Top 8 # Trình Bày Cấu Tạo Hệ Hô Hấp Của Trẻ Em Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Đặc Điểm Hệ Hô Hấp Trẻ Em

Published on

1. ĐẶC ĐIỂM HỆ HÔ HẤP TRẺ EM chúng tôi Nguyễn Thị Thu Sƣơng GV BM Nhi

3. ĐẠI CƢƠNG Chức năng của bộ máy hô hấp là duy trì đầy đủ sự trao đổi khí Oxy và khí Carbonic giữa cơ thể với môi trƣờng bên ngoài. – Hệ hô hấp bao gồm: + Lồng ngực + Các cơ hô hấp + Màng phổi + Đƣờng dẫn khí: trên (mũi, miệng, hầu, thanh quản) và dƣới (khí quản, phế quản, các tiểu phế quản) + Phổi (phế nang-đơn vị hô hấp) + Trung tâm hô hấp, thần kinh giao cảm, phó giao cảm.

4. ĐẶC ĐIỂM VỀ GIẢI PHẪU 1.Mũi và các xoang cạnh mũi – Mũi trẻ sơ sinh nhỏ và ngắn, niêm mạc có nhiều mao mạch. – Trẻ sơ sinh không thở bằng miệng đƣợc nên khi mũi bị sung huyết dễ gây khó thở. – Xoang hàm xuất hiện lúc mới sinh, xoang sàng, xoang bƣớm, xoang trán: phát triển từ lúc 2 tuổi đến dậy thì.

5. ĐẶC ĐIỂM VỀ GIẢI PHẪU 2. Mũi hầu họng – Trẻ sơ sinh khoang hầu họng hẹp do cột sống cổ thẳng. – Vòng bạch huyết Waldayer phát triển mạnh lúc trẻ đƣợc 4-6 tuổi cho đến tuổi dậy thì. – Ở trẻ nhỏ duới 1 tuổi, tổ chức bạch huyết thƣờng chỉ thấy VA phát triển còn amygdales chỉ phát triển từ 2 tuổi trở lên. Tổ chức lympho ở niêm mạc họng chƣa phát triển nên dễ bị nhiễm trùng. Hạch hạnh nhân phát triển tối đa từ 4 – 10 tuổi và teo dần cho đến tuổi dậy thì.

7. ĐẶC ĐIỂM VỀ GIẢI PHẪU 4. Khí quản – Trẻ sơ sinh niêm mạc khí quản nhiều mạch máu và tƣơng đối khô (do các tuyến chƣa phát triển đầy đủ). – Sụn khí quản mềm, dễ biến dạng, khi bị viêm nhiễm dễ bị phù nề, hẹp. – Từ khí quản đến phế nang có 23 lần phân nhánh, tiểu phế quản đƣợc tính thừ lần phân nhánh thứ 20.

8. ĐẶC ĐIỂM VỀ GIẢI PHẪU – Từ lần phân nhánh thứ 17 (tiểu phế quản hô hâp) mới có chức năng trao đổi khí, trƣớc đó chỉ có chức năng dẫn khí. – Hệ cơ trơn đuờng dẫn khí chịu tác động trực tiếp của Adrenalin và noradrenaline trong máu gây dãn phế quản.

9. ĐẶC ĐIỂM VỀ GIẢI PHẪU 5. Cơ hô hấp và lồng ngực – Vì sự hoạt động của võ não chƣa hoàn chỉnh nên trẻ sơ sinh có những cơn ngƣng thở ngắn. – Lồng ngực lúc sinh mềm, xƣơng sƣờn nghiêng chéo, hình bầu dục nên dễ biến dạng, giảm sức cản. – Từ 1 tuổi, hình dạng và các cơ lồng ngực giống nhƣ ngƣời lớn.

10. ĐẶC ĐIỂM VỀ GIẢI PHẪU Đường dẫn khí: * Đường hô hấp trên: mũi, miệng, hầu và thanh quản * Đường hô hấp dưới: khí quản, phế quản và các tiểu phế quản

11. ĐẶC ĐIỂM VỀ GIẢI PHẪU Lồng ngực: Bao gồm: bộ phận cố định (cột sống), bộ phận di chuyển đƣợc (xƣơng sƣờn, xƣơng ức), và bộ phận cử động (các cơ hít vào và thở ra). * Để thực hiện đƣợc nhiệm vụ trong cơ học hô hấp, lồng ngực phải kín và đàn hồi. * Lồng ngực của trẻ sơ sinh rất mềm và có các xƣơng sƣờn nằm ngang. * Đến cuối năm đầu sau sanh, lồng ngực của trẻ thay đổi hình dạng, các xƣơng sƣờn trở nên nằm chéo.

12. ĐẶC ĐIỂM VỀ GIẢI PHẪU Các cơ hô hấp: Làm thay đổi thể tích lồng ngực. * Chia làm 2 nhóm: – Cơ hít vào: * Bình thƣờng: cơ hoành, cơ liên sƣờn ngoài. * Gắng sức: cơ lệch, cơ răng trƣớc, cơ ức đòn chũm, cơ má, cơ lƣỡi, cơ cánh mũi. – Cơ thở ra: * Bình thƣờng: các cơ co vào trong lúc hít vào, khi giãn sẽ gây thở ra. * Gắng sức: cơ liên sƣờn trong, cơ thành bụng trƣớc.

13. ĐẶC ĐIỂM VỀ GIẢI PHẪU Màng phổi: bao gồm lá tạng và lá thành. * Lá tạng dính sát vào phổi, lá thành dính sát vào lồng ngực. * Ở giữa là một khoang ảo, có vài ml dịch giúp 2 lá trơn trợt lên nhau dễ dàng khi hô hấp. * Thể tích dịch màng phổi là 0,1-0,2ml/kg. * Áp lực trong khoang màng phổi là áp lực âm

14. ĐẶC ĐIỂM VỀ GIẢI PHẪU 6. Phế quản và phổi Hình thành từ lúc còn bào thai và tiếp tục phát triển cho đến tuổi trƣởng thành. Chia làm 2 giai đoạn: – Giai đoạn trƣớc khi sanh: – Giai đoạn sau sanh

15. ĐẶC ĐIỂM VỀ GIẢI PHẪU Giai đoạn trước sanh + Giai đoạn phôi: . Từ ống tiêu hóa xuất phát mầm thanh khí quản, mầm phế quản gốc. . Động mạch phổi xuất phát từ cung động mạch chủ liên kết với động mạch và tĩnh mạch phổi để hoàn thành vòng tuần hoàn phổi vào tuần thứ 7

16. ĐẶC ĐIỂM VỀ GIẢI PHẪU

17. ĐẶC ĐIỂM VỀ GIẢI PHẪU + Giai đoạn giả tuyến: . Tế bào ngoại bì phân chia thành tế bào có lông mao, tuyến nhầy, tuyến thần kinh. . Tế bào gian bì phân chia thành tế bào sụn và cơ.

18. ĐẶC ĐIỂM VỀ GIẢI PHẪU

19. ĐẶC ĐIỂM VỀ GIẢI PHẪU + Giai đoạn thành lập ống: . Cây phế quản phát triển thành dạng ống và tiếp tục phân chia nhỏ hơn để tạo cấu trúc phế nang. . Các tế bào biểu mô trở nên có dạng khối, biểu lộ đặc trƣng của tế bào phế nang type 1.

20. ĐẶC ĐIỂM VỀ GIẢI PHẪU

21. ĐẶC ĐIỂM VỀ GIẢI PHẪU + Giai đoạn thành lập túi: . Đƣờng hô hấp tận mở rộng ra và hình thành cấu trúc hình trụ dạng túi. . Khoảng cách giữa mao mạch và phế nang ngày càng hẹp lại.

22. ĐẶC ĐIỂM VỀ GIẢI PHẪU

23. ĐẶC ĐIỂM VỀ GIẢI PHẪU + Giai đoạn phế nang: . Phế nang phát triển hoàn tất vào tuần thứ 32 của thai kỳ, chịu ảnh hƣởng của sự điều hòa nội tiết và các kích thích vật lý.

24. ĐẶC ĐIỂM VỀ GIẢI PHẪU

25. Bảng tóm tắt các giai đoạn phát triển trƣớc sinh Giai đoạn Tuổi phát triển Sự kiện chính Phôi 3-7 tuần Mầm phổi hình thành từ nội mạc ruột Hình thành KQ và PQ gốc Giả tuyến 7-16 tuần Hoàn tất phân chia đƣờng dẫn khí Hình thành tiểu PQ, sụn, cơ trơn PQ từ trung mô Thành lập ống 16-24 tuần Hình thành hệ mao mạch & acinar (đơn vị hô hấp) Phân hóa TB BM typ 1 & 2 đầu tiên Thành lập túi 24-36 tuần TB biểu mô hô hấp mỏng dần, hình thành túi tận cùng, sản xuất surfactant Phế nang (sau sinh) Tuần 36 – suốt thời kỳ niên thiếu Hình thành phế nang thật sự, vách phế nang, khoang khí mở rộng

26. ĐẶC ĐIỂM VỀ GIẢI PHẪU Giai đoạn sau sanh: * Sau khi sanh, có nhiều thay đổi lớn tại phổi trong quá trình chuyển tiếp từ cuộc sống trong tử cung đến cuộc sống ngoài tử cung. * Biểu mô phổi phải thay đổi từ chức năng tiết dịch sang hấp thu dịch. * Khi sanh, phổi của trẻ chứa khoảng 30ml/kg dịch phế nang bào thai. Khoảng 1/3 lƣợng dịch này đƣợc tống ra ngoài trong thì sổ thai qua âm đạo, nhƣng toàn bộ lƣợng dịch sẽ vẫn còn lại trong đƣờng hô hấp của trẻ sanh mổ. * Quá trình làm sạch dịch phổi bào thai ở trẻ sơ sinh mất vài giờ.

27. ĐẶC ĐIỂM VỀ GIẢI PHẪU Giai đoạn sau sanh: + Phế bào tiếp tục phát triển đến 1-2 tuổi. + Từ 2 tuổi các phế nang phát triển về kích thƣớc cho đến tuổi trƣởng thành. + Lớp cơ phát triển lan dần tới phế nang ở tuổi thanh niên. + Mạng lƣới thần kinh X và các thần kinh tuyến đã đƣợc thành lập lúc sanh.

