Top 2 # Thành Phần Cấu Tạo Của Máu Gồm Những Gì Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Máu Là Gì ? Bao Gồm Những Thành Phần Gì

Như chúng ta đã biết máu là một loại mô liên kết với một chất dịch cơ bản và các yếu tố hữu hình. Chất dịch cơ bản của máu được gọi là huyết tương (plasma). Lơ lững trong huyết tương là các thành phần tế bào, gồm 3 loại chính là: (1) Các hồng cầu (erythrocytes); (2) các bạch cầu (leukocytes) và (3) các tiểu cầu hay tấm máu (platelets). Cả ba loại tế bào nầy đều xuất phát từ các tế bào mô liên kết đặc biệt gọi là các nguyên bào (stem cell) trong tủy xương của cá thể trưởng thành (Hình 1).

Nếu toàn bộ máu được xử lý để chống đông và cho vào một ống nghiệm đặt thẳng đứng, các yếu tố tế bào sẽ từ từ lắng xuống đáy, để lại huyết tương ở phía trên. Bình thường các tế bào chiếm khoảng 40 – 50% tổng thể tích của máu, trong khi huyết tương chiếm khoảng 50 – 60%.

1. Các thành phần của máu.

Máu gồm 4 thành phấn chính: Huyết tương, Bạch cầu, Hồng cầu và tiểu cầu

a. Huyết tương:

Thành phần cơ bản của huyết tương là nước, chiếm khoảng 90%. Trong nước có một số lượng rất lớn các châtú hòa tan; nồng độ của các chất nầy thay đổi tùy theo hoạt động của sinh vật và khác biệt từ một phần của hệ cơ quan nầy đến hệ khác. Ðể tiện lợi, người ta thường chia những chất hòa tan nầy thành sáu loại: (1) các ion vô cơ và muối; (2) các protein huyết tương; (3) các chất dinh dưỡng hữu cơ; (4) các sản phẩm thải có nitơ; (5) các sản phẩm đặc biệt được chuyên chở; (6) các khí hòa tan.

– Các ion vô cơ và muối: Nồng độ của từng ion trong huyết tương được duy trì hằng định và được điều hòa nhờ nhiều yếu tố, đặc biệt là thận và các cơ quan bài tiết khác cũng như một số hormone. Sự ổn định này được gọi là sự cân bằng nội môi (homeostasis), đặc biệt cần thiết cho các chức năng của cơ thể. Khi nồng độ của các ion trong huyết tương tăng sẽ dẫn đến sự tăng các ion nầy trong dịch mô, gây ra những rối loạn nghiêm trọng. Nồng độ của các ion nầy cũng rất quan trọng trong việc xác định độ pH của dịch cơ thể.

– Các protein huyết tương: Các protein huyết tương chiếm khoảng 7 – 9% trọng lượng huyết tương, gồm ba loại chính: fibrinogen, albumin và globulin, hầu hết đều được tổng hợp từ gan. Các protein nầy có vai trò quan trọng trong việc xác định áp suất thẩm thấu của huyết tương, ảnh hưởng đến sự trao đổi chất ở mao mạch và sự cân bằng nước của cơ thể. Chúng giúp ổn định pH của huyết tương cũng như kiểm soát độ nhớt của huyết tương.

Ngoài ra, khi liên kết với các hormone, acid béo hoặc các lipid, một số vitamin và các chất khoáng, các protein sẽ hổ trợ cho sự vận chuyển các chất nầy bởi máu. Thêm vào đó, fibrinogen và một số globulin có vai trò trong sự đông máu, một số globulin khác tham gia vào đáp ứng miễn nhiễm.

