do Incheon

Khu kinh tế tự do Busan-Jinhae

Khu kinh tế tự do Gwangyang

Khu kinh tế tự do Daegu

Khu kinh tế tự do Hoàng Hải

Khu tự do Kish

Khu tự do Aras

Khu tự do Anzali

Khu tự do Arvand

Khu tự do Chabahar

Khu tự do Gheshm

Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất

Khu tự do Jebel Ali

Thành phố Internet Dubai

Thành phố Truyền thông Dubai

Làng Tri thức Dubai

Thành phố Y tế Dubai

Trung tâm Tài chính Quốc tế Dubai

Khu DuBiotech

Khu Outsource Dubai

Khu Sản xuất và Truyền thông Quốc tế

Thành phố Studio Dubai

Khu kinh tế tự do Nakhodka

Khu kinh tế tự do Ingushetia

Khu kinh tế tự do Yantar, khu kinh tế tự do Kaliningrad

Khu thương mại tự do đặc biệt Okinawa

Philippines

Khu cảng tự do vịnh Subic

Khu kinh tế đặc biệt Clark

Đặc khu kinh tế Thâm Quyến

Đặc khu kinh tế Sán Đầu

Đặc khu kinh tế Chu Hải

Đặc khu kinh tế Hạ Môn

Đặc khu kinh tế Hải Nam

Khu vực Phố Đông của Thượng Hải thực chất cũng là một khu kinh tế tự do, dù tên gọi của nó không phải như vậy và cũng không phải là đặc khu kinh tế.

Cảng biển thương mại Odessa

Những bài học thành công và thất bại của đặc khu kinh tế

Những bài học thành công của đặc khu kinh tế

Trong số các đặc khu kinh tế thế giới thành công nhất phải kể đến chính là Thâm Quyến của Trung Quốc. Được thành lập vào năm 1980 từ một làng chài với 30 ngàn người dân, hiện nay Thẩm Quyến đã trở thành một trung tâm công nghệ tài chính tầm cỡ thế giới.

Đến năm 2016, Thâm Quyến với dân số lên đến 12 triệu người và có 3 triệu doanh nghiệp đăng ký hoạt động. Năm 2017, GDP của Thâm Quyến đạt gần 340 tỷ USD nhờ các ngành công nghệ cao bùng nổ như internet, công nghệ sinh học và viễn thông.

Bên cạnh mô hình đặc khu của Trung Quốc, mô hình đặc khu của Hàn Quốc cũng rất thành công, nó kết nối chặt chẽ với nền kinh tế ở trong nước.

Chính phủ của quốc gia này cũng đã đầu tư hàng tỷ USD nhằm xây dựng kết cấu hạ tầng hỗ trợ các đặc khu, hỗ trợ sự phát triển các ngành công nghệ cao, kinh tế quốc tế, giải trí và du lịch.

Đặc khu kinh tế Incheon của Hàn Quốc được đánh giá là thành phố có tiềm năng phát triển lớn thứ hai trên thế giới đến năm 2025.

Đặc khu Jeju mang lại nguồn thu nhập khổng lồ cho địa phương (GDP đạt 12 tỷ USD, trong đó du lịch chiếm tỷ trọng 25%). Ngoài ra nơi đây còn tạo nên thương hiệu du lịch nổi tiếng cho Hàn Quốc.

Kinh nghiệm từ các đặc khu kinh tế quốc tế thành công cho thấy nó cần phải phụ thuộc những yếu tố như sau:

+ Một là sự cam kết mạnh mẽ của chính phủ và chính quyền địa phương. Đây chính là yếu tố quan trọng hàng đầu để xây dựng niềm tin và thu hút các nhà đầu tư.

+ Hai là chính sách riêng biệt, đặc khu kinh tế cần có thể chế hành chính vượt trội, chính quyền đặc khu kinh tế được giao quyền tự chủ cao về lập pháp, hành pháp, tư pháp, đặc biệt là quyền lập quy về kinh tế. Bộ máy quản lý hành chính tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.

Thủ tục hành chính đơn giản, công khai và minh bạch. Nhà nước chỉ can thiệp hành chính khi cần thiết nhằm đảm bảo được sự ổn định, cạnh tranh lành mạnh.

