Top 15 # Trình Bày Cấu Tạo Của Ruột Non Sinh Học 8 / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Cấu Tạo Và Chức Năng Của Ruột Non / 2023

Ruột non dài khoảng 5-9m, trung bình 6.5m, là đoạn dài nhất của ống tiêu hóa, đi từ môn vị của dạ dày đến góc tá- hỗng tràng. Ruột non gồm ba phần là tá tràng, hỗng tràng và hồi tràng.

Tá tràng (duodenum):

Tá tràng là phần đầu của ruột non, đi từ môn vị (ở ngang sườn phải đốt sống lưng thứ nhất) đến góc tá- hỗng tràng (ở ngang sườn trái đốt thắt lưng thứ II).

Tá tràng dài khoảng 25cm, uốn cong hình chữ C hướng sáng trái và ôm quanh đầu tụy. Tá tràng đi theo một đường gấp khúc gồm bốn phần: trên, xuống, ngang và lên.

Phần trên từ môn vị chạy lên trên, sang phải và ra sau ở sườn phải thân đốt sống lưng I. Phần trên có đoạn đầu hơi phình to gọi là bóng tá tràng hay hành tá tràng (ampulla), và di động giữa các mạc nối.

Phần xuống: chạy xuống ở bên phải đầu tụy, dọc theo bờ phải các thân đốt sống lưng I-III. Phần này ở trước và dính với phần trong mặt trước thận phải. Chỗ gấp góc giữa phần trên và xuống gọi là góc tá tràng trên.

Phần ngang: chạy ngang từ phải sáng trái ở dưới đầu tụy, bắt chéo trước tĩnh mạch chủ dưới, thân đốt sống lưng II và động mạch chủ bụng. Chỗ gấp góc giữa phần xuống và phần ngang của tá tràng gọi là góc tá tràng dưới.

Phần lên: chạy lên dọc bờ trái động mạch chủ bụng và tận cùng tại góc tá hỗng tràng ở ngang sườn trái thân đốt thắt lưng II.

Hỗng tràng và hồi tràng:

Hỗng tràng và hồi tràng dài khoảng 6-7m, 4/5 đoạn ở trên gọi là hỗng tràng, ranh giới hai phần không rõ ràng. Chúng uốn thành 14-16 quai hình chữ U bắt đầu từ nơi hỗng tràng liên tiếp với phần trên của tá tràng và tận hết ở chỗ hồi tràng đổ vào manh tràng. Ở trên, các quai chữ U nằm ngang, ở dưới các quai thường nằm dọc. Hỗng tràng và hồi tràng được treo vào thành lưng bởi mạc treo ruột non.

Hỗng tràng và hồi tràng nằm trong ổ bụng, dưới đại tràng ngang và mạc trao đại tràng ngang, phía trên là các tạng trong chậu hông bé, hai bên là đại tràng lên và đại tràng xuống. Hỗng tràng- hồi tràng được phủ ở phía trước bởi mạc nối lớn.

Cấu tạo của ruột non giống như cấu tạo chung của thành ống tiêu hóa gồm 4 lớp: màng bọc, lớp cơ, lớp dưới niêm mạc và lớp niêm mạc.

Màng bọc: màng bọc của tá tràng cố định là phúc mạc ở mặt trước và mô liên kết ở mặt sau . Phúc mạc của hỗng tràng- hồi tràng được kết nối với phúc mạc thành bụng qua một nếp phúc mạc gọi là mạc treo ruột non. Phúc mạc gồm hai lớp là lớp thanh mạc và tấm dưới thanh mạc.

Lớp cơ gồm hai lớp cơ trơn. Các sợi cơ của lớp ngoài xếp theo chiều dọc (lớp cơ dọc), các sợi cơ của lớp trong còng quanh thành ống tiêu hóa (lớp cơ vòng). Giữa hai lớp có các mạch máu, mạch bạch huyết và một đám rối thần kinh tự chủ chi phối cho cơ trơn. Lớp cơ tạo các nhu động ruột đẩy các thành phần trong hệ tiêu hóa về phía trước, nhào trộn thức ăn với dịch tiêu hóa. Tại một số điểm trên đường đi, lớp cơ vòng dày lên tạo nên các cơ thắt. Cơ thắt có vai trò làm chậm sự dịch chuyển về phía trước của các thành phần bên trong ống tiêu hóa, giúp cho sự tiêu hóa và hấp thu có thời gian diễn ra.