– Các chất dinh dưỡng hữu cơ : Các chất hữu cơ trong huyết tương gồm glucoz, các chất béo, phospholipid, acid amin, acid lactic và cholesterol. Một số được hấp thu từ ruột, một số đi vào máu từ gan. Acid lactic là sản phẩm của sự đường phân, chúng được chuyên chở từ máu vào gan. Tại đây một số được dùng để tái tổng hợp carbohydrate, một số sau đó được oxy hoá thành . Cholesterol có vai trò chính là tiền chất (precursor) của hầu hết các hợp chất steroid quan trọng trong cơ thể.

– Các sản phẩm thải có nitơ: Huyết tương cũng chuyên chở các sản phẩm thải có nitơ từ các cơ quan bài tiết như thận. Ở động vật hữu nhũ, những chất thải nầy chủ yếu ở dạng ure, một số ít là ammonia và acid uric.

– Các sản phẩm đặc biệt được chuyên chở: Trong số các sản phẩm được huyết tương chuyên chở, các hormone có vai trò đặc biệt quan trọng. Cấu trúc, chức năng và cơ chế tác động của chúng đã được đề cập chi tiết ở chương 7.

– Các khí hòa tan: Có ba chất khí chính hòa tan trong huyết tương. Một là N2 khuếch tán từ phổi vào máu, trơ về mặt sinh lý. Hai khí khác là đặc biệt quan trọng sẽ được đề cập chi tiết ở phần sau.

b. Bạch cầu:

Các tế bào bạch cầu của người có nhân lớn, hình dạng không đều (Hình1). Chúng được tạo ra từ các nguyên bào đặc biệt trong tủy xương và được phóng thích vào dòng máu. Ngoài máu, bạch cầu còn có rất nhiều trong hệ bạch huyết. Chúng cũng có khả năng di chuyển tự do trong các mô liên kết. Một số có chuyển động kiểu amip và có thể thoát ra khỏi mạch máu và mạch bạch huyết bằng các xuyên qua thành mạch ở chỗ tiếp giáp giữa các tế bào nội bì. Thực chất các tế bào bạch cầu di chuyển trong một hệ thống liên tục bao gồm máu, bạch huyết và các mô liên kết. Các tế bào bạch cầu khác nhau giữ vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ cơ thể chống lại các vi sinh vật gây bệnh như chúng ta sẽ thấy trong phần sau.

c. Hồng cầu

Ở cá thể trưởng thành, các hồng cầu được sản sinh từ các nguyên bào trong tủy xương (Hình 1). Các tế bào hồng cầu chưa trưởng thành có nhân, ti thể, bộ Golgi… nhưng về cuối giai đoạn phát triển, chúng mất nhân và các bào quan khác, tích tụ nhiều hemoglobin, sau đó đi vào máu.

– Phân tử Hemoglobin (Hb) là một protein hình cầu có bốn chuỗi polypeptide. Mỗi chuỗi đều có chứa một nhóm phụ phức tạp gọi là nhóm Hem, có một nguyên tử Fe ở trung tâm (Hình 2).

d. Tiểu cầu

Tiểu cầu là những thể nhỏ, không màu, có nhiều hạt, kích thước nhỏ hơn hồng cầu rất nhiều. Tiểu cầu được sản sinh ra khi tế bào chất của các tế bào tủy xương (megakaryocyte) bị tách ra và đi vào hệ tuần hoàn.

– Chức năng chính của tế bào là giải phóng Thromboplastin để gây đông máu. Khi gặp một vật lạ hay bề mặt tiếp xúc nhám, tiểu cầu sẽ ngưng kết thành cục nhờ đó đóng kín vết thương. Ngoài ra khi tiểu cầu bị vỡ chúng sẽ phóng thích serotonin gây co mạch để cầm máu.