Những đặc khu có quyền tự trị khá cao, đồng thời giải quyết được những vướng mắc tại đặc khu.

+ Ba là ưu đãi hấp dẫn. Nhằm thu hút nguồn lực vốn đầu tư trong và ngoài nước, các đặc khu kinh tế thường hay áp dụng nhiều biện pháp khuyến khích đặc biệt

chẳng hạn như xây dựng môi trường kinh doanh lý tưởng, miễn giảm thuế, cho phép tự do trung chuyển hàng hóa, đơn giản hóa các thủ tục thành lập doanh nghiệp, thủ tục hải quan, tự do hóa các dòng chảy vốn đầu tư, lợi nhuận,…

+ Bốn là sự gắn kết chặt chẽ nền kinh tế trong nước cùng với thị trường toàn cầu. Và để làm được điều này đòi hỏi những chính phủ cần phải đầu tư phát triển

hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, chính sách phát triển kinh tế của đặc khu phải có sự kết nối chặt chẽ, ảnh hưởng lan tỏa đến các vùng kinh tế địa phương trong nước.

+ Năm là phải xác định mục tiêu cụ thể, rõ ràng, phù hợp và hướng đến ngành nghề ưu tiên phát triển, có lợi thế so sánh vượt trội. Những ngành nghề thu hút đầu tư được điều chỉnh, cập nhật liên tục, bắt kịp với xu hướng

phát triển của thế giới với công nghệ cao, thông minh và thân thiện với môi trường, đồng thời xác định được các đối tác chiến lược cụ thể để duy trì mức cạnh tranh cao của đặc khu, chẳng hạn như ở Trung Quốc, Hàn Quốc, UAE, Singapore.

+ Sáu là vị trí chiến lược. Đa phần các đặc khu kinh tế thành công là nhờ xây dựng tại các khu vực có vị trí địa lý kinh tế, chính trị chiến lược. Chẳng hạn như ở gần cảng biển quốc tế, các tuyến giao thông quan trọng của đất nước, kết nối dễ dàng với khu vực và quốc tế,…

Nhờ vậy mà tạo điều kiện thuận lợi, tiềm năng phát triển toàn diện về kinh tế, xã hội, liền kề khu vực kinh tế phát triển và có khả năng thu hút nguồn vốn đầu tư,

nhất là đầu tư nước ngoài, nguồn nhân lực. Chẳng hạn như đặc khu Thâm Quyến, Sán Đầu, Chu Hải của Trung Quốc, Incheon và Jeju của Hàn Quốc, Dubai của UAE.

Những bài học thất bại của đặc khu kinh tế

Châu Phi chính là bài học về sự thất bại của nhiều đặc khu kinh tế. Nguyên nhân là do sự thiếu kết nối hạ tầng giao thông, năng lượng cần thiết. Bên cạnh đó còn thiếu kế hoạch quản lý, chiến lược hiệu quả hay gặp những vấn đề bất ổn về chính sách trong nhà nước.

Vào thập niên 90 của thế kỷ XX, chính phủ Nigeria đã rót khoản đầu tư cực lớn vào khu kinh tế tự do trọng điểm tại Calabar. Song, chỉ hơn một thập niên sau, chỉ còn một số công ty hoạt động tại đặc khu kinh tế.

Còn ở Kenya, khu chế xuất sau gần 20 năm hoạt động, chỉ xuất khẩu được hơn 400 triệu USD năm 2008. Còn với khu kinh tế tự do tại Nigeria, Senegal và Tanazania thậm chí thấp hơn, với tỷ lệ đóng góp vào xuất khẩu cả nước rất hạn chế.

Trong quá khứ, Ấn Độ cũng rất kỳ vọng vào các đặc khu kinh tế, song đến năm 2015 chỉ có khoảng gần 200 trên tổng số 560 đặc khu còn hoạt động. Trong đó, cũng có khá nhiều đặc khu không hoạt động hết công suất.