Lớp dưới niêm mạc: là lớp mô liên kết lỏng lẻo chứa các đám rối mạch máu và thần kinh, các mạch bạch huyết và các mô dạng bạch huyết với số lượng khác nhau tùy từng loại. Các mạch máu bao gồm các tiểu động mạch, các mao mạch, các tiểu tĩnh mạch. Đám rối thần kinh trong lớp này là đám rối dưới niêm mạc, có vai trò chi phối cho niêm mạc.

Lớp niêm mạc có chức năng bảo vệ, tiết dịch và hấp thu. Ở ruột non, niêm mạc là lớp tế bào thượng mô trụ xen kẽ với tế bào tiết nhầy. Ở dưới bề mặt của thượng mô trụ có những tuyến đổ dịch tiêu hóa vào lòng ống tiêu hóa.

Niêm mạc ruột non có nhiều nếp gấp hình van, bề mặt niêm mạc được bao phủ bằng những nhung mao. Mỗi mm2 niêm mạc có khoảng 20-40 nhung mao. Mỗi nhung mao là một chỗ lồi lên hình ngón tay, được bao phủ bởi một lớp tế bào biểu mô hình cột. Bờ tự do của các tế bào biểu mô của nhung mao lại chia thành những vi lông mao nên làm tăng diện tích hấp thu của ruột non lên đến 250-300 m2 . Trong mỗi nhung mao có một mạng lưới mao mạch và mạch bạch huyết. Các tế bào ruột sẽ bị rơi vào lòng ruột và được thay thế bằng các tế mới, tốc độ luân chuyển của tế bào ruột là 1-3 ngày.

Mạch máu và thần kinh ở ruột non:

Động mạch: hỗng tràng và hồi tràng được cung cấp máu bởi 15-18 nhánh của động mạch mạc treo tràng trên.

Tĩnh mạch: các tĩnh mạch đi kèm động mạch rồi đổ vào tĩnh mạch mạc treo tràng trên.

Bạch huyết đổ vào các hạch tạng treo tràng (nodi lymphatici viscerales mesenteric)

Thần kinh gồm các nhánh tách ra từ đám rồi mạc treo tràng trên (plexus mesentericus superior).

Chức năng ruột non là gì? Nhờ diện tích hấp thu lớn cùng với cấu trúc đặc biệt của niêm mạc ruột mà ruột non là nơi xảy ra sự tiêu hóa và hấp thu thức ăn chính của cơ thể.

Ở ruột non, thức ăn được nhào trộn với dịch tụy, dịch mật và dịch ruột. Các kiểu vận động của thành ruột hỗ trợ cho quá trình tiêu hóa gồm có: vận động lắc lư, co bóp phân đoạn, co bóp nhu động, vận động của nhung mao.

Dưới sự tác động của các men tiêu hóa, các thức ăn là protein, lipid, glucid được tiêu hóa thành những sản phẩm cuối cùng có thể hấp thu được là các acid amin, monosaccarid, acid béo và các glycerol. Các chất dinh dưỡng được hấp thu qua thành ruột, theo các đường tĩnh mạch về gan, sau đó theo tĩnh mạch chủ dưới về tim.

Lượng dịch được hấp thu hàng ngày khoảng 8-9 lít bao gồm dịch tiêu hóa và dịch của thức ăn, khoảng 77.5 lít được hấp thu ở ruột non, còn lại xuống ruột già.

Sinh Học 8 Bài 8: Cấu Tạo Và Tính Chất Của Xương / 2023

Tóm tắt lý thuyết

a. Cấu tạo xương dài

Cấu tạo một xương dài gồm có:

Hai đầu xương là mô xương xếp có các nan xương xếp theo kiểu vòng cung, tạo ra các ô trống chứa tủy đỏ. Bọc hai đầu xương là lớp sụn.

Đoạn giữa là thân xương. Thân xương hình ống, cấu tạo từ ngoài vào trong có: màng xương mỏng, tiếp đến là mô xương cứng, trong cùng là khoang xương. Khoang xương chứa tủy xương, ở trẻ em là tủy đỏ; ở người già tủy đỏ được thay bằng mô mỡ màu vàng nên gọi là tủy vàng.

Lớp màng xương, ở ngoài cùng, gồm 2 lớp: lớp ngoài (ngoại cốt mạc) là lớp mô liên kết sợi chắc, mỏng, dính chặt vào xương, có tính đàn hồi, trên màng có các lỗ nhỏ. Lớp trong gồm nhiều tế bào sinh xương (tạo cốt bào) có nhiều mạch máu và thần kinh đến nuôi xương. Nhờ lớp tế bào này mà xương có thể lớn lên, to ra.