Sự đông máu là một sự thích nghi tiến hóa cho sự sửa chữa cấp thời của hệ tuần hoàn và để ngăn cản sự mất quá độ của dịch cơ thể khi mạch máu bị tổn thương. Sự đáp ứng tức thời của mạch máu là khép lại, làm cho máu chảy chậm lại. Các tiểu cầu ở vùng nầy cũng dính vào nhau và dính vào mô tổn thương, tạo ra một đám tiểu cầu bị ngưng kết. Ðám tiểu cầu có thể làm chậm hoặc làm ngừng chảy máu từ các mạch tổn thương nhưng chúng rất dễ bị đẩy ra khỏi vị trí. Chúng được ổn định bằng sự thành lập của một cục máu (một mạng lưới các sợi được tạo ra chung quanh các tiểu cầu ở các mô tổn thương). Các tế bào khác có thể đan xen vào các sợi làm căng cục máu. Các sợi nầy được hợp thành từ các protein fibrin. Sợi fibrin được thành lập trong quá trình đông máu khi một protein tan trong huyết tương là fibrinogen được biến đổi thành fibrin không hòa tan. Mặc dù quá trình nầy rất phức tạp và gồm hàng loạt phản ứng, để đơn giản nó có thể được tóm gọn lại trong hai phản ứng sau:

– Quá trình bắt đầu khi bề mặt của mạch máu bị tổn thương phóng thích ra một chất gọi là thromboplastin, chất nầy kết hợp với các protein khác của máu tạo thành một phức hợp được hoạt hóa. Phức hợp nầy biến đổi protein của huyết tương là prothrombin thành thrombin. Ion và một phospholipid chuyên biệt trên bề mặt của tiểu cầu cần thiết để cho quá trình xảy ra. Bước cuối cùng của quá trình là thrombin biến đổi fibrinogen thành fibrin.

– Nếu chẳng may một trong các yếu tố cần thiết cho quá trình đông máu bị thiếu, toàn bộ chuỗi phản ứng có thể bị hỏng. Thí dụ những người mắc bệnh máu khó đông (hemophilia) thiếu yếu tố VIII là một loại protein cần cho sự thành lập phức hệ hoạt động để biến đổi prothrombin thành thrombin. Không có protein nầy máu không đông được, do đó ngay cả một vết đứt nhỏ cũng làm cho người bệnh chảy máu đến chết.

Thành Phần Của Máu Và Cấu Tạo Của Máu

BTV

Thành phần của máu và cấu tạo của máu, như chúng ta đã biết máu đối với cơ thể con người vô cùng quan trọng và là một trong những thành phần giúp duy trì sự sống con người, máu là một…

Thành phần của máu và cấu tạo của máu, như chúng ta đã biết máu đối với cơ thể con người vô cùng quan trọng và là một trong những thành phần giúp duy trì sự sống con người, máu là một loại mô liên kết với một chất dịch cơ bản và các yếu tố hữu hình.

Các thành phần của máu

Máu là một loại mô liên kết với một chất dịch cơ bản và các yếu tố hữu hình. Chất dịch cơ bản của máu được gọi là huyết tương (plasma). Lơ lững trong huyết tương là các thành phần tế bào, gồm 3 loại chính là: Các hồng cầu (erythrocytes); các bạch cầu (leukocytes) và các tiểu cầu hay tấm máu (platelets). Cả ba loại tế bào này đều xuất phát từ các tế bào mô liên kết đặc biệt gọi là các nguyên bào (stem cell) trong tủy xương của cá thể trưởng thành.

Nếu toàn bộ máu được xử lý để chống đông và cho vào một ống nghiệm đặt thẳng đứng, các yếu tố tế bào sẽ từ từ lắng xuống đáy, để lại huyết tương ở phía trên. Bình thường các tế bào chiếm khoảng 40 – 50% tổng thể tích của máu, trong khi huyết tương chiếm khoảng 50 – 60%.

Máu gồm 4 thành phấn chính: Huyết tương, Bạch cầu, Hồng cầu và tiểu cầu.