Nguyên nhân dẫn đến thất bại của mô hình đặc khu kinh tế tại Ấn Độ là do thành lập tràn lan và áp dụng mức đãi thuế dài hạn, tỉ lệ ưu đãi lớn, điều này gây thất thu nguồn ngân sách quốc gia. Bên cạnh đó, thể chế kinh tế và hành chính của các đặc khu kinh tế của Ấn Độ về cơ bản không có sự vượt trội rõ rệt.

Qua quá trình nghiên cứu đã chỉ ra nhiều nguyên tố dẫn đến thất bại của đặc khu kinh tế trên thế giới. Nó bao gồm việc vị trí không thuận lợi dẫn đến chi phí đầu tư kém, các chính sách thiếu tính cạnh tranh.

phần lớn dựa vào thời gian miễn hay ưu đãi thuế, các chính sách lao động cứng nhắc, kết cấu hạ tầng của các đặc khu kinh tế chưa đáp ứng được yêu cầu của nhà đầu tư, sự phối hợp không chặt chẽ giữa doanh nghiệp tư nhân và chính phủ trong việc phát triển kết cấu hạ tầng cho đặc khu kinh tế.

Bên cạnh đó còn có giá thuê và các dịch vụ mang tính bao cấp; mô hình quản lý và tổ chức bộ máy cồng kềnh,…

Thông qua kinh nghiệm quốc tế cho thấy, trong quá trình phát triển đặc khu với sự can thiệp từ chính quyền trung ương sẽ giảm cơ hội thử nghiệm các ý tưởng táo bạo ở các đặc khu.

Song, nếu trao quyền lực quá lớn cho đặc khu có thể xảy ra việc thiết lập các nhà nước bên trong nhà nước.

Điều đáng quan ngại hơn là các khoản ưu đãi để thu hút nhà đầu tư theo kéo sự méo mó bên trong các nền kinh tế.

Nếu không được quản lý chặt chẽ, các đặc khu trở thành nơi ẩn náu của hoạt động rửa tiền, chẳng hạn như việc lập các hóa đơn khống trong xuất khẩu.

Giải Quyết Quan Hệ Lợi Ích Kinh Tế Trong Thu Hút Fdi Của Nhật Bản

Nhật Bản là quốc gia thành công nhất ở châu Á trong thu hút FDI khi làn sóng xuất khẩu tư bản mở rộng thập kỷ 50 của thế kỷ trước. Một trong những yếu tố tạo nên sự thành công đó là chính quyền các cấp tập trung giải quyết tốt quan hệ lợi ích kinh tế giữa các chủ thể trong thu hút FDI. Bài viết bàn sâu thêm nội dung này làm bài học kinh nghiệm cho tỉnh Thái Nguyên.

Từ khóa: Quan hệ lợi ích kinh tế, thu hút FDI, bài học kinh nghiệm, tỉnh Thái Nguyên.

1. Giải quyết quan hệ lợi ích trong thu hút FDI của Nhật Bản

1.1. Hệ thống tổ chức và cơ chế thực hiện quan hệ lợi ích kinh tế trong thu hút FDI của Nhật Bản

Để thực hiện tốt quan hệ lợi ích kinh tế trong thu hút đầu tư FDI, chính phủ Nhật Bản đã thiết lập hệ thống tổ chức quản lý linh hoạt để thực hiện mối quan hệ lợi ích giữa các doanh nghiệp và người lao động, cụ thể: Hệ thống quan hệ lao động giữa các doanh nghiệp và người lao động có sự tham gia của 3 bên, gồm: Các cơ quan Nhà nước; Chủ doanh nghiệp và các tổ chức đại diện giới chủ doanh nghiệp; Người lao động và các tổ chức đại diện người lao động. Trong đó, tổ chức đại diện chủ doanh nghiệp lớn hay đại diện người sử dụng lao động ở các doanh nghiệp lớn ở Nhật Bản là Hiệp hội Liên đoàn doanh nghiệp Nhật Bản (Keidanren). Còn tổ chức đại diện cho các chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa là các Phòng thương mại. Tổ chức đại diện cho người lao động là tổ chức công đoàn, được chia ra làm 3 cấp từ thấp tới cao là công đoàn doanh nghiệp, công đoàn ngành và công đoàn trung ương. Tổ chức công đoàn trung ương lớn nhất ở Nhật Bản là Liên đoàn Lao động Nhật Bản (tiếng Nhật là Rengo). Các tổ chức đại diện chủ sử dụng lao động này thường tham gia thể hiện quan điểm và tiếng nói của mình trong các cuộc đối thoại ở cấp quốc gia và quốc tế. Trong giải quyết xung đột, mâu thuẫn lợi ích với người lao động, các tổ chức này thay mặt chủ doanh nghiệp đối thoại và ưu tiên sử dụng đối thoại với các tổ chức công đoàn, cũng như nghiêm túc lắng nghe ý kiến từ người lao động. Nhờ đó, mối quan hệ giữa chủ sử dụng lao động và người lao động trong các doanh nghiệp của Nhật Bản ít xảy ra xung đột gay gắt.