Phần xương đặc: rắn, chắc, mịn, vàng nhạt.

Phần xương xốp: do nhiều bè xương bắt chéo nhau chằng chịt, để hở những hốc nhỏ trông như bọt biển

Phần tủy xương: nằm trong lớp xương xốp. Có 2 loại tủy xương:

Tủy đỏ là nơi tạo huyết, có ở trong các hốc xương xốp (ở thai nhi và trẻ sơ sinh tủy đỏ có ở tất cả các xương)

Tủy vàng chứa nhiều tế bào mỡ, chỉ có trong các ống tủy ở thân xương dài người lớn, bên trong cùng lớp xương xốp.

b. Chức năng của xương dài

c. Cấu tạo xương ngắn và xương dẹt

Đối với xương ngắn:

Hình dáng và cấu tạo nói chung giống xương dài, nhưng cấu tạo chủ yếu là mô xương xốp. (Ví dụ: xương ngón tay, ngón chân…)

Cấu tạo cũng tương tự như cấu tạo ở đầu xương dài: ngoài là một lớp xương đặc, mỏng; trong là một khối xương xốp chứa tủy đỏ.

Đối với xương dẹt:

Là những xương rộng, mỏng với 2 bản xương đặc nằm 2 bên, giữa là mô xương xốp. (Ví dụ: xương bả vai, các xương ở hộp sọ).

Có cấu tạo gồm 2 bản xương đặc, giữa là một lớp xương xốp.

Riêng đối với các xương sọ: bản ngoài rất chắc, bản trong giòn và dễ vỡ, lớp xương xốp ở giữa mang tên riêng là lõi xốp (diploe).

Xương to ra về bề ngang là nhờ các tế bào màng xương phân chia tạo ra những tế bào mới đẩy vào trong và hóa xương.

Ở tuổi thiếu niên và nhất là ở tuổi dậy thì thì xương phát triển nhanh. Đến 18-20 tuổi (với nữ) hoặc 20-25 tuổi (với nam) xương phát triển chậm lại. Ở tuổi trưởng thành, sụn tăng trưởng, không còn khả năng hóa xương, do đó người không cao thêm. Người già, xương bị phân hủy nhanh hơn nhờ sự tạo thành, đồng thời tỉ lệ cốt giao giảm, vì vậy xương xốp, giòn, dễ gãy và sự phục hồi xương gãy diễn ra rất chậm, không chắc chắn.

Trong xương có 2 thành phần chủ yếu:

Thành phần hữu cơ: chiếm 30% gồm prôtêin, lipit, mucopolysaccarit.

Chất vô cơ: chiếm 70% gồm nước và muối khoáng, chủ yếu là CaCO3, Ca3(PO4)2. Các thành phần hữu cơ và vô cơ liên kết phụ thuộc lẫn nhau đảm bảo cho xương có đặc tính đàn hồi và rắn chắc. Nhờ đó xương có thể chống lại các lực cơ học tác động vào cơ thể. Xương người lớn chịu được áp lực 15kg/mm2, gấp khoảng 30 lần so với gạch, hoặc tương đương với độ cứng của bê tông cốt sắt.

Tỉ lệ các thành phần hóa học của xương ở mỗi người không hoàn toàn giống nhau. Tỉ lệ đó phụ thuộc vào điều kiện dinh dưỡng, tuổi tác, bệnh lý. Cơ thể càng non, chất hữu cơ trong xương càng nhiều nên xương trẻ em mềm dẻo hơn. Khi về già, tỉ lệ vô cơ tăng dần lên nên xương dòn, dễ gãy.

Nếu thiếu sinh tố D và phốt pho thì xương không có khả năng giữ được muối Canxi, làm xương mềm, dễ biến dạng. Trường hợp thức ăn thiếu Canxi, thì cơ thể tạm thời huy động Canxi từ xương.

Sinh Học 8 Bài 2: Cấu Tạo Cơ Thể Người / 2023

Tóm tắt lý thuyết

1.1.1. Các phần cơ thể

Cơ thể người được bao bọc bởi một lớp da. Trên da có nhiều lông nhỏ, mọc không đều nhau. Trong da có mạch máu, đầu mút các dây thần kinh và tuyến mồ hôi. Da bảo vệ các cơ quan trong cơ thể tránh được những ảnh hưởng có hại của môi trường ngoài, góp phần giữ nhiệt độ cơ thể không đổi. Dưới da là lớp mỡ, dưới lớp mỡ là cơ và xương. Cơ tạo nên hình dạng ngoài cơ thể, xương làm thành cái khung bảo vệ cơ thể và các nội quan.