Các thành phần của máu có huyết tương

Huyết tương là thành phần cơ bản là nước, chiếm khoảng 90%. Trong nước có một số lượng rất lớn các chất hòa tan, nồng độ của các chất nầy thay đổi tùy theo hoạt động của sinh vật và khác biệt từ một phần của hệ cơ quan nầy đến hệ khác. Ðể tiện lợi, người ta thường chia những chất hòa tan này thành sáu loại: các ion vô cơ và muối; các protein huyết tương; các chất dinh dưỡng hữu cơ; các sản phẩm thải có nitơ; các sản phẩm đặc biệt được chuyên chở; các khí hòa tan..

Trong đó, các ion vô cơ và muối nồng độ của từng ion trong huyết tương được duy trì hằng định và được điều hòa nhờ nhiều yếu tố, đặc biệt là thận và các cơ quan bài tiết khác cũng như một số hormone. Sự ổn định này được gọi là sự cân bằng nội môi (homeostasis), đặc biệt cần thiết cho các chức năng của cơ thể. Khi nồng độ của các ion trong huyết tương tăng sẽ dẫn đến sự tăng các ion nầy trong dịch mô, gây ra những rối loạn nghiêm trọng. Nồng độ của các ion nầy cũng rất quan trọng trong việc xác định độ pH của dịch cơ thể.

Các protein huyết tương chiếm khoảng 7 – 9% trọng lượng huyết tương, gồm ba loại chính: fibrinogen, albumin và globulin, hầu hết đều được tổng hợp từ gan. Các protein nầy có vai trò quan trọng trong việc xác định áp suất thẩm thấu của huyết tương, ảnh hưởng đến sự trao đổi chất ở mao mạch và sự cân bằng nước của cơ thể. Chúng giúp ổn định pH của huyết tương cũng như kiểm soát độ nhớt của huyết tương.

Ngoài ra, khi liên kết với các hormone, acid béo hoặc các lipid, một số vitamin và các chất khoáng, các protein sẽ hổ trợ cho sự vận chuyển các chất nầy bởi máu. Thêm vào đó, fibrinogen và một số globulin có vai trò trong sự đông máu, một số globulin khác tham gia vào đáp ứng miễn nhiễm.

Các chất hữu cơ trong huyết tương gồm glucoz, các chất béo, phospholipid, acid amin, acid lactic và cholesterol. Một số được hấp thu từ ruột, một số đi vào máu từ gan. Acid lactic là sản phẩm của sự đường phân, chúng được chuyên chở từ máu vào gan. Tại đây một số được dùng để tái tổng hợp carbohydrate, một số sau đó được oxy hoá thành . Cholesterol có vai trò chính là tiền chất (precursor) của hầu hết các hợp chất steroid quan trọng trong cơ thể.

Huyết tương cũng chuyên chở các sản phẩm thải có nitơ từ các cơ quan bài tiết như thận. Ở động vật hữu nhũ, những chất thải nầy chủ yếu ở dạng ure, một số ít là ammonia và acid uric.

Trong số các sản phẩm được huyết tương chuyên chở, các hormone có vai trò đặc biệt quan trọng. Cấu trúc, chức năng và cơ chế tác động của chúng đã được đề cập chi tiết ở chương 7.

Có ba chất khí chính hòa tan trong huyết tương. Một là N2 khuếch tán từ phổi vào máu, trơ về mặt sinh lý. Hai khí khác là đặc biệt quan trọng sẽ được đề cập chi tiết ở phần sau.

Các thành phần của máu có Bạch cầu:

Các tế bào bạch cầu của người có nhân lớn, hình dạng không đều. Chúng được tạo ra từ các nguyên bào đặc biệt trong tủy xương và được phóng thích vào dòng máu. Ngoài máu, bạch cầu còn có rất nhiều trong hệ bạch huyết. Chúng cũng có khả năng di chuyển tự do trong các mô liên kết. Một số có chuyển động kiểu amip và có thể thoát ra khỏi mạch máu và mạch bạch huyết bằng các xuyên qua thành mạch ở chỗ tiếp giáp giữa các tế bào nội bì. Thực chất các tế bào bạch cầu di chuyển trong một hệ thống liên tục bao gồm máu, bạch huyết và các mô liên kết. Các tế bào bạch cầu khác nhau giữ vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ cơ thể chống lại các vi sinh vật gây bệnh như chúng ta sẽ thấy trong phần sau.