28. ĐẶC ĐIỂM VỀ GIẢI PHẪU + Nhánh phế quản phải tiếp tục hƣớng đi của khí quản và rộng hơn phế quản trái nên dị vật dễ rơi vào hơn. + Nhánh phế quản trái đi sang một bên và nhỏ hơn phế quản phải.

29. ĐẶC ĐIỂM VỀ GIẢI PHẪU Khí quản là thế hệ số không * 2 phế quản gốc trái và phải là thế hệ thứ nhất * Sau đó cứ mỗi lần phân chia là một thế hệ. * Thế hệ thứ 10 bắt đầu có tiểu phế quản. * Thế hệ 16: tiểu phế quản tận. * Thế hệ 17,18,19: tiểu phế quản hô hấp. * Thế hệ 20,21,22: ống phế nang * Từ thế hệ 0 đến 16, các đƣờng dẫn khí chỉ có nhiệm vụ dẫn khí.

31. ĐẶC ĐIỂM VỀ GIẢI PHẪU Phổi: * Đơn vị chức năng là phế nang. Đƣờng kính phế nang trung bình là 200-300m. Phế nang đƣợc mao mạch phổi bao bọc nhƣ một mạng lƣới. * Có khoảng 300×106 phế nang ở ngƣời và diện tích tiếp xúc giữa phế nang và mao mạch phổi là 70-90m2.

32. ĐẶC ĐIỂM VỀ GIẢI PHẪU Phế nang Biểu mô phế nang gồm 2 loại tế bào: – Loại 1: là tế bào lót nguyên thủy, rất mỏng (0,1-0,5m), chiếm 95% diện tích phế nang, mẫn cảm với sự xâm nhập có hại vào phế nang. – Loại 2: chiếm 5% diện tích phế nang, có vai trò tiết chất hoạt diện (surfactant).

33. ĐẶC ĐIỂM VỀ GIẢI PHẪU

38. Bảng tóm tắt các giai đoạn phát triển trƣớc sinh Giai đoạn Tuổi phát triển Sự kiện chính Phôi 3-7 tuần Mầm phổi hình thành từ nội mạc ruột Hình thành KQ và PQ gốc Giả tuyến 7-16 tuần Hoàn tất phân chia đƣờng dẫn khí Hình thành tiểu PQ, sụn, cơ trơn PQ từ trung mô Thành lập ống 16-24 tuần Hình thành hệ mao mạch & acinar (đơn vị hô hấp) Phân hóa TB BM typ 1 & 2 đầu tiên Thành lập túi 24-36 tuần TB biểu mô hô hấp mỏng dần, hình thành túi tận cùng, sản xuất surfactant Phế nang (sau sinh) Tuần 36 – suốt thời kỳ niên thiếu Hình thành phế nang thật sự, vách phế nang, khoang khí mở rộng

39. ĐĂC ĐIỂM SINH LÝ * Các thông số hô hấp trẻ sơ sinh – Trọng lƣợng phổi: 50g. – Diện tích phế nang: 4 m2. – Số lƣợng phế nang: 24 x 106. – Dung tích sống: 66 ml/kg. – Thể tích khí lƣu thông: 6 ml/kg. – Tần số hô hấp: 40 lần/phút. – Thể tích thông khí phút: 100-150 ml/kg/phút.

40. ĐĂC ĐIỂM SINH LÝ – Sức cản: là sự tƣơng quan giữa thể tích và cấu trúc, nghĩa là giữa phổi và áp lực khí khi thở. – Sức cản phổi sơ sinh là 5 ml/cm H2O, nghĩa là dƣới áp lực 1 cm H2O sẽ có 5 ml khí vào phổi.

41. ĐĂC ĐIỂM SINH LÝ – Các lực kháng: là sự tƣơng quan giữa lƣu lƣợng trong ống và áp lực cần thiết đƣợc tính bằng ml/giây/cm H2O. – Sự tƣơng quan này tùy thuộc vào đƣờng kính của phế quản, càng nhỏ thì lực kháng càng cao.

42. ĐĂC ĐIỂM SINH LÝ

43. ĐĂC ĐIỂM SINH LÝ * Nhiệt độ và độ ẩm – Trong điều kiện tự nhiên, một lít khí hít vào ở nhiệt độ môi trƣờng chứa từ 10-20mg hơi nƣớc (độ bảo hòa 30-60% ở 25oC. Khi đƣợc làm ấm và ẩm qua các hốc mũi, hầu, đến thanh quản, nhiệt độ của khí là 32-33 oC và chứa 33 mg hơi nƣớc trong 1 lít không khí, đến phế nang khí bảo hòa ở 37oC và chứa 43,3mg hơi nƣớc. – Ở ngƣời, nhu cầu tối thiểu về hơi nƣớc là 33mg/l khí hít vào ở điều kiện sinh lý bình thƣờng, tốt nhất là 43 mg/l khí hít vào ở 37oC.

44. CHĂM SÓC SỨC KHỎE BAN ĐẦU – Cần giáo dục các bậc cha mẹ làm sạch môi trƣờng không khí, tránh nhiễm khói bụi cho trẻ. – Bảo vệ sức khỏe bà mẹ khi có thai, khám thai đầy đủ. – Tiêm chủng theo đúng lịch qui định. – Phát hiện và xử trí kịp thời các trƣờng hợp nhiễm khuẩn hô hấp cấp. – Khi có ngƣời mắc bệnh, cần cách ly kịp thời tránh lây lan cho trẻ.

45. TÀI LIÊU THAM KHẢO 1. Bài giảng nhi khoa, tập 1, ĐHYD TP. HCM, 2006, tr.257- 266. 2. Bài giảng Nhi khoa, Tập 3. Bộ môn Nhi-ĐH Y Hà nội, tr.20-29. 3. Textbook of Medical physiology-Guyton, tr.545-555; 590-594. 4. Fleming S, Thomson M, Stevens R (2011), Normal ranges of heart rate and respiratory rate in children, Lancet

46. Câu hỏi lượng giá * Câu 1) Sức cản phổi của trẻ sơ sinh là 5 ml/cm H2O. Giải thích nào sau đây là hợp lý khi nói về sức cản? A) Dƣới áp lực hít vào và thở ra là 1 cm H2O sẽ có 5 ml khí đƣợc lƣu thông ở phổi B) Cứ 5 ml khí hít vào, sẽ tạo nên áp lực đƣờng thở là 1 cm H2O C) Dƣới áp lực hít vào là 1 cm H2O sẽ có 5 ml khí vào phổi D) Cứ 5 ml khí hít vào và thở ra, sẽ tạo nên áp lực đƣờng thở là 1 cm H2O

47. * Câu 2) Hạch hạnh nhân phát triển tối đa trong độ tuổi nào? A) 2 – 12 tháng B) 1 – 3 tuổi C) 4 – 10 tuổi D) 11 – 15 tuổi Câu 3) Vị trí chia đôi của khí quản ở trẻ 5 ngày tuổi ngang mức đốt sống nào? A) T2-T3 B) T3-T4 C) T4-T5 D) T5-T6

48. * Câu 4) Tại sao trẻ sơ sinh dễ bị khó thở? A) Xƣơng sƣờn nghiêng chéo, hình bầu dục B) Chƣa thở bằng miệng C) Võ não chƣa hoàn thiện D) Cả A, B, C đều đúng * Câu 5) Phổi của trẻ sơ sinh là khoảng bao nhiêu phế nang? A) 8 x 106 B) 16 x 106 C) 24 x 106 D) 32 x 106

49. * Câu 6) Dây thần kinh nào điều khiển thanh quản? A) VIII B) IX C) X D) XI * Câu 7) phế nang phát triển vào tuần thứ mấy thai kỳ? * A) 28 * B) 30 * C) 32 * D) 34 * Câu 8) tế bào phế nang typ 1 đƣợc hình thành trong giai đoạn nào sau đây * A) Giai đoạn phôi thai * B) Giai đoạn giả tuyến * C) Giai đoạn thành lập ống * D) Giai đoạn phế nang

Cấu Tạo Của Hệ Hô Hấp

1. Đối với nhóm động vật ở nước

Động vật sống ở nước hô hấp chủ yếu bằng mang. Mang là những màng mỏng có nhiều mao mạch phân bố đến và đính vào cung mang bằng sụn hay xương, thường nằm ở vùng phía trước ống tiêu hoá. Mang có bề mặt rộng và khoảng cách rất ngắn nên O 2 và CO 2 có thể khuếch tán giữa nước và máu. O 2 khuếch tán từ nước vào biểu bì mang, rồi qua thành mao mạch vào máu. CO2 (thường vận chuyển dưới dạng HCO 3–, bicarbonat) khuếch tán theo hướng ngược lại.

Mang cá có hình răng lược, có khe hở để nước chảy qua và có nắp đậy kín. Mang cá có đặc điểm là nước và dòng máu chảy theo các hướng ngược nhau. Nhờ vậy mà máu có thể thu nhận O 2 tới 80% O 2 hoà tan trong nước.

Cá thở bằng mang theo cách há miệng đồng thời mở nắp mang để hút nước (nhờ cử động bơm của hàm và nắp mang), sau đó cá ngậm miệng và khép mang lại từ từ để thu hẹp khoảng trống làm tăng áp lực của dòng nước, nước trào qua khe nắp mang ra ngoài. Chính khi nước được ép qua các lá mang, quá trình trao đổi khí được thực hiện (hình 4.1).

Ở động vật có bề mặt da mỏng, sống ở môi trường ẩm ướt, như giun đất, hoặc ở bọn lưỡng cư (ếch nhái), O2 khuếch tán qua da rồi vào trong các mao mạch máu nằm ngay dưới bề mặt da và CO2 theo hướng ngược lại.

2. Đối với nhóm động vật trên cạn và người

Động vật trên cạn (cả trên không) và người cơ quan hô hấp là khí quản và phổi.