Còn các cơ quan nhà nước quản lý về quan hệ lao động giữa doanh nghiệp và người lao động là Bộ Y tế, lao động và phúc lợi xã hội[1] (viết tắt là (MHLW) và Ủy ban Quan hệ lao động Trung ương[2] (viết tắt là CRLC). Ở mỗi địa phương có 1 CRLC phụ trách để giải quyết các tranh chấp ban đầu giữa chủ doanh nghiệp và người lao động ở địa phương. Về cơ bản, CRLC đóng vai trò như trọng tài để giải quyết các vấn đề phát sinh trong mối quan hệ giữa chủ sử dụng lao động và lao động trong doanh nghiệp. Đồng thời, ngăn chặn hoặc hạn chế sự gia tăng của các xung đột, mâu thuẫn giữa hai bên khi các vấn đề này có tác động xấu tới xã hội và cộng đồng xung quanh địa bàn doanh nghiệp.

Để hài hòa lợi ích giữa chủ sử dụng lao động và người lao động, giải quyết vấn đề tiền lương cho người lao động là một trong những vấn đề cốt lõi. Ở Nhật Bản, trước năm 1990, các doanh nghiệp Nhật Bản thường trả lương cao cho người lao động theo thâm niên công tác của họ. Trả lương theo thâm niên làm việc thời kỳ này được đánh giá là nhân tố quan trọng góp phần tạo nên sự tăng trưởng thần kỳ của Nhật Bản. Ở hầu hết các doanh nghiệp đều có hệ thống việc làm trọn đời[3] và hệ thống tiền lương dài hạn[4] cho người lao động. Thông qua hai hệ thống này, mối quan hệ giữa người làm chủ và người làm thuê ngày càng gắn bó khăng khít với nhau. Giới chủ sẵn sàng đầu tư để người lao động của mình tăng kiến thức, kĩ năng làm việc, đặc biệt tiếp nhận quy trình công nghệ mới,… Người lao động được trả lương theo thâm niên làm việc và có cơ hội làm việc trọn đời với doanh nghiệp, công ty,… Nhờ đó, mà họ xác định doanh nghiệp như mái nhà thứ hai, họ gắn bó lâu dài và không ngừng nâng cao kiến thức, kĩ năng và tận tâm tận lực cống hiến để góp phần đưa hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp ngày một lớn mạnh. Bên cạnh đó còn được doanh nghiệp ghi nhận những đóng góp, được doanh nghiệp cam kết trả lương dài hạn và làm việc trọn đời, và được bảo vệ quyền lợi từ công đoàn doanh nghiệp nên người lao động ít có những mâu thuẫn lợi ích với doanh nghiệp.