Cơ thể người có 3 phần: đầu, thân và tay chân.

Có 2 khoang cơ thể lớn nhất là khoang ngực và khoang bụng. 2 khoang này nằm ở phần thân và ngăn cách nhau bởi cơ hoành.

Khoang cơ thể chứa các cơ quan nội tạng:

Khoang ngực chứa: tim, phổi, khí quản, thực quản.

Khoang bụng chứa: dạ dày, ruột, gan, túi mật, tuy, lách, thận, bóng đái, cơ quan sinh dục.

1.1.2. Các hệ cơ quan

Trong cơ thể có nhiều hệ cơ quan, nhưng chủ yếu là: hệ vận động, hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, hệ tiêu hóa, hệ bài tiết, hệ thần kinh, hệ nội tiết và hệ sinh dục.

Ngoài các hệ cơ quan trên, trong cơ thể còn có da, các giác quan, các hệ cơ quan là hệ sinh dục giúp duy trì nòi giống, hệ nội tiết giúp điều khiển, điều hoà quá trình trao đổi chất của cơ thể bằng hoocmôn.

Cơ thể là một khối thống nhất.

Các cơ quan trong cơ thể có một sự phối hợp hoạt động nhịp nhàng, đảm bảo tính thống nhất. Sự thống nhất đó được thực hiện nhờ sự điều khiển của hệ thần kinh (cơ chế thần kinh) và nhờ dòng máu chảy trong hệ tuần hoàn mang theo các hooc-môn do các tuyến nội tiết tiết ra (cơ chế thể dịch).

Ví dụ: khi chạy, hệ vận động làm việc với cường độ lớn. Lúc đó, các hệ cơ quan khác cũng tăng cường hoạt động, tim đập nhanh và mạnh hơn, mạch máu dãn (hệ tuần hoàn), thở nhanh và sâu (hệ hô hấp), mồ hôi tiết nhiều (hệ bài tiết),…

Có thể hình dung mối quan hệ giữa các cơ quan theo sơ đồ sau:

Giải Bài Tập Sinh Học 8 Bài 41: Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da / 2023