* Ở côn trùng, hệ thống trao đổi khí là hệ khí quản. Khí quản phân nhánh rất nhỏ đến từng tế bào để cung cấp O2 và lấy CO2, mà không cần có máu làm trung gian, nhờ thế mà các mô của cơ thể trao đổi khí trực tiếp với môi trường bên ngoài.

* Từ bò sát đến người sự trao đổi khí xảy ra qua bề mặt hô hấp của phổi. Bộ máy hô hấp gồm đường dẫn khí và phổi. Đường dẫn khí gồm: khoang mũi, thanh quản, phế quản và tận cùng của đường hô hấp là phế nang.

Ở động vật có xương sống và người cơ quan hô hấp hình thành từ ống tiêu hoá sơ cấp. Chổ tiếp giáp giữa đường tiêu hoá và đường hô hấp ở đoạn hầu thành ngã tư, nên nhiều khi gây tai biến (thức ăn đi nhầm đường vào khí quản, gây sặc; giun từ thực quản đột nhập vào phổi gây ho ra máu).

Trong bào thai cơ quan hô hấp xuất hiện từ tuần thứ 4 và hình thành ở tháng thứ 6.

Khoang mũi gồm hai lỗ mũi trước thông với bên ngoài, hai lỗ mũi sau phía trong thông với nhau và thông với hầu ở phía dưới, đồng thời thông với hai tai giữa bởi hai vòi Eustache. Khoang mũi được tách ra từ khoang miệng, phía trên khoang mũi có nhiều tế bào thụ cảm khứu giác làm chức năng khứu giác. Khoang phía dưới còn gọi là khoang hô hấp, có nhiều tế bào tiết dịch nhầy, sâu vào phía trong dịch nhầy loảng hơn để làm ẩm không khí. Trên màng nhầy vùng phía sau có các lông rung (lông thịt), hướng từ trong ra ngoài, khi có chất bẩn, bụi… vào sẽ được chất nhầy quyện lại để tống ra ngoài nhờ vận động phản xạ của lông rung. Dưới màng nhầy là mạng mạch máu dày có chức năng sưởi ấm không khí.

Trong khoang mũi còn có ba đôi sụn xoăn chia khoang mũi ra ba ngách: ngách thông trên, ngách thông giữa và ngách thông dưới, các ngách này thông với xoang trán, xoang hàm trên và xoang sàng, xoang bướm. Cấu tạo này càng làm rộng thêm cho xoang hô hấp và còn có tác dụng như cơ quan cộng hưởng khi phát âm.

Thanh quản là một phần của cơ quan hô hấp có chức năng phát âm. Cấu trúc này có thể nhìn thấy ở bên ngoài như là “quả táo Ađam”.Thanh quản cấu tạo bởi các sụn như sụn giáp, sụn nhẫn, sụn phễu, sụn thanh thiệt. Sụn thanh thiết hoạt động như cái van, đóng lại khi nuốt không cho thức ăn vào khí quản. Niêm mạc lót mặt trong thanh quản có nhiều tuyến chùm tiết nhầy. Trên lớp tế bào thượng bì cũng có các lông thịt rung để đẩy vật lạ ra khỏi đường hô hấp. Trong lòng thanh quản có khe thanh môn và dây thanh âm, dây thanh âm cấu tạo gồm hai bó mô liên kết. Khi phát âm, không khí đi ra làm rung dây thanh âm. Mức độ căng của dây làm tần số rung của dây thay đổi tạo thành âm cao hay âm thấp. Dây càng căng âm càng cao. Tần số rung của dây thanh âm còn được điều khiển bởi hệ cơ trong thanh quản. Ở người các âm thanh được tạo ở thanh quản kết hợp với mũi, miệng, hầu và các xoang tạo thành một hệ cộng hưởng phức tạp, dưới sự điều khiển của hệ thần kinh chúng đã tạo ra tiếng nói, ở nam các dây thanh âm rộng và dày hơn nữ, do đó âm thanh phát ra trầm hơn. Khi phát âm còn có sự tham gia của cử động má, môi, lưỡi.

Khí quản là một ống gồm 16 – 20 vòng sụn hình chữ C, dài khoảng 10 cm. Ở thú và người đó là những vòng sụn hở ở phía sau nơi tiếp giáp với thực quản, tạo điều kiện cho sự nuốt của thực quản và làm cho khí quản cực kỳ đàn hồi, có thể phồng lên xẹp xuống theo hoạt động của phổi. Hơn nữa vì hai đầu các sụn khí quản không liền nhau nên đường kính của khí quản tăng lên khi ho, giúp cho khí quản có thể dễ dàng tống các vật cản ra ngoài. Thành trong của khí quản cũng có nhiều màng nhầy và lông thịt rung.

Ngang tầm đốt sống ngực IV và V khí quản được chia đôi thành hai phế quản trái và phải. Đến rốn phổi phế quản phải chia thành ba nhánh đi về ba thuỳ, còn phế quản trái chia thành hai nhánh đi vào hai thuỳ. Vì tim nằm lệch về phía trái nên lá phổi trái nhỏ hơn lá phổi phải (khoảng 10/11). Các phế quản chia nhỏ dần để đi vào từng phế nang, mỗi lần phân chia ống phế quản nhỏ dần và thành phế quản cũng mỏng dần cho đến khi chỉ là lớp cơ không có sụn bao quanh, đường kính dưới 1mm. Đó là các phế quản nhỏ, chúng lại tiếp tục phân chia và cuối cùng kết thúc ở phế nang. Các phế nang sắp xếp thành từng chùm trông giống như chùm nho và được cung cấp rất nhiều mao mạch. Mỗi phế nang có đường kính chỉ 100 – 300μm nhưng hai lá phổi có tới hơn 700 triệu phế nang nên tạo ra một diện tích bề mặt khoảng 140m2. Ở đây diễn ra quá trình trao đổi khí qua một lớp màng kép mỏng (một màng là của phế nang, một màng là của mao mạch). Đường kính mao mạch ở đây chỉ có 5μm, nên hồng cầu đi qua đây rất chậm, càng tạo điều kiện cho việc trao đổi khí.

Phổi gồm hai lá, là tập hợp của phế nang và phế quản. Phổi khi sờ vào thì khá chắc nhưng thực tế lại rất đàn hồi. Nó có thể nở ra rất nhiều khi không khí tràn vào. Mỗi lá phổi được bọc kín bởi màng phổi, đó là màng gồm hai lớp. Lớp phủ sát trên bề mặt phổi gọi là lá tạng, còn lớp lót mặt trong của thành ngực gọi là lá thành, giữa hai lá có chứa dịch làm trơn giảm ma sát khi hai màng trượt lên nhau trong cử động hô hấp.

Sơ Đồ Cấu Tạo Hệ Hô Hấp Của Người. Các Giai Đoạn Của Quá Trình Thở

Tốt đến mức bạn và tôi không cần phải suy nghĩ để thở hay cung cấp oxy riêng cho từng cơ quan. Mọi thứ từ lâu đã được tính toán và phát triển, nó tự diễn ra. Và một người chỉ đơn giản là hoàn toàn vô thức hít vào và sau đó thở ra khoảng bốn giây một lần. Thoạt nhìn, mọi thứ đều là sơ đẳng. Tuy nhiên, các cơ quan hô hấp trong cơ thể được hệ thống phức tạp nơi mỗi phần tử thực hiện những chức năng cực kỳ quan trọng.

Và, có lẽ, chính cô ấy có thể được gọi là quan trọng nhất đối với một người. Các yếu tố của hệ thống này là đường dẫn khí trên (khoang miệng và mũi, cũng như hầu) và dưới (thanh quản, khí quản, cũng như phế quản) và tất nhiên, phổi. Điều này cũng bao gồm các mạch máu và một số cơ. Theo thông lệ, hệ thống hô hấp là tổng thể đầu dây thần kinh tạo điều kiện trao đổi khí.

Phổi

Xét tất cả các cơ quan hô hấp của một người, cơ quan này có thể được gọi là cơ quan chính. Phổi nằm trong lồng ngực ở hai bên tim. Ở họ, chính quá trình trao đổi khí của một người với môi trường… Nhờ vào một số lượng lớn phế nang – những quả bóng nhỏ ở đầu các nhánh của phế quản – toàn bộ cơ thể được cung cấp oxy. Khí sinh ra từ đây được máu đưa đến tất cả các mô và cơ quan. Chính vì tầm quan trọng to lớn của phổi mà bệnh của chúng vô cùng nguy hiểm.

Các cơ quan hô hấp khác

Hãy bắt đầu từ việc hít vào. Thông thường, chúng ta lấy không khí từ môi trường bằng mũi. Tuy nhiên, bạn có thể làm điều này bằng miệng. Không khí đi vào khoang mũi (miệng). Trong trường hợp đầu tiên, nó là tốt hơn nhiều. Điều này là do thực tế là trong khoang mũi không khí được làm sạch các hạt bụi và các vi khuẩn khác nhau. Điều này là do sự hiện diện của chất nhầy đặc biệt và nhung mao nhỏ – lông mao. Ngoài ra, không khí được làm ấm lên ở đây. Sau mũi (miệng), nó rơi vào yết hầu, nơi kết nối các khoang này. Từ đó đến thanh quản. Ở đây người có một bộ máy phát âm. Từ thanh quản, không khí di chuyển vào khí quản. Nó là một ống mềm dài tới 15 cm. Khí quản kết nối thanh quản và phế quản của con người. Từ ống mềm này, không khí đi vào chúng. Phế quản được gọi là phân đôi của khí quản và phân nhánh thêm. Và “cái cây” này kết thúc bằng các phế nang, điều này đã được đề cập.

Chúng nhỏ đến mức trong cả hai lá phổi có tới bảy trăm triệu. Mỗi phế nang được bao phủ bởi một mạng lưới dày đặc các mao mạch nhỏ, cung cấp cho quá trình trao đổi khí.