Chế độ trả lương theo thâm niên làm việc sau một thời kỳ dài ở Nhật Bản đang tỏ ra bất cập trong bối cảnh cuộc cách mạng KH – CH hiện đại, vì làm cho người lao động bị lệ thuộc vào một môi trường nên ít sáng tạo. Vì vậy, những năm gần đây, Nhật Bản không áp dụng chế độ trả lương theo thâm niên của người lao động nữa mà chuyển sang chế độ dựa vào kết quả làm việc của người lao động. Điều này một phần giúp giải quyết vấn đề dân số già, lao động lớn tuổi chiếm tỉ lệ cao làm việc không hiệu quả. Mặt khác, tạo điều kiện khuyến khích khả năng sáng tạo của lực lượng lao động trẻ, cũng đồng thời giảm tải gánh nặng tiền lương cho các doanh nghiệp. Ở mỗi doanh nghiệp sẽ có tiêu chí về các mức độ hoàn thành công việc khác nhau, tùy vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, về cơ bản, tiêu chí một lao động làm việc hiệu quả là xét khả năng hoàn thành nhiệm vụ của họ, xét năng suất lao động và sự thông thạo trong công việc. Chủ doanh nghiệp coi trọng kết quả lao động của người lao động và vẫn áp dụng chế độ trả lương dài hạn đối với lao động tay nghề cao. Công đoàn cấp doanh nghiệp là cầu nối giữa các nhà quản lý doanh nghiệp với người lao động. Khi người lao động cam kết làm việc dài hạn ở doanh nghiệp thì việc công đoàn cấp doanh nghiệp đứng ra yêu cầu các cấp quản lý doanh nghiệp đảm bảo tiền lương, thưởng cho người lao động trở nên dễ dàng hơn. Doanh nghiệp cũng tạo cơ hội cho người lao động về các vị trí quản lý trong doanh nghiệp, nhờ đó người lao động có thêm động lực phấn đấu và làm việc dài hạn. Bên cạnh đó, tại các doanh nghiệp, các cấp quản lý, người lao động và công đoàn cấp doanh nghiệp thường xuyên tổ chức đối thoại và chia sẻ thông tin, trao đổi kiến thức với nhau, từ đó hài hòa được lợi ích cho người lao động và người sử dụng lao động.

1.2. Hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đảm bảo hài hòa lợi ích của các chủ thể trong thu hút FDI

Biểu đồ 1 cho thấy, trong giai đoạn từ năm 1946 tới 1974, số lượng các cuộc đình công ở Nhật Bản khá lớn. Điều này là do sau chiến tranh thế giới thứ 2, Nhật Bản rơi vào giai đoạn hỗn loạn trầm trọng. Đây là giai đoạn người lao động tham gia rất nhiều vào các phong trào chính trị nên căng thẳng liên tiếp xảy ra giữa chủ doanh nghiệp và người lao động. Sau khi Nhật Bản dần hồi phục lại nền kinh tế thì mối quan hệ này dần được cải thiện. Và cho tới nay, xu hướng các cuộc đình công giữa người sử dụng lao động và người lao động ngày càng giảm, thậm chí từ con số 5197 vụ năm 1974 xuống còn 38 vụ năm 2015. Đây là một kết quả quá lớn, nó phản ánh rõ mối quan hệ đã được cải thiện rất lớn giữa chủ lao động và người lao động trong các doanh nghiệp ở Nhật Bản.

Hình 1: Số vụ đình công ở Nhật Bản giai đoạn từ năm 1946 tới năm 2015 Nguồn: Takashi Araki, 2015

Về phương thức giải quyết xung đột giữa doanh nghiệp và người lao động, Nhật Bản luôn ưu tiên giải pháp đối thoại, cụ thể là thông qua hình thức thương lượng tập thể. Hình thức thương lượng tập thể này chủ yếu diễn ra ở phạm vi doanh nghiệp. Mặc dù Nhật Bản có 3 cấp công đoàn là cấp doanh nghiệp, cấp ngành và cấp quốc gia nhưng khi xảy ra xung đột giữa doanh nghiệp và người lao động, việc xử lý xung đột này thường chỉ cần ở cấp doanh nghiệp. Điều này cũng cho thấy phần nào mong muốn hài hòa lợi ích giữa hai bên, họ muốn giải quyết xung đột theo tính chất xây dựng và hợp tác thay vì đẩy mâu thuẫn lên cao. Trong vấn đề thương lượng tăng lương của người lao động, khi doanh nghiệp và người lao động không tiến tới được mức lương mà lao động mong muốn thì doanh nghiệp phải đáp ứng một mức lương sàn cho lao động. Khác với nhiều doanh nghiệp ở các nước phương Tây có xu hướng lựa chọn các nhà quản lý, lãnh đạo doanh nghiệp dựa trên nền tảng giáo dục và năng lực chuyên môn, các doanh nghiệp của Nhật Bản có xu hướng lựa chọn dựa trên kinh nghiệm làm việc. Đó là cơ hội và cũng là động lực để người lao động gắn bó lâu dài với doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp gặp khó khăn, người lao động Nhật Bản, đặc biệt là những người có mong muốn thăng tiến trong doanh nghiệp sẽ dễ dàng thông cảm cho khó khăn của nhà quản lý hơn. Hình 2 khái quát hóa mối quan hệ hợp tác giữa lao động và quản lý trong doanh nghiệp. Có thể thấy, doanh nghiệp và người lao động Nhật Bản cơ bản có sự tin tưởng lẫn nhau, cùng nhau hợp tác vì lợi ích chung của đôi bên. Họ hợp tác trên tinh thần tự giác, tự nguyên. Làm được điều này, chứng tỏ doanh nghiệp và người lao động đều có nhận thức rất lớn về vai trò của hài hòa lợi ích giữa các bên cũng nhau vì sự phát triển chung, vì hoạt động thu hút FDI vào phát triển công nghiệp nói riêng.