Các thành phần của máu có Hồng cầu:

Ở cá thể trưởng thành, các hồng cầu được sản sinh từ các nguyên bào trong tủy xương. Các tế bào hồng cầu chưa trưởng thành có nhân, ti thể, bộ Golgi… nhưng về cuối giai đoạn phát triển, chúng mất nhân và các bào quan khác, tích tụ nhiều hemoglobin, sau đó đi vào máu.

– Phân tử Hemoglobin (Hb) là một protein hình cầu có bốn chuỗi polypeptide. Mỗi chuỗi đều có chứa một nhóm phụ phức tạp gọi là nhóm Hem, có một nguyên tử Fe ở trung tâm.

Các thành phần của máu có Tiểu cầu:

Tiểu cầu là những thể nhỏ, không màu, có nhiều hạt, kích thước nhỏ hơn hồng cầu rất nhiều. Tiểu cầu được sản sinh ra khi tế bào chất của các tế bào tủy xương (megakaryocyte) bị tách ra và đi vào hệ tuần hoàn.

– Chức năng chính của tế bào là giải phóng Thromboplastin để gây đông máu. Khi gặp một vật lạ hay bề mặt tiếp xúc nhám, tiểu cầu sẽ ngưng kết thành cục nhờ đó đóng kín vết thương. Ngoài ra khi tiểu cầu bị vỡ chúng sẽ phóng thích serotonin gây co mạch để cầm máu.

Sự đông máu là một sự thích nghi tiến hóa cho sự sửa chữa cấp thời của hệ tuần hoàn và để ngăn cản sự mất quá độ của dịch cơ thể khi mạch máu bị tổn thương. Sự đáp ứng tức thời của mạch máu là khép lại, làm cho máu chảy chậm lại. Các tiểu cầu ở vùng nầy cũng dính vào nhau và dính vào mô tổn thương, tạo ra một đám tiểu cầu bị ngưng kết. Ðám tiểu cầu có thể làm chậm hoặc làm ngừng chảy máu từ các mạch tổn thương nhưng chúng rất dễ bị đẩy ra khỏi vị trí. Chúng được ổn định bằng sự thành lập của một cục máu (một mạng lưới các sợi được tạo ra chung quanh các tiểu cầu ở các mô tổn thương). Các tế bào khác có thể đan xen vào các sợi làm căng cục máu. Các sợi nầy được hợp thành từ các protein fibrin. Sợi fibrin được thành lập trong quá trình đông máu khi một protein tan trong huyết tương là fibrinogen được biến đổi thành fibrin không hòa tan. Mặc dù quá trình nầy rất phức tạp và gồm hàng loạt phản ứng, để đơn giản nó có thể được tóm gọn lại trong hai phản ứng sau:

– Quá trình bắt đầu khi bề mặt của mạch máu bị tổn thương phóng thích ra một chất gọi là thromboplastin, chất nầy kết hợp với các protein khác của máu tạo thành một phức hợp được hoạt hóa. Phức hợp nầy biến đổi protein của huyết tương là prothrombin thành thrombin. Ion và một phospholipid chuyên biệt trên bề mặt của tiểu cầu cần thiết để cho quá trình xảy ra. Bước cuối cùng của quá trình là thrombin biến đổi fibrinogen thành fibrin.

– Nếu chẳng may một trong các yếu tố cần thiết cho quá trình đông máu bị thiếu, toàn bộ chuỗi phản ứng có thể bị hỏng. Thí dụ những người mắc bệnh máu khó đông (hemophilia) thiếu yếu tố VIII là một loại protein cần cho sự thành lập phức hệ hoạt động để biến đổi prothrombin thành thrombin. Không có protein nầy máu không đông được, do đó ngay cả một vết đứt nhỏ cũng làm cho người bệnh chảy máu đến chết.

Các thành phần của sơn với những hiểu biết cơ bản theo định nghĩa tổng quát, SƠN không phải là chất lỏng ví dụ như sơn bột tĩnh điện hoặc sơn bột nóng chảy thì người ta thường…

Cấu Tạo Của Cây Bút Bi Gồm Những Phần Nào?

Chiếc Bút Bi Chính Là Người Bạn Đồng Hành Không Thể Thiếu Trong Công Việc Và Cuộc Sống

Bút bi là một vật dụng quen thuộc với tất cả mọi người dùng để viết, vẽ hàng ngày. Bút bi là loại bút được dùng phổ biến bởi nó có giá rẻ, thuận tiện, dễ dàng sử dụng.

Những chiếc bút bi đã là người bạn đồng hành từ lâu của bao thế hệ học sinh. Ngày nay, chiếc bút gắn bó thân thiết với cuộc sống hằng ngày. Bạn có thể mang theo chiếc bút để có thể ghi lại ngay những ý tưởng vừa nảy ra. Đặc biệt, đây còn là món quà tặng được nhiều người lựa chọn dành cho người thân, khách hàng, đối tác.

Cấu Tạo Của Cây Bút Bi Như Thế Nào ?

Cấu tạo của bút bi khá đơn giản, gồm 3 phần cơ bản sau:

Vỏ bút bi thường được làm bởi chất liệu nhựa cứng, đôi khi là gỗ, kim loại. Đây đều là những chất liệu khá rẻ bởi vậy mà bút bi có giá thành rất rẻ. Trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại bút bi với màu sắc và mẫu mã khác nhau. Chính sự đa dạng này giúp cho người dùng dễ dàng lựa chọn, sử dụng bút.

Ruột bút chính là phần ngòi bút (ống mực), có cấu tạo phức tạp hơn vỏ bút. Bộ phận này được làm bằng nhựa cứng hoặc kim loại, có chứa ống mực.

Ống mực có hình trụ nhỏ, rỗng ruột và có mực ở bên trong. Phần đầu của bút bi được gắn một viên bi lăn. Khi viết, mực được đẩy ra và viên bi lăn tạo ra hình thù, chữ viết theo ý của người sử dụng.

Bộ Phận Điều Chỉnh Ngòi Bút

Đây là một bộ phận không thể thiếu trong cấu tạo bút bi. Nó có chức năng điều chỉnh ngòi bút di chuyển ra, vào vỏ bút. Bộ phận này được cấu tạo nên bởi lò xo và nút bấm. Hiện nay, nhiều loại bút được thiết kế bộ phận điều chỉnh bằng cách xoay chốt ở thân.

Những Công Dụng Đặc Biệt Của Bút Bi

Tuy cấu tạo của bút bi khá đơn giản, tuy nhiên nó lại có những công dụng vô cùng đặc biệt.

Sử Dụng Bút Bi Để Ghi Chép Mỗi Ngày

Dù bạn là ai, làm công việc gì thì bút bi chính là một vật dụng không thể thiếu. Nó giúp chúng ta ghi chép những công việc hàng ngày, những thông tin quan trọng,…. Đây chắc chắn là một người bạn đồng hành không thể thiếu của tất cả mọi người ở bất cứ đâu.

Mua Bút Bi Làm Quà Tặng Ý Nghĩa

Ngoài công dụng chính dùng để viết thì bút bi cũng là một món quà tặng vô cùng ý nghĩa. Bạn có thể mua chúng tặng bạn bè, người thân, đối tác hay khách hàng trong những dịp quan trọng.

Chiếc bút bi thể hiện tấm lòng của người tặng, như một lời chúc sự thành công, may mắn đến người nhận. Bút bi gắn với hình ảnh về học vấn, sự nghiệp, gắn với hình ảnh người thầy, người cô, học trò… Vì thế mà đây là món quà tặng mang giá trị nhân văn và tinh thần rất cao.

Dùng Bút Bi Để Quảng Cáo

Cách Bảo Quản Bút Bi Bền Lâu

Để duy trì tuổi thọ của bút bi thì việc bảo quản chúng cũng vô cùng quan trọng.

Để mực ra đều, viết trơn thì sau khi sử dụng bạn phải đậy nắp bút hoặc bấm tắt bút thật cẩn thận. Khi không sử dụng, bạn không nên để đầu bút tiếp xúc quá lâu với không khí, điều này sẽ làm cho mực bị khô và dễ tắc mặc khi sử dụng.

Hạn chế làm rơi bút xuống đất để tránh làm vỡ vỏ bút cũng như viên bi bên trong. Nếu như làm rơi bút, hãy dùng giấy lau sạch phần ngòi trước khi sử dụng.

Trong trường hợp bút bị tắc mực, hãy tháo ruột bút và dùng hơi thổi mạnh để mực được đẩy xuống phía dưới. Lúc này bút sẽ viết bình thường trở lại.

Thông tin liên hệ:

Hotline: 0936 246 191

Email liên hệ: sotaygiare@gmail.com

Địa chỉ: Số 1306/5 đường Quang Trung, Phường 14 – Quận Gò Vấp – Thành phố Hồ Chí Minh

Hai thẻ thay đổi nội dung bên dưới.

Là cầu nối gắn kết những mối quan hệ, quà tặng đang ngày càng chiếm ưu thế trong cuộc sống con người. Một công ty sản xuất quà tặng chuyên nghiệp chính là một nơi dành trọn tâm huyết của mình để sáng tạo nên những món quà ý nghĩa. Gift4u chính là nơi mà bạn có thể dành trọn niềm tin trong việc đưa ra một giải pháp quà tặng độc đáo và ấn tượng. Những sản phẩm mà Gift4u mang đến chắc chắn đảm bảo vừa đẹp mắt, có tính thẩm mỹ cao vừa có chiều sâu ý nghĩa bên trong một cách sâu sắc. Gift4u tin rằng một món quà đảm bảo cả hai yếu tố này thì mới là một món quà đúng nghĩa.

Quà Tặng Gift4u – Trao Quà Tặng Nhận Yêu Thương

Average rating:

Cấu Tạo Và Thành Phần Của Hồng Cầu Trong Máu Hiểu Như Thế Nào

Hồng cầu là tên gọi một loại tế bào quen thuộc của cơ thể người. Tuy nhiên, hồng cầu là gì cũng như cấu tạo và thành phần của hồng cầu bao gồm những gì là điều không phải ai cũng biết. Cùng Lily & WeCare tìm hiểu kĩ hơn về loại tế bào quan trọng của cơ thể người này.

1.Hồng cầu là gì?

Hồng cầu, còn gọi là hồng huyết cầu là loại tế bào máu có chức năng chính là hô hấp, chuyên vận chuyển hemoglobin, qua đó đưa O2 từ phổi đến các mô trong cơ thể. Enzyme carbonic anhydrase trong hồng cầu làm tăng lên hàng nghìn lần vận tốc của phản ứng CO2 với H2O tạo ra H2CO3. Nhờ đó mà nước trong huyết tương vận chuyển CO2 dưới dạng các ion bicarbonat (HCO3-) từ các mô trở lại phổi để tái tạo CO2 và thải ra dưới thể khí. Khi ở cơ thể người, hemoglobin cần phải được chứa trong hồng cầu, vì nếu hemoglobin ở dạng tự do, nó sẽ dần thấm qua các mao mạch và bị thất thoát qua nước tiểu.

2. Cấu tạo và thành phần của hồng cầu là gì?

Cấu tạo của hồng cầu là gì?