Cơ quan hô hấp của động vật: đặc điểm

Ở các đại diện khác của hệ động vật, hệ thống trao đổi khí có thể khác nhau (ít hoặc nhiều). Vì vậy, ở cá, cơ quan hô hấp chính là mang. Ở giun và động vật lưỡng cư, đây thường là toàn bộ bề mặt của cơ thể. Cơ quan hô hấp chính của côn trùng là khí quản, ở bò sát là túi phổi. Hệ thống trao đổi khí trở nên phức tạp hơn tùy thuộc vào kích thước của động vật. Ở mức độ nhẹ hơn, tùy thuộc vào môi trường và “cách sống”. Nhưng có một điều là bất biến: không một đại diện nào của thế giới động vật trên hành tinh của chúng ta có thể sống mà không có oxy.

Hệ hô hấp – Đây là một tập hợp các cơ quan và cấu trúc giải phẫu đảm bảo sự di chuyển của không khí từ khí quyển đến phổi và ngược lại (chu kỳ thở hít vào – thở ra), cũng như trao đổi khí giữa không khí đi vào phổi và máu.

Cơ quan hô hấp là đường hô hấp trên và dưới và phổi, bao gồm các tiểu phế quản và túi phế nang, cũng như các động mạch, mao mạch và tĩnh mạch của tuần hoàn phổi.

Ngoài ra, hệ thống hô hấp bao gồm lồng ngực và các cơ hô hấp (hoạt động của nó cung cấp sự kéo giãn của phổi với sự hình thành các giai đoạn hít vào và thở ra và sự thay đổi áp suất trong khoang màng phổi), và ngoài ra – trung tâm hô hấp nằm trong não, dây thần kinh ngoại biên và các thụ thể tham gia vào quá trình điều hòa hô hấp.

Chức năng chính của cơ quan hô hấp là đảm bảo trao đổi khí giữa không khí và máu bằng cách khuếch tán oxy và khí cacbonic qua thành phế nang phổi vào mao mạch máu.

Khuếch tán – một quá trình là kết quả của việc khí từ khu vực có nồng độ cao hơn có xu hướng đến khu vực có nồng độ thấp.

Một tính năng đặc trưng của cấu trúc đường thở là sự hiện diện của lớp sụn trong thành của chúng, do đó chúng không bị sụp đổ.

Ngoài ra, các cơ quan hô hấp tham gia vào quá trình tạo ra âm thanh, phát hiện mùi, sản xuất một số chất giống như hormone, trong lipid và chuyển hóa nước-muối, trong việc duy trì khả năng miễn dịch của cơ thể. Trong đường hô hấp, có sự thanh lọc, làm ẩm, ấm lên không khí hít vào, cũng như cảm nhận về nhiệt độ và các kích thích cơ học.

Hàng không

Đường dẫn khí của hệ hô hấp bắt đầu từ mũi ngoài và hốc mũi. Hốc mũi được chia thành hai phần: bên phải và bên trái. Bề mặt bên trong của khoang, được lót bằng màng nhầy, có lông mao và thấm các mạch máu, được bao phủ bởi chất nhầy, có tác dụng giữ lại (và trung hòa một phần) vi khuẩn và bụi. Nhờ đó, không khí trong khoang mũi được làm sạch, khử độc, làm ấm và tạo độ ẩm. Đây là lý do tại sao bạn cần thở bằng mũi.

Suốt cuộc đời khoang mũi giữ lại tới 5 kg bụi

Đã qua yết hầu đường thở, không khí đi vào cơ quan tiếp theo thanh quản, trông giống như một cái phễu và được hình thành bởi một số sụn: sụn tuyến giáp bảo vệ thanh quản ở phía trước, sụn nắp thanh quản đóng lối vào thanh quản khi thức ăn được nuốt vào. Nếu bạn cố gắng nói trong khi nuốt thức ăn, nó có thể đi vào đường thở và gây ngạt thở.

Khi nuốt, sụn di chuyển lên trên, sau đó trở lại vị trí ban đầu. Với chuyển động này, nắp thanh quản đóng cửa vào thanh quản, nước bọt hoặc thức ăn đi vào thực quản. Còn gì nữa trong thanh quản? Dây thanh. Khi một người im lặng dây thanh phân kỳ khi anh ta nói lớn, dây thanh âm đóng lại, nếu anh ta buộc phải nói nhỏ, dây thanh âm là ajar.

Khí quản;

Động mạch chủ;

Phế quản chính bên trái;

Phế quản chính bên phải;

Ống phế nang.

Khí quản người dài khoảng 10 cm, đường kính khoảng 2,5 cm

Từ thanh quản, không khí qua khí quản và phế quản đi vào phổi. Khí quản được hình thành bởi nhiều nửa vòng sụn, nằm trên nửa vòng sụn và nối với nhau bằng cơ và mô liên kết… Các đầu mở của nửa vòng tiếp giáp với thực quản. Trong lồng ngực, khí quản được chia thành hai phế quản chính, từ đó các phế quản phụ phân nhánh, tiếp tục phân nhánh xa hơn đến các tiểu phế quản (các ống mỏng có đường kính khoảng 1 mm). Các nhánh của phế quản là một mạng lưới khá phức tạp được gọi là cây phế quản.

Các tiểu phế quản được chia thành các ống thậm chí còn mỏng hơn – các ống dẫn phế nang, kết thúc bằng các túi nhỏ có thành mỏng (độ dày thành một tế bào) – các phế nang, tập hợp thành chùm giống như chùm nho.

Thở bằng miệng gây biến dạng lồng ngực, suy giảm thính lực, phá vỡ vị trí bình thường của vách ngăn mũi và hình dạng của hàm dưới.

Phổi là cơ quan chính của hệ hô hấp

Các chức năng quan trọng nhất của phổi là trao đổi khí, cung cấp oxy cho hemoglobin, loại bỏ carbon dioxide, hoặc carbon dioxide, là sản phẩm cuối cùng của quá trình trao đổi chất. Tuy nhiên, các chức năng của phổi không chỉ giới hạn ở điều này.

Thông thường, phổi có thể được chia thành 3 phần:

qua không khí (cây phế quản), qua đó không khí, như qua một hệ thống các kênh, đến các phế nang;

hệ thống phế nang, trong đó xảy ra trao đổi khí;

hệ thống tuần hoàn của phổi.

Thể tích không khí hít vào ở một người trưởng thành vào khoảng 0 4 – 0,5 lít, và dung tích sống của phổi, tức là thể tích tối đa, gấp khoảng 7 – 8 lần – thường là 3 – 4 lít (phụ nữ có ít hơn nam giới), mặc dù ở các vận động viên, nó có thể vượt quá 6 lít

Trong một số bệnh (viêm phổi, lao), lớp thành của màng phổi có thể phát triển cùng với lớp phổi, tạo thành cái gọi là kết dính. Khi nào bệnh viêm nhiễm kèm theo sự tích tụ quá nhiều chất lỏng hoặc không khí trong vết nứt màng phổi, nó mở rộng mạnh, biến thành một khoang

Vòng quay của phổi nhô ra 2-3 cm trên xương đòn, ngoài vùng dưới cổ. Bề mặt tiếp giáp với xương sườn lồi và có mức độ lớn nhất. Mặt trong lõm, tiếp giáp với tim và các cơ quan khác, lồi và có chiều dài lớn nhất. Mặt trong lõm, tiếp giáp với tim và các cơ quan khác nằm giữa các túi màng phổi. Trên đó có một cổng của phổi, nơi mà phế quản và động mạch phổi chính đi vào phổi và hai tĩnh mạch phổi đi ra.

Mỗi phổi được chia thành hai thùy bởi các rãnh màng phổi (trên và dưới), bên phải thành ba (trên, giữa và dưới).

Mô phổi được hình thành bởi các tiểu phế quản và nhiều túi phế nang phổi nhỏ, trông giống như những lồi bán cầu của tiểu phế quản. Thành mỏng nhất của phế nang là một màng thấm sinh học (bao gồm một lớp tế bào biểu mô được bao quanh bởi một mạng lưới dày đặc các mao mạch máu), qua đó sự trao đổi khí diễn ra giữa máu trong mao mạch và không khí tràn vào phế nang. Từ bên trong, các phế nang được bao phủ bởi một chất hoạt động bề mặt dạng lỏng (chất hoạt động bề mặt), giúp làm suy yếu lực căng bề mặt và ngăn không cho phế nang xẹp hoàn toàn trong quá trình thoát ra ngoài.

So với thể tích phổi của trẻ sơ sinh, đến 12 tuổi thể tích phổi tăng gấp 10 lần, đến cuối tuổi dậy thì – 20 lần.

Tổng chiều dày của thành phế nang và mao mạch chỉ vài micromet. Do đó, oxy dễ dàng xâm nhập từ không khí phế nang vào máu, và carbon dioxide từ máu vào phế nang.

Quá trình hô hấp

Hít thở là một quá trình trao đổi khí phức tạp giữa môi trường bên ngoài và cơ thể. Không khí hít vào khác nhiều về thành phần so với không khí thở ra: oxy, một nguyên tố cần thiết cho quá trình trao đổi chất, đi vào cơ thể từ môi trường bên ngoài, và carbon dioxide được thải ra bên ngoài.

Các giai đoạn của quá trình hô hấp

lấp đầy phổi bằng không khí trong khí quyển (thông khí phổi)

sự chuyển oxy từ phế nang phổi đến máu chảy qua mao mạch phổi, và từ máu được giải phóng vào phế nang, và sau đó vào bầu khí quyển của carbon dioxide

cung cấp oxy theo máu đến các mô và carbon dioxide từ các mô đến phổi

tiêu thụ oxy của tế bào

Quá trình không khí đi vào phổi và trao đổi khí ở phổi được gọi là quá trình hô hấp ngoài phổi. Máu mang oxy đến các tế bào và mô, và carbon dioxide từ các mô đến phổi. Liên tục lưu thông giữa phổi và các mô, do đó máu đảm bảo quá trình liên tục cung cấp oxy cho các tế bào và mô và loại bỏ carbon dioxide. Trong các mô, oxy từ máu đi đến các tế bào, và carbon dioxide được chuyển từ các mô vào máu. Quá trình hô hấp mô này xảy ra với sự tham gia của các enzym hô hấp đặc biệt.

Ý nghĩa sinh học của hô hấp

cung cấp oxy cho cơ thể

loại bỏ carbon dioxide

quá trình oxy hóa các hợp chất hữu cơ với việc giải phóng năng lượng, cần thiết cho một người cho cuộc sống

loại bỏ các sản phẩm cuối cùng của quá trình trao đổi chất (hơi nước, amoniac, hydro sunfua, v.v.)

Cơ chế hít vào thở ra… Hít vào và thở ra xảy ra do chuyển động của lồng ngực ( thở bằng ngực) và cơ hoành (thở bụng). Các xương sườn của lồng ngực thả lỏng đi xuống, do đó làm giảm thể tích bên trong của nó. Không khí được tống ra khỏi phổi, giống như không khí có áp suất từ u200bu200bgối hoặc nệm bơm hơi. Bằng cách co bóp, các cơ liên sườn hô hấp nâng cao xương sườn. Lồng ngực nở ra. Nằm giữa ngực và khoang bụng Cơ hoành co lại, các nốt sần của nó được làm mịn, thể tích lồng ngực tăng lên. Cả hai tấm màng phổi (màng phổi và màng phổi bên), giữa đó không có không khí, truyền chuyển động này đến phổi. Có một khoảng chân không trong mô phổi, như thế xuất hiện khi đàn accordion được kéo căng. Không khí đi vào phổi.

Tốc độ hô hấp ở một người trưởng thành bình thường là 14-20 nhịp thở mỗi phút, nhưng với sự gắng sức đáng kể, nó có thể lên đến 80 nhịp thở mỗi phút.

Khi các cơ hô hấp giãn ra, các xương sườn trở lại vị trí ban đầu và cơ hoành mất sức căng. Phổi co lại, giải phóng khí thở ra. Trong trường hợp này, chỉ xảy ra sự trao đổi một phần, vì không thể thở hết không khí ra khỏi phổi.

Với nhịp thở bình tĩnh, một người hít vào và thở ra khoảng 500 cm 3 không khí. Lượng không khí này là thể tích thủy triều của phổi. Nếu bạn hít thêm một hơi sâu, khoảng 1500 cm 3 không khí, được gọi là thể tích dự trữ của cảm hứng, sẽ đi vào phổi. Sau khi thở ra bình tĩnh, một người có thể thở ra khoảng 1500 cm 3 không khí – thể tích thở ra dự trữ. Lượng không khí (3500 cm 3), bao gồm thể tích thủy triều (500 cm 3), thể tích dự trữ hứng (1500 cm 3), thể tích dự trữ khi thở ra (1500 cm 3), được gọi là dung tích sống của phổi.

Từ 500 cm 3 không khí hít vào, chỉ có 360 cm 3 đi vào phế nang và cung cấp oxy cho máu. 140 cm 3 còn lại nằm trong đường thở và không tham gia trao đổi khí. Do đó, các đường thở được gọi là “không gian chết”.

Sau khi một người thở ra 500 cm 3 thể tích thủy triều), và sau đó thở ra sâu (1500 cm 3), vẫn còn khoảng 1200 cm 3 thể tích không khí còn lại trong phổi của anh ta, mà hầu như không thể loại bỏ được. Do đó, mô phổi không chìm trong nước.

Trong vòng 1 phút, một người hít vào và thở ra 5-8 lít không khí. Đây là thể tích hô hấp theo phút, với hoạt động thể chất cường độ cao, có thể đạt 80-120 lít mỗi phút.

Đối với những người được đào tạo, phát triển về thể chất, dung tích sống của phổi có thể lớn hơn đáng kể và đạt 7000-7500 cm 3. Phụ nữ có dung tích phổi kém hơn nam giới

Trao đổi khí ở phổi và vận chuyển khí theo máu

Máu chảy từ tim vào các mao mạch bao quanh phế nang phổi chứa nhiều khí cacbonic. Và trong các phế nang phổi, nó rất nhỏ, do đó, do sự khuếch tán, nó rời khỏi dòng máu và đi vào các phế nang. Điều này cũng được tạo điều kiện thuận lợi bởi các bức tường của phế nang và mao mạch, ẩm từ bên trong, chỉ bao gồm một lớp tế bào.

Oxy đi vào máu cũng thông qua quá trình khuếch tán. Có rất ít oxy tự do trong máu, vì hemoglobin trong hồng cầu liên tục liên kết với nó, biến thành oxyhemoglbin. Máu đã trở thành động mạch rời khỏi phế nang và đi qua tĩnh mạch phổi đến tim.

Để quá trình trao đổi khí diễn ra liên tục, thành phần các chất khí trong phế nang phổi phải không đổi, được duy trì bằng quá trình hô hấp ở phổi: khí cacbonic dư thừa được thải ra bên ngoài và oxy được máu hấp thụ được thay thế bằng oxy từ một phần không khí trong lành bên ngoài.

Hô hấp mô xảy ra trong các mao mạch của hệ tuần hoàn, nơi máu cung cấp oxy và nhận carbon dioxide. Có rất ít oxy trong các mô, và do đó oxyhemoglobin phân hủy thành hemoglobin và oxy, đi vào dịch mô và được tế bào sử dụng ở đó để oxy hóa sinh học các chất hữu cơ. Năng lượng được giải phóng cùng một lúc dành cho các quá trình quan trọng của tế bào và mô.

Rất nhiều carbon dioxide tích tụ trong các mô. Nó xâm nhập vào chất lỏng mô và từ nó vào máu. Tại đây, carbon dioxide được bắt giữ một phần bởi hemoglobin, và một phần được hòa tan hoặc liên kết hóa học bởi muối huyết tương. Ô xy trong máu đưa nó đến tâm nhĩ phải, từ đó nó đi vào tâm thất phải, động mạch phổi đẩy ra ngoài vòng tĩnh mạch bị đóng. Trong phổi, máu trở lại thành động mạch và trở lại tâm nhĩ trái, đi vào tâm thất trái, và từ đó vào vòng tròn lớn tuần hoàn máu.

Càng tiêu thụ nhiều oxy trong các mô, càng cần nhiều oxy từ không khí để bù đắp chi phí. Đó là lý do tại sao khi công việc tay chân đồng thời hoạt động của tim và hô hấp ở phổi đều tăng.

Nhờ vào tài sản tuyệt vời hemoglobin kết hợp với oxy và carbon dioxide trong máu có thể hấp thụ các khí này với số lượng đáng kể

Trong 100 ml máu động mạch chứa đến 20 ml oxy và 52 ml carbon dioxide

Ảnh hưởng của carbon monoxide đối với cơ thể… Erythrocyte hemoglobin có thể kết hợp với các khí khác. Vì vậy, với carbon monoxide (CO) – carbon monoxide được hình thành trong quá trình đốt cháy nhiên liệu không hoàn toàn, hemoglobin kết hợp nhanh hơn và mạnh hơn 150 – 300 lần so với oxy. Do đó, ngay cả với một hàm lượng nhỏ carbon monoxide trong không khí, hemoglobin không kết hợp với oxy mà kết hợp với carbon monoxide. Trong trường hợp này, việc cung cấp oxy cho cơ thể ngừng lại, và người bệnh bắt đầu bị nghẹt thở.

Khi có khí carbon monoxide trong phòng, một người sẽ chết ngạt vì oxy không đi vào các mô cơ thể

Đói oxy – thiếu oxy – cũng có thể xảy ra khi giảm hàm lượng hemoglobin trong máu (mất máu đáng kể), thiếu ôxy trong không khí (trên núi cao).

Nếu dị vật xâm nhập vào đường hô hấp kèm theo sưng dây thanh do bệnh có thể bị ngừng hô hấp. Ngạt thở phát triển – sự ngộp thở… Khi ngừng thở, hãy làm hô hấp nhân tạo thông qua thiết bị đặc biệt, và khi không có – bằng phương pháp “miệng đối miệng”, “miệng đối mũi” hoặc các kỹ thuật đặc biệt.

Quy định về hô hấp… Sự luân phiên nhịp nhàng, tự động của hít vào và thở ra được điều chỉnh từ trung tâm hô hấp nằm ở tủy sống… Từ trung tâm này, các xung động: đi đến các tế bào thần kinh vận động của dây thần kinh phế vị và dây thần kinh liên sườn, giúp kích hoạt cơ hoành và các cơ hô hấp khác. Công việc của trung tâm hô hấp được điều phối bởi các bộ phận cao hơn của não. Do đó, một người có thể nín thở hoặc tăng cường nhịp thở trong một thời gian ngắn, chẳng hạn như khi nói chuyện.

Độ sâu và tần số của hô hấp bị ảnh hưởng bởi hàm lượng CO 2 và O 2 trong máu, những chất này gây kích thích các cơ quan thụ cảm hóa học trong thành mạch máu lớn, và các xung thần kinh từ chúng đi vào trung tâm hô hấp. Với sự gia tăng hàm lượng CO2 trong máu, nhịp thở sâu hơn, với sự giảm xuống 0 2, nhịp thở trở nên thường xuyên hơn.

Hô hấp là một quá trình sinh học phức tạp và liên tục, do đó cơ thể tiêu thụ các điện tử và oxy tự do từ môi trường bên ngoài, đồng thời giải phóng carbon dioxide và nước bão hòa với các ion hydro.

Hệ hô hấp của con người là một tập hợp các cơ quan thực hiện chức năng hô hấp ngoài của con người (trao đổi khí giữa khí trời hít vào và máu lưu thông trong tuần hoàn phổi).

Trao đổi khí được thực hiện trong các phế nang của phổi, và thông thường nhằm mục đích thu nhận oxy từ không khí hít vào và giải phóng carbon dioxide hình thành trong cơ thể ra môi trường bên ngoài.

Một người trưởng thành đang nghỉ ngơi, trung bình thở 15-17 lần mỗi phút, và một đứa trẻ sơ sinh thở 1 lần mỗi giây.

Các phế nang được thông khí bằng cách hít vào và thở ra xen kẽ. Khi bạn hít vào, không khí trong khí quyển đi vào các phế nang, và khi bạn thở ra, không khí bão hòa với carbon dioxide sẽ được loại bỏ khỏi các phế nang.

Hơi thở êm đềm thông thường gắn liền với hoạt động của cơ hoành và cơ liên sườn ngoài. Khi bạn hít vào, cơ hoành hạ xuống, xương sườn tăng lên, khoảng cách giữa chúng tăng lên. Sự thở ra bình tĩnh thông thường xảy ra ở mức độ lớn một cách thụ động, trong khi các cơ liên sườn bên trong và một số cơ bụng đang hoạt động tích cực. Khi bạn thở ra, cơ hoành tăng lên, các xương sườn di chuyển xuống, khoảng cách giữa chúng giảm xuống.

Các kiểu thở

Hệ hô hấp chỉ thực hiện phần đầu của quá trình trao đổi khí. Phần còn lại do hệ tuần hoàn thực hiện. Có một mối quan hệ sâu sắc giữa hệ thống hô hấp và tuần hoàn.

Phân biệt hô hấp ở phổi là nơi thực hiện trao đổi khí giữa không khí và máu và hô hấp ở mô thực hiện trao đổi khí giữa máu và mô. Nó được thực hiện hệ thống tuần hoàn bởi vì máu cung cấp oxy đến các cơ quan và mang đi các sản phẩm phân hủy và carbon dioxide từ chúng.

Hô hấp bằng phổi. Sự trao đổi khí ở phổi xảy ra do quá trình khuếch tán. Máu từ tim đi vào mao mạch bao quanh phế nang phổi chứa nhiều khí cacbonic, khí này có ít trong không khí của phế nang phổi nên nó rời ra. mạch máu và đi vào các phế nang.

Oxy đi vào máu cũng thông qua quá trình khuếch tán. Nhưng để quá trình trao đổi khí này diễn ra liên tục, thì thành phần các khí trong phế nang phổi phải không đổi. Tính nhất quán này được duy trì hô hấp bằng phổi: Carbon dioxide dư thừa được loại bỏ ra bên ngoài, và oxy được hấp thụ bởi máu được thay thế bằng oxy từ một phần không khí trong lành bên ngoài.

Hô hấp mô. Quá trình hô hấp ở mô xảy ra trong các mao mạch, nơi máu cung cấp oxy và nhận carbon dioxide. Có rất ít oxy trong các mô, do đó, oxyhemoglobin phân hủy thành hemoglobin và oxy. Oxy đi vào dịch mô và được tế bào sử dụng ở đó để oxy hóa sinh học các chất hữu cơ. Năng lượng giải phóng trong quá trình này được sử dụng cho các quá trình quan trọng của tế bào và mô.

Với việc cung cấp không đủ oxy cho các mô: chức năng của mô bị gián đoạn, do quá trình phân hủy và oxy hóa các chất hữu cơ ngừng lại, năng lượng không còn được giải phóng và các tế bào bị thiếu năng lượng sẽ chết.

Càng tiêu thụ nhiều oxy trong các mô, càng cần nhiều oxy từ không khí để bù đắp chi phí. Đó là lý do tại sao trong quá trình làm việc thể chất, cả hoạt động của tim và hô hấp của phổi đều tăng đồng thời.

Các kiểu thở

Bằng cách mở rộng lồng ngực, hai kiểu thở được phân biệt:

thở bằng ngực (sự mở rộng của lồng ngực được thực hiện bằng cách nâng cao xương sườn), thường được quan sát thấy ở phụ nữ;

thở bụng (sự giãn nở của lồng ngực được thực hiện bằng cách làm phẳng cơ hoành) phổ biến hơn ở nam giới.

Quá trình thở xảy ra:

Các kiểu chuyển động hô hấp đặc biệt được quan sát bằng tiếng nấc và tiếng cười. Khi thở nông và thường xuyên, khả năng hưng phấn của các trung khu thần kinh tăng lên, ngược lại khi thở sâu, nó giảm.

Hệ thống hô hấp và cấu trúc

Hệ thống hô hấp bao gồm:

đường hô hấp trên: hốc mũi, vòm họng, hầu;

đường hô hấp dưới: thanh quản, khí quản, phế quản chính và phổi, được bao phủ bởi màng phổi phổi.

Sự chuyển đổi biểu tượng của đường hô hấp trên xuống dưới được thực hiện ở giao điểm của hệ thống tiêu hóa và hô hấp ở phần trên của thanh quản. Hàng không cung cấp kết nối giữa môi trường và các cơ quan chính của hệ hô hấp – phổi.

Phổi nằm trong khoang ngực, được bao quanh bởi xương và cơ của lồng ngực. Phổi nằm trong các khoang kín, thành của chúng được lót bằng màng phổi đỉnh. Giữa màng phổi đỉnh và màng phổi là một khoang màng phổi dạng khe. Áp suất trong đó thấp hơn trong phổi, và do đó phổi luôn bị ép vào thành của khoang ngực và có hình dạng.

Sau khi vào phổi, các phế quản chính phân nhánh ra ngoài, tạo thành một cây phế quản, ở tận cùng của chúng có các túi phổi, các phế nang. Bởi cây phế quản không khí đến các phế nang, nơi trao đổi khí diễn ra giữa không khí đã đến phế nang phổi (nhu mô phổi), và máu chảy qua các mao mạch phổi, cung cấp oxy cho cơ thể và loại bỏ các chất thải dạng khí khỏi nó, bao gồm cả carbon dioxide.

Quá trình thở

Hít vào và thở ra được thực hiện bằng cách thay đổi kích thước của lồng ngực bằng cách sử dụng các cơ hô hấp. Trong vòng một hơi thở (trong trạng thái bình tĩnh) 400-500 ml không khí đi vào phổi. Thể tích không khí này được gọi là thể tích thủy triều (TO). Cùng một lượng không khí đi vào bầu khí quyển từ phổi trong quá trình thở ra bình tĩnh.

Hơi thở sâu tối đa là khoảng 2.000 ml không khí. Sau khi hết hạn tối đa trong phổi, không khí vẫn còn trong một lượng khoảng 1 200 ml, được gọi là thể tích còn lại của phổi. Sau khi thở ra bình tĩnh, khoảng 1.600 ml còn lại trong phổi. Thể tích không khí này được gọi là dung tích dư chức năng (FRL) của phổi.

Do khả năng tồn lưu chức năng (FRC) của phổi trong không khí phế nang, một tỷ lệ tương đối ổn định giữa hàm lượng oxy và carbon dioxide được duy trì, vì FRC lớn hơn nhiều lần so với thể tích thủy triều (RC). Chỉ 2/3 DO đến phế nang, được gọi là thể tích thông khí phế nang.

Không có hơi thở bên ngoài cơ thể con người thường có thể sống đến 5-7 phút (cái gọi là chết lâm sàng), tiếp theo là mất ý thức, những thay đổi không thể đảo ngược trong não và cái chết của nó (cái chết sinh học).

Hít thở là một trong số ít các chức năng của cơ thể có thể được kiểm soát một cách có ý thức và vô thức.

Chức năng hệ hô hấp

Sự thở, sự trao đổi khí. Chức năng chính cơ quan hô hấp – để duy trì sự ổn định của thành phần khí trong không khí trong phế nang: để loại bỏ carbon dioxide dư thừa và bổ sung oxy do máu mang đi. Điều này đạt được thông qua chuyển động thở. Khi hít vào, các cơ xương mở rộng khoang ngực, kéo theo đó là phổi nở ra, áp suất trong phế nang giảm xuống và không khí bên ngoài đi vào phổi. Khi bạn thở ra, khoang ngực giảm đi, các bức tường của nó ép phổi và không khí thoát ra khỏi chúng.

Điều nhiệt. Ngoài việc đảm bảo trao đổi khí, cơ quan hô hấp còn thực hiện một chức năng quan trọng khác: chúng tham gia vào quá trình điều nhiệt. Khi thở, nước bốc hơi từ bề mặt phổi, dẫn đến làm mát máu và toàn bộ cơ thể.

Thanh lọc không khí. Bề mặt bên trong của khoang mũi được lót bằng biểu mô có lông. Nó tiết ra chất nhờn để làm ẩm không khí đi vào. Do đó, đường hô hấp trên thực hiện các chức năng quan trọng: làm ấm, giữ ẩm và lọc không khí, cũng như bảo vệ cơ thể khỏi tác hại qua không khí.

Mô phổi cũng phát vai trò quan trọng trong các quá trình như: tổng hợp hormone, muối nước và chuyển hóa lipid… Phát triển phong phú hệ thống mạch máu phổi, máu bị lắng đọng. Hệ thống hô hấp cũng cung cấp sự bảo vệ cơ học và miễn dịch chống lại các yếu tố môi trường.

Quy định về hô hấp

Thần kinh điều hòa nhịp thở. Điều hòa hơi thở được thực hiện tự động – bởi trung tâm hô hấp, được đại diện bởi một bộ các tế bào thần kinhnằm ở các phòng ban khác nhau Trung tâm hệ thần kinh… Phần chính của trung tâm hô hấp nằm trong tủy sống. Trung tâm hô hấp bao gồm các trung tâm hít vào và thở ra, có chức năng điều hòa công việc của các cơ hô hấp.

Sự điều hòa thần kinh có tác dụng phản xạ hô hấp. Sự xẹp của phế nang phổi xảy ra trong quá trình thở ra theo phản xạ gây ra hít vào, và sự giãn nở của các phế nang theo phản xạ gây ra thở ra. Hoạt động của nó phụ thuộc vào nồng độ carbon dioxide (CO2) trong máu và vào các xung thần kinh đến từ các thụ thể khác nhau Chất kích thích nóng hoặc lạnh ( cơ quan nội tạng và da. hệ thống giác quan) da, đau, sợ hãi, tức giận, vui mừng (và các cảm xúc khác và các yếu tố gây căng thẳng), hoạt động thể chất nhanh chóng thay đổi bản chất của các chuyển động hô hấp.

Cần lưu ý rằng không có thụ thể đau trong phổi, do đó, để ngăn ngừa bệnh tật, nên kiểm tra khí tượng phổi định kỳ.

Thể dịch điều hòa hô hấp. Với công việc cơ bắp, quá trình oxy hóa được tăng cường. Do đó, nhiều carbon dioxide được thải vào máu. Khi máu có dư carbon dioxide đến trung tâm hô hấp và bắt đầu kích thích nó, hoạt động của trung tâm này tăng lên. Người đó bắt đầu thở sâu. Kết quả là, carbon dioxide dư thừa được loại bỏ, và lượng oxy thiếu được bổ sung.

Nếu nồng độ carbon dioxide trong máu giảm, công việc của trung tâm hô hấp bị ức chế và xảy ra tình trạng nín thở không tự chủ.

Nhờ sự điều hòa thần kinh và thể dịch, nồng độ carbon dioxide và oxy trong máu được duy trì ở một mức độ nhất định trong bất kỳ điều kiện nào.

Với các vấn đề với hơi thở bên ngoài, nhất định

Khả năng sống của phổi

Khả năng quan trọng của phổi là chỉ số quan trọng thở. Nếu một người hít thở sâu nhất, và sau đó thở ra càng nhiều càng tốt, thì sự trao đổi khí thở ra sẽ tạo nên sức chứa quan trọng của phổi. Dung tích sống của phổi phụ thuộc vào tuổi, giới tính, chiều cao, và cả mức độ thể chất của một người.

Để đo sức chứa quan trọng của phổi, một thiết bị như SPIROMETER được sử dụng. Đối với một người, không chỉ sức sống của phổi là quan trọng, mà còn là sức chịu đựng của các cơ hô hấp. Một người có dung tích sống của phổi nhỏ, thậm chí cơ hô hấp cũng yếu, phải thở thường xuyên và nông. Điều này dẫn đến thực tế là không khí trong lành chủ yếu lưu lại trong đường thở và chỉ một phần nhỏ đến phế nang.

Hít thở và tập thể dục

Khi nào hoạt động thể chất nhịp thở, như một quy luật, tăng lên. Quá trình trao đổi chất được đẩy nhanh, cơ bắp cần nhiều oxy hơn.

Các thông số hô hấp

Capnographer – thiết bị đo và hiển thị đồ thị hàm lượng carbon dioxide trong không khí mà bệnh nhân thở ra trong một thời kỳ nhất định thời gian.

Pneumograph – một thiết bị để đo và hiển thị bằng đồ thị tần số, biên độ và hình dạng của chuyển động hô hấp trong một khoảng thời gian nhất định.

Spirograph – một thiết bị để đo và hiển thị bằng đồ thị các đặc tính động của nhịp thở.

Máy đo xoắn ốc – một thiết bị để đo VC (dung tích sống của phổi).

TÌNH YÊU ĐÈN CỦA CHÚNG TÔI:

1. Không khí trong lành (với sự cung cấp không đủ oxy cho các mô: chức năng của mô bị gián đoạn, do quá trình phân hủy và oxy hóa các chất hữu cơ ngừng lại, năng lượng không còn được giải phóng và các tế bào bị thiếu năng lượng sẽ chết. Do đó, ở phòng ngột ngạt dẫn đến đau đầu, hôn mê, giảm hiệu suất).

2. Bài tập (trong quá trình làm việc của cơ bắp, quá trình oxy hóa được tăng cường).

LUNGS CỦA CHÚNG TÔI KHÔNG THÍCH:

1. Truyền nhiễm và bệnh mãn tính đường hô hấp (viêm xoang, viêm xoang trán, viêm amidan, bạch hầu, cúm, viêm amidan, viêm đường hô hấp cấp, lao phổi, ung thư phổi).

2. Ô nhiễm không khí (khói xe, bụi, không khí ô nhiễm khí, khói, khói vodka, carbon monoxide – tất cả những thành phần này có ảnh hưởng xấu đến cơ thể. Các phân tử hemoglobin đã bắt giữ carbon monoxide bị tước mất khả năng vận chuyển oxy từ phổi đến các mô trong thời gian dài. Thiếu oxy trong máu và các mô, ảnh hưởng đến hoạt động của não và các cơ quan khác).

3. Hút thuốc (các chất ma tuý có trong nicotine được bao gồm trong quá trình trao đổi chất và can thiệp vào thần kinh và quy định về thể chất, vi phạm cả hai. Ngoài ra, chất khói thuốc lá kích thích màng nhầy của đường hô hấp, dẫn đến tăng chất nhầy do nó tiết ra).

Hệ thống dẫn không khí qua cơ thể chúng ta có cấu trúc phức tạp. Thiên nhiên đã tạo ra một cơ chế vận chuyển oxy đến phổi, nơi nó đi vào máu, để có thể trao đổi khí giữa môi trường và tất cả các tế bào của cơ thể chúng ta.

Theo sơ đồ của hệ thống hô hấp của con người, chúng có nghĩa là đường hô hấp – trên và dưới:

Những cái phía trên là khoang mũi, bao gồm các xoang cạnh mũi, và thanh quản là cơ quan hình thành giọng nói.

Những cây thấp hơn là cây khí quản và cây phế quản.

Cơ quan hô hấp – phổi.

Mỗi thành phần này là duy nhất trong chức năng của nó. Cùng với nhau, tất cả các cấu trúc này hoạt động như một cơ chế phối hợp nhịp nhàng.

Khoang mũi

Cấu trúc đầu tiên mà không khí đi qua khi hít vào là mũi. Cấu trúc của nó:

Khung bao gồm nhiều xương nhỏ trên đó gắn sụn. Nó phụ thuộc vào hình dạng và kích thước của chúng xuất hiện mũi người.

Theo giải phẫu học, khoang của nó thông với môi trường bên ngoài qua lỗ mũi, trong khi với vòm họng thông qua các lỗ đặc biệt ở đáy xương của mũi (choana).

Ở thành ngoài của cả hai nửa hốc mũi, 3 lỗ thông mũi nằm từ trên xuống dưới. Thông qua các lỗ trong chúng, khoang mũi thông với các xoang cạnh mũi và ống lệ đôi mắt.

Từ bên trong, khoang mũi được bao phủ bởi một màng nhầy với một lớp biểu mô duy nhất. Nó có nhiều lông và lông mao. Trong khu vực này, không khí được hút vào, đồng thời cũng được làm ấm và làm ẩm. Các sợi lông, lông mao và lớp chất nhầy trong mũi hoạt động như một bộ lọc không khí, giữ các hạt bụi và bẫy vi sinh vật. Chất nhầy do các tế bào biểu mô tiết ra có chứa các men diệt khuẩn có thể tiêu diệt vi khuẩn.

Một chức năng quan trọng khác của mũi là chức năng khứu giác. TRONG ngọn màng nhầy chứa các thụ thể cho bộ phân tích khứu giác. Khu vực này có màu khác với phần còn lại của màng nhầy.

Vùng khứu giác của màng nhầy có màu hơi vàng. Từ các thụ thể có bề dày của nó, một xung thần kinh được truyền đến các vùng chuyên biệt của vỏ não, nơi hình thành cảm giác về mùi.

Xoang cạnh mũi

Trong độ dày của xương, tham gia vào quá trình hình thành mũi, có các khoảng trống được lót bằng màng nhầy từ bên trong – các xoang cạnh mũi. Chúng chứa đầy không khí. Điều này làm giảm đáng kể trọng lượng của các xương hộp sọ.

Khoang mũi cùng với các xoang tham gia vào quá trình hình thành giọng nói (không khí cộng hưởng và âm thanh trở nên to hơn). Có các xoang cạnh mũi như vậy:

Hai hàm trên (hàm trên) – bên trong xương của hàm trên.

Hai trán (trán) – trong khoang của xương trán, phía trên đường viền chân mày.

Một hình nêm – ở chân xương hình cầu (nó nằm bên trong hộp sọ).

Các khoang bên trong xương ethmoid.

Tất cả các xoang này thông với đường mũi thông qua các lỗ thông và ống tủy. Điều này dẫn đến thực tế là dịch tiết viêm nhiễm từ mũi sẽ đi vào hốc xoang. Bệnh nhanh chóng lây lan sang các mô lân cận. Kết quả là, chứng viêm của họ phát triển: viêm xoang, viêm xoang trán, viêm màng nhện và viêm ethmoid. Những bệnh này có hậu quả nguy hiểm: trong những trường hợp nặng, mủ chảy ra thành xương, đi vào khoang sọ, gây ra những thay đổi không thể phục hồi trong hệ thần kinh.

Thanh quản

Đã đi qua khoang mũi và vòm họng (hoặc khoang miệng nếu một người thở bằng miệng), không khí đi vào thanh quản. Nó là một cơ quan hình ống có cấu tạo giải phẫu rất phức tạp, bao gồm sụn, dây chằng và cơ. Đây là nơi chứa các dây thanh âm, nhờ đó chúng ta có thể tạo ra âm thanh với các tần số khác nhau. Các chức năng của thanh quản là dẫn khí, hình thành giọng nói.

Kết cấu:

Thanh quản nằm ở mức 4-6 đốt sống cổ.

Mặt trước của nó được hình thành bởi tuyến giáp và sụn viền. Phần sau và phần trên là nắp thanh quản và các vòi nhỏ hình nêm.

Nắp thanh quản là “nắp” bao phủ thanh quản trong hầu. Thiết bị này là cần thiết để thức ăn không đi vào đường thở.

Từ bên trong, thanh quản được lót bởi một lớp biểu mô hô hấp, các tế bào trong đó có nhung mao mỏng… Chúng di chuyển bằng cách hướng chất nhầy và các hạt bụi vào cổ họng. Do đó, có một sự thanh lọc liên tục của đường thở. Chỉ có bề mặt của dây thanh được lót bằng biểu mô phân tầng, giúp chúng có khả năng chống lại tổn thương cao hơn.

Có các thụ thể ở độ dày của niêm mạc thanh quản. Khi các thụ thể này bị kích thích bởi dị vật, chất nhầy dư thừa hoặc chất thải của vi sinh vật, phản xạ ho xảy ra. nó phản ứng phòng thủ thanh quản, nhằm mục đích làm sạch lòng của nó.

Khí quản

Từ cạnh dưới sụn quăn bắt đầu khí quản. Cơ thể này thuộc về phần dưới đường hô hấp. Nó kết thúc ở cấp độ 5-6 đốt sống ngực tại vị trí phân đôi của nó (phân đôi).

Cấu trúc của khí quản:

Khung khí quản hình thành 15-20 bán sụn. Phía sau chúng được nối với nhau bằng một lớp màng tiếp giáp với thực quản.

Ở nơi phân chia khí quản thành các phế quản chính, có một chỗ lồi của màng nhầy, lệch sang trái. Thực tế này xác định rằng các cơ quan nước ngoàiở đây thường được tìm thấy ở phế quản chính bên phải.

Màng nhầy của khí quản có khả năng hấp thụ tốt. Nó được sử dụng trong y tế để thực hiện việc quản lý thuốc qua đường hô hấp trong khí quản.

Cây phế quản

Khí quản được chia thành hai phế quản chính – hình ống, bao gồm mô sụn đi vào phổi. Các bức tường của phế quản tạo thành các vòng sụn và các màng mô liên kết.

Bên trong phổi, các phế quản được chia thành các phế quản thuỳ (thuộc bậc thứ hai), các phế quản này lần lượt chia đôi nhiều lần thành các phế quản cấp thứ ba, thứ tư, v.v., cho đến bậc thứ mười – tiểu phế quản tận cùng. Chúng làm phát sinh các tiểu phế quản hô hấp – thành phần của acini phổi.

Các tiểu phế quản hô hấp đi vào đường thở. Các phế nang được gắn vào những đoạn này – những túi chứa đầy không khí. Chính ở mức độ này, quá trình trao đổi khí diễn ra, xuyên qua thành của các tiểu phế quản, không khí không thể thấm vào máu.

Xuyên suốt cây, các tiểu phế quản được lót từ bên trong bằng biểu mô hô hấp, và thành của chúng được hình thành bởi các phần tử sụn. Kích thước của phế quản càng nhỏ thì mô sụn trong thành của nó càng ít.

Tế bào cơ trơn xuất hiện trong các tiểu phế quản nhỏ. Điều này quyết định khả năng giãn nở và thu hẹp của các tiểu phế quản (trong một số trường hợp thậm chí co thắt). Điều này xảy ra dưới ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài, xung động của hệ thống thần kinh tự chủ và một số loại thuốc dược phẩm.

Phổi

Hệ thống hô hấp của con người cũng bao gồm phổi. Trong bề dày của các mô của các cơ quan này, xảy ra sự trao đổi khí giữa không khí và máu (hô hấp ngoài).

Theo con đường khuếch tán đơn giản, oxy di chuyển đến nơi có nồng độ thấp hơn (vào máu). Theo nguyên tắc tương tự, carbon monoxide được loại bỏ khỏi máu.

Sự trao đổi khí qua tế bào được thực hiện do sự chênh lệch áp suất riêng phần của các khí trong máu và khoang phế nang. Quá trình này dựa trên tính thấm sinh lý của thành phế nang và mao mạch đối với khí.

Đây là những cơ quan nhu mô nằm trong khoang ngực ở hai bên của trung thất. Trung thất chứa tim và các mạch lớn (thân phổi, động mạch chủ, tĩnh mạch chủ trên và dưới), thực quản, bạch huyết thân thần kinh và các cấu trúc khác.

Bên trong khoang ngực được lót bằng một lớp màng đặc biệt – màng phổi, một lớp khác của nó bao phủ mỗi lá phổi. Kết quả là, hai khoang màng phổi kín được hình thành, trong đó áp suất âm (so với khí quyển) được tạo ra. Điều này cung cấp cho người bệnh khả năng thở.

Ở bề mặt bên trong của phổi, cổng của nó nằm – bao gồm phế quản chính, mạch máu và dây thần kinh (tất cả những cấu trúc này tạo thành gốc của phổi). Đúng phổi người có ba thùy, và bên trái có hai. Điều này là do thực tế là tim chiếm vị trí của thùy thứ ba của phổi trái.

Nhu mô của phổi bao gồm các phế nang – các khoang chứa không khí có đường kính tới 1 mm. Các bức tường của phế nang được hình thành bởi mô liên kết và tế bào phế nang – những tế bào chuyên biệt có khả năng tự đưa các bong bóng khí oxy và carbon dioxide đi qua.

Từ bên trong, phế nang được bao phủ bởi một lớp mỏng chất nhớt – chất hoạt động bề mặt. Chất lỏng này bắt đầu được sản xuất trong bào thai ở tháng thứ 7 của sự phát triển trong tử cung. Nó tạo ra một lực căng bề mặt trong phế nang, giúp nó không bị xẹp xuống khi bạn thở ra.

Cùng với nhau, chất hoạt động bề mặt, tế bào phế nang, màng mà nó nằm trên đó và thành mao mạch tạo thành một hàng rào máu-không khí. Vi sinh vật không xâm nhập qua nó (bình thường). Nhưng nếu một quá trình viêm (viêm phổi) xảy ra, các bức tường của mao mạch trở nên dễ xâm nhập vào vi khuẩn.

Hít thở là quá trình các tế bào của cơ thể được cung cấp oxy, điều này kích thích các phản ứng trao đổi chất cần thiết cho quá trình đồng hóa chất dinh dưỡng… Các tế bào chuyển hóa oxy thành carbon dioxide (carbon dioxide) và đưa nó trở lại máu để thải ra ngoài cơ thể. Sự trao đổi khí này (oxy hít vào, khí cacbonic thở ra) là chính, sống còn chức năng quan trọng hệ thống hô hấp, ngoài ra, một số bộ phận của nó thực hiện một chức năng.

Hệ thống hô hấp bao gồm mũi, hầu, khí quản, phế quản và phổi.

Mũi là một cấu trúc của xương và sụn, bao gồm mô cơ và da. Bề mặt bên trong của mũi, được lót bởi một lớp màng nhầy, được nối với mũi họng bằng hai kênh của lỗ mũi. Không khí hít vào qua mũi được làm ấm, làm ẩm và lọc, đi qua ba lớp vỏ – lỗ thoát xương, được bao phủ bởi một màng nhầy, bao gồm các tế bào có thể giữ bụi và vi khuẩn.

Sau đó, không khí đã được lọc đi vào vòm họng, nằm ở phía sau khoang bên trong cái mũi. Từ vòm họng, không khí và chất nhầy đi xuống cổ họng, ngoài ra, nó được kết nối bởi các ống Eustachian với tai trongcho phép cân bằng áp lực ở cả hai bên tai màng nhĩ… Cổ họng có hình dạng giống như một “ống khói” và có ba chức năng: không khí và thức ăn đi qua nó, ngoài ra, nó còn chứa các dây thanh âm. Trong miệng, phần giữa của hầu họng, thức ăn, nước uống và không khí đi ra từ miệng, amidan (amidan) cũng nằm ở đây.

Phần dưới của hầu, hạ họng, cũng cho phép không khí, chất lỏng và thức ăn đi qua chính nó. Nó được ngăn cách với thanh quản bởi hai dây thanh âm. Luồng không khí rơi vào khoảng trống giữa chúng sẽ tạo ra rung động, do đó chúng ta nghe thấy chính mình và những người xung quanh.

Thanh quản là một sụn đàn hồi nằm ở đáy lưỡi và được nối bởi “thân” với quả táo Adam. Quá trình sụn này có thể di chuyển lên xuống tự do. Khi thức ăn được nuốt vào, thanh quản tăng lên, buộc “lưỡi” sụn của nắp thanh quản rơi xuống, dùng một loại nắp đậy lại. Điều này cho phép thức ăn đi vào thực quản chứ không phải đường hô hấp. Thanh quản tiếp nối với khí quản, hay nói cách khác – khí quản, dài khoảng 10 cm. Các thành của khí quản được nâng đỡ bởi các vòng sụn không hoàn chỉnh, giúp nó cứng và linh hoạt đồng thời; khi thức ăn đi dọc thực quản gần đó, khí quản hơi đưa vào, cúi gập người xuống.

Bề mặt bên trong của khí quản cũng được bao phủ bởi một lớp niêm mạc để giữ các hạt bụi và vi sinh vật, sau đó được loại bỏ ra ngoài. Các nhánh khí quản đổ vào phế quản màng phổi trái và phải, có cấu trúc tương tự như khí quản, lần lượt dẫn đến phổi trái và phổi phải. Các phế quản phân nhánh thành các ống nhỏ hơn, những ống này thậm chí còn nhỏ hơn, và cứ thế, cho đến khi các ống khí chuyển thành tiểu phế quản.

Phổi có hình nón, trải dài từ xương đòn đến cơ hoành. Bề mặt của mỗi lá phổi được làm tròn, cho phép chúng dính chặt vào các xương sườn và là màng phổi, một bề mặt tiếp xúc với các thành của khoang ngực, và bề mặt kia hướng trực tiếp đến phổi. Khoang màng phổi nằm sau màng ngăn tạo ra chất lỏng bôi trơn ngăn cản ma sát giữa hai màng ngăn. Dọc theo trục của phổi là một khu vực được gọi là cổng, ở đây các dây thần kinh, mạch máu và bạch huyết và phế quản chính đi vào phổi.

Mỗi lá phổi được chia thành các thùy: bên trái thành hai và bên phải thành ba, được chia thành các tiểu thùy nhỏ hơn (có mười trong mỗi phổi). Một tiểu động mạch, một tiểu tĩnh mạch, dẫn đến mỗi tiểu thùy phổi. tàu bạch huyết và một nhánh của tiểu phế quản. Sau đó, các tiểu phế quản phân nhánh ra các tiểu phế quản hô hấp, và chúng phân nhánh vào các đoạn phế nang, đến lượt chúng được chia thành các túi phế nang và các phế nang. Trong các phế nang diễn ra quá trình trao đổi khí. Khi các ống hô hấp di chuyển vào phổi, số lượng cơ và sụn giảm trong cấu trúc của chúng, được thay thế bằng mô liên kết mỏng. Sinh lý hô hấp.

Khi không khí đến phế nang, quá trình trao đổi khí bắt đầu. Lớp niêm mạc của các phế nang có chứa các mao mạch nhỏ. Sự khuếch tán khí diễn ra trong thành mỏng của mao mạch và phế nang – oxy đi vào máu, sau đó