Hình 2: Mô hình hợp tác giữa lao động và quản lý trong doanh nghiệp Nhật Bản Nguồn: Hiroyuki Matsui, 2015

3. Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Thái Nguyên

Qua nghiên cứu kinh nghiệm của Nhật Bản về giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích kinh tế trong thu hút đầu tư FDI vào phát triển công nghiệp, có thể rút ra một số bài học cho tỉnh Thái Nguyên như sau:

Một là, phát huy tính chủ động và đề cao quan điểm đối thoại của hệ thống tổ chức nhằm đảm bảo lợi ích của các chủ thể trong thu hút FDI vào phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Đảm bảo hài hòa quan hệ lợi ích kinh tế giữa chủ sử dụng lao động và người lao động: Ở Nhật Bản khi người chủ lao động và người lao động có mâu thuẫn lợi ích với nhau, việc xử lý những mâu thuẫn này thường chỉ diễn ra ở phạm vi doanh nghiệp với sự tham gia của công đoàn doanh nghiệp. Các cuộc thương lượng được tổ chức thường xuyên và có trật tự, thường diễn ra vào mùa Xuân. Các bên tham gia thương lượng trên tinh thần xây dựng doanh nghiệp, công ty, thay vì đẩy mâu thuẫn lên cao hơn. Đối với tỉnh Thái Nguyên có thể học hỏi từ việc coi xung đột giữa chủ lao động và người lao động là một quy luật tất yếu. Từ đó, xây dựng hình thức xử lý xung đột trên quan điểm ưu tiên phương pháp hòa bình và đối thoại theo nguyên tắc xây dựng, vì sự phát triển chung của doanh nghiệp. Ở Nhật Bản, vai trò của tổ chức công đoàn là rất lớn và được cả hai phía là chủ doanh nghiệp và người lao động tin tưởng. Nhờ đó, thương lượng giữa đôi bên về cơ bản có hướng giải quyết tích cực. Đây là việc chúng ta cần học hỏi Nhật Bản.

Hai là, đổi mới phương thức hoạt động để phát huy vai trò của tổ chức công đoàn cơ sở.