Hồng cầu chiếm đến hơn 99% trong các thành phần hữu hình của máu. Hồng cầu trong cơ thể người có dạng hình đĩa lõm hai mặt. Hồng cầu trưởng thành và có thể lưu thông trong máu là tế bào không có nhân. Hình dạng này có hai lợi điểm như sau:

– Giúp tăng diện tích bề mặt tiếp xúc dẫn đến tăng khả năng khuếch tán khí thêm 30% so với hồng cầu có dạng hình cầu có cùng thể tích.

– Làm cho tế bào hồng cầu trở nên cực kỳ mềm dẻo, dễ dàng đi qua các mao mạch hẹp mà không gây tổn thương mao mạch cũng như tổn thương bản thân hồng cầu.

Cấu trúc này của hồng cầu đặc biệt phù hợp với chức năng vận chuyển khí oxy.

Thành phần của hồng cầu là gì?

Thành phần chung của hồng cầu bao gồm: nước 63-67%, chất khô 33-37% trong đó: prôtêin chiếm 28%; các chất có nitơ chiếm 0,2%, ure chiếm 0,02%, glucid chiếm 0,075%, lipid và lecithin, cholesterol chiếm 0,3%.

Hồng cầu có thành phần chính là hemoglobin (Hb), chiếm đến 34% trọng lượng (với nồng độ 34 g/dl). Cấu trúc của hồng cầu đặc biệt với nhiều thành phần khác nhau tạo thành. Hai thành phần quan trọng nhất của hồng cầu được nghiên cứu nhiều nhất đó là hemoglobin và màng hồng cầu. Hemoglobin là thành phần rẩt quan trọng trong sự vận chuyển khí của máu. Còn màng hồng cầu mang nhiều kháng nguyên nhóm máu.

3. Chức năng của hồng cầu là gì?

Chức năng vận chuyển khí oxy và carbonic

Hồng cầu đảm nhiệm việc vận chuyển khí oxy từ phổi đến mô và vận chuyển khí carbonic từ mô đến phổi nhờ chức năng của hemoglobin

Chức năng điều hoà cân bằng acid – base của máu

Chức năng này do hệ đệm của hemoglobinat đảm nhiệm. Đồng thời với hệ đệm của hemoglobinat, hồng cầu còn tạo ra HC03 ngay trong qúa trình vận chuyển C02, tạo ra hệ đệm bicarbonat HC03/H2C03, đây là hệ đệm quan trọng nhất của máu.

Chức năng tạo độ nhớt của máu

Hồng cầu là thành phần chủ yếu tạo nên độ nhớt của máu, nhờ độ nhớt này mà tốc độ tuần hoàn, nhất là tuần hoàn mao mạch được hằng định. Tốc độ tuần hoàn hằng định là điều kiện rất thuận lợi cho sự trao đổi vật chất giữa tế bào với máu. Khi độ nhớt của máu thay đổi sẽ dẫn đến sự thay đổi tốc độ tuần hoàn và làm rối loạn trao đổi vật chất của tế bào.

4. Số lượng hồng cầu

Ở người bình thường, số lượng hồng cầu trong máu ngoại vi có số lượng là:

– Nữ : 4.700.000 ± 300.000/mm3

– Nam : 5.400.000 ± 300.000 /mm3

Số lượng hồng cầu thay đổi tùy thuộc các điều kiện cụ thể. Tăng chút ít sau bữa ăn, khi lao động nặng, vào mùa lạnh, khi mất mồ hôi hoặc khi ở độ cao hơn 700mm so với mặt biển. Số lượng hồng cầu ở trẻ sơ sinh cao trong vòng một hai tuần đầu, sau đó xảy ra hiện tượng vỡ hồng cầu gây vàng da sinh lý. Số lượng hồng cầu giảm trong trường hợp uống nước nhiều, ở các trạng thái bệnh lý như xuất huyết, bệnh thiếu máu, cuối kỳ kinh nguyệt của phụ nữ.