(Bại 41. CẤU TẠO VÀ CHỨC NÂNG CỦA DA KIẾN THỨC Cơ BẢN Qua phần đã hục, cắc em cần nhớ những kiến thức sail: Da củ cấn tao gồm 3 lớp: + Lớp hiển bì có tầng sừng t'à tầng tế hào sống. + Lớp bì có các hộ phận giáp da thực hiện chức năng cảm giác, hài tiết, điền hòa thân nhiệt. + Trong cùng là lóp mỡ dưới da. Da tạo nên nẻ dẹp của người và có chức năng bảo nệ cơ thể, các lóp của da đền phối họp thực hiện chức năng này. II. GỢI ý trả lời câu hỏi sgk A. PHẦN TÌM HIỂU VÀ THẢO LUẬN ▼ Dùng mủi tên chỉ quan hệ giữa các bộ phận của da: ■ Tầng sừng (1) (2) (8) (7) (5) (6) (3) (4) (9) (10) -V - Vào mùa hanh khô, ta thường thấy có những vảy nhỏ, trắng bong ra như phấn ở quần áo. Điều đó giải thích thế nào về thành phần lớp ngoài cùng của da? Vì sao da luôn mềm mại, khi bị ướt không ngấm nước? Lớp bì Lớp biểu bì Lớp mỡ dưới da ' Tầng tế bào sống Thụ quan Tuyến nhờn Cơ co chân lông Lông và bao lông Tuyến mồ hòi Dây thần kinh Mạch máu . Lớp mỡ Vào mùa hanh khô, ta thường thấy những vảy trắng nhỏ bong ra như phấn ở quần áo chứng tỏ lớp tế bào ngoài cùng của da hóa sừng và chết. Da luôn mềm mại, không thấm nước vì được cấu tạo từ các mô sợi liên kết bền chặt với nhau và trên da có nhiều tuyến nhờn tiết châ't nhờn lên bề mặt da. Vỉ sao ta nhận biết dược nóng lạnh, độ cứng, niềm của vật mà ta tiếp xúc? Ta nhận biết được nóng, lạnh, độ cứng, mềm của vật mà ta tiếp xúc nhờ da có nhiều cơ quan thụ cảm là những đầu mút tế bào thần kinh. Da có phản ứng như thế nào khi trời nóng quá hay lạnh quá? Khi trời nóng qua mao mạch dưới da dãn, tuyến mồ hôi tiết nhiều mồ hôi. Khi trời lạnh quá, mao mạch co lại, cơ chân lông co. Lớp mỡ dưới da có vai trò gì? Lớp mỡ dưới da là lớp đệm chông ảnh hưởng cơ học của môi trường và có vai trò góp phần chông mất nhiệt khi trời lạnh. Tóc và lông mày có tác dụng gì? Tóc tạo nên một lớp đệm không khí có vai trò chông tia tử ngoại của ánh Mặt trời và điều hòa nhiệt độ. Tóc còn tạo nên vẻ đẹp của con người. Lông mày có vai trò ngăn mồ hôi và nước (khi trời mưa) không để chảy xuông mắt. ■V - Da có những chức năng gì? Da có chức năng: + Bảo vệ chông các yếu tô' gây hại cho môi trường như sự va đập, sự xâm nhập của vi khuẩn, chông thâm nước và thoát nựớc. + Điều hòa thân nhiệt. + Nhận biết các kích thích của môi trường. + Tham gia hoạt động bài tiết. + Da và sản phẩm của da tạo vẻ đẹp của người. Đặc điểm nào giáp da thực hiện chức năng bảo vệ? Do đặc điểm cấu tạo từ các sợi của mô liên kết, lớp mỡ dưới da có tuyến nhờn tiết chất nhờn và sắc tô' da giúp da thực hiện chức năng bảo vệ. Bộ phận nào của da giúp da tiếp nhận các kích thích? Bộ phận nào thực hiện chức năng hài tiết? + Cơ quan thụ cảm là những đầu mút tế bào thần kinh giúp da tiếp nhận các kích thích. + Tuyến mồ hôi ở lớp bì giúp da thực hiện chức năng bài tiết. Da điều hòa thân nhiệt bằng cách nào? Da điều hòa thân nhiệt bằng cách co hoặc dãn mao mạch ở lớp bì, tuyến mồ hôi, cơ co chân lông lớp mỡ. B. PHẦN TRẢ LỜI CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP Da có cấu tạo như thế nào? Có nên trang điểm bằng cách nhổ bỏ lông mày, dùng bút chì để kẻ lông mày tạo dáng không? Vì sao? Da có cấu tạo gồm 3 lớp, từ ngoài vào trong có: + Lớp biểu bì có tầng sừng và tầng tế bào. + Lớp bì gồm thụ quan, dây thần kinh, tuyến mồ hôi, lông và bao lông, cơ co chân lông, mạch máu, tuyến nhờn. + Lớp mỡ. Không nên trang điểm bằng cách nhổ bỏ lông mày, dùng bút chì tạo dáng. Vì lông mày có tác dụng ngăn mồ hôi, nước (khi trời mưa) chảy xuống mắt. Da có những chức năng gì? Những đặc điểm cấu tạo nào của da giúp da thực hiện những chức năng đó? Da có những chức năng: + Bảo vệ: * Chông các tác động cơ học của môi trường do da được cấu tạo từ các sợi của mô liên kết và lớp mỡ. Các tuyến tiết chát nhờn có tác dụng diệt khuẩn, chống thâ'm và thoát nước. Sắc tô' tóc chông tác hại của tia tử ngoại. + Điều hòa thân nhiệt nhờ hệ thông mao mạch ở lớp bì, tuyến mồ hôi, cơ co chân lông, lớp mỡ, tóc. + Nhận biết các kích thích của môi trường nhờ thụ quan, dây thần kinh ở lớp bì. + Tham gia hoạt động bài tiết nhờ tuyến mồ hôi ở lớp bì. + Tạo vẻ đẹp của người: lông mày, móng, tóc. + Phản ánh tình trạng của nội quan và tuyến nội tiết. III. CÂU HỎI Bổ SUNG NÂNG CAO Em có biết người mù (khiếm thị) vẫn có thể đọc, viêt chữ (chữ nôi) được là nhờ đâu không? > Gợi ý trả lời câu hỏí: Người mù (khiếm thị) vẫn có thể đọc, viết chữ (chữ nổi) nhờ thụ quan, dây thần kinh ở da đặc biệt là đầu ngón tay Tất nhạy cảm.