Qua tham vấn kinh nghiệm hoạt động vừa bài bản vừa chủ động trong thực thi chức trách của tổ chúc công đoàn trong doanh nghiệp FDI của Nhật Bản cho thấy: Hiện nay, tiếng nói và vai trò của các tổ chức công đoàn ở các doanh nghiệp FDI ở Thái Nguyên chưa cao, dẫn đến kết quả là hoạt động thương lượng, hòa giải và đàm phán giữa chủ doanh nghiệp và người lao động đạt hiệu quả thấp. Chúng ta cần tăng cường tiếng nói cho các tổ chức công đoàn cấp doanh nghiệp, coi trọng vị trí và vai trò của tổ chức công đoàn các cấp. Tổ chức công đoàn phải là tổ chức thường xuyên quan sát và hiểu rõ tình hình thực tế của mối quan hệ giữa người chủ doanh nghiệp và người lao động để tìm giải pháp phù hợp hài hòa lợi ích cho đôi bên. Cũng chính vì cần sự sâu sát này nên công đoàn cơ sở nên được tăng cường tiếng nói và vai trò. Cần tinh giản bộ máy công đoàn cấp trên, thay vào đó tăng cường nhân lực cho công đoàn cấp dưới, đặc biệt là công đoàn doanh nghiệp. Kêu gọi hỗ trợ tài chính cho tổ chức công đoàn từ nhiều nguồn để công đoàn có khả năng hoạt động độc lập, giảm bớt sự phụ thuộc về kinh tế đốii với giới chủ nên không dám đấu tranh,… Bên cạnh đó, cần xây dựng pháp luật công đoàn để tạo ra những quy định nhằm bảo vệ các tổ chức công đoàn cũng như đảm bảo sự tự do, độc lập trong hoạt động của tổ chức công đoàn.

Ba là, tập trung giải quyết tốt quan hệ lợi ích giữa các chủ thể khi thu hồi đất là điểm nóng nhất của quan hệ lợi ích kinh tế trong thực hiện FDI để phát triển công nghiệp tại địa bàn cấp tỉnh.

Về hài hòa quan hệ lợi ích kinh tế giữa người dân với chính quyền và nhà đầu tư trong hoạt động thu hút FDI vào phát triển công nghiệp, đặc biệt là vấn đề quan hệ lợi ích khi thu hồi đất, giải phóng mặt bằng để xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất và cụm công nghiệp. Để thu hút nguồn vốn FDI vào phát triển công nghiệp, việc giải phóng mặt bằng để có đất xây dựng cho các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và khu chế xuất là không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, làm sao để việc thu hồi hay giải phóng mặt bằng đảm bảo được mặt bằng cho nhà đầu tư đồng thời không tác động xấu tới cuộc sống của người dân, đặc biệt là những người bị thu hồi đất là bài toán khó.

Tài liệu trích dẫn:

1 Ministry of Health, Labour and Welfare (MHLW)

2 The Central Labour Relations Commission (CLRC)

3 Lifetime employment

4 Length-of-service wage system

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Đỗ Đức Bình (2009), Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam – Những bất cập về chính sách và giải pháp hoàn thiện, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, (6).

Bộ Khoa học và Công nghệ (2013), Đầu tư nước ngoài trong hoạt động đổi mới và chuyển giao công nghệ ở Việt Nam, 25 năm đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, NXB Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Phan Việt Châu (2015), Kinh nghiệm thu hút FDI từ một số nước ASEAN, Tạp chí Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương, 433(9).

Đào Quang Thu (2013), Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam: 25 năm thu hút và phát triển, 25 năm Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, NXB Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Fujikazu Suzuki. (2014). Industrial relations and productivity in post war Japan Mitsuru Yamashita 2005, Japanese Labour-management Relations in an Era of Diversification of Employment Types: Diversifying Workers and the Role of Labour Unions, Japan Labour Review.

Hiroyuki Matsui. (2015). Employers’ Views on Japanese Labour Management Relations for International Forum on Tripartism, Keidanren (Japan Business Federation).

Masao Nakamura. (1993). Japanese Industrial Relations in an International Business Environment, North American Journal of Economics & Finance, 4(2), 225-251.

HOW DID JAPAN RESOLVEABSTRACT: ECONOMIC INTERESTS IN ATTRACTING FDI? AND LESSONS FOR THAI NGUYEN PROVINCE, VIETNAM

Master. DO THI THU TRANG

Ho Chi Minh National Academy of Politics

Japan is the most successful country in Asia in attracting foregin direct investment (FDI) when the wave of capital export expanded in the 50s of last century. One of the factors that makes Japan successed in attracting FDI is that the Japan’s authorities at all levels focused on resolving the economic interests between entities. This article further discusses this content to draw lessons for Thai Nguyen Province, Vietnam.

Keywords: Economic interests, FDI attraction, lessons, Thai Nguyen Province.

[Tạp chí Công Thương – Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ,

Số 17, tháng 7 năm 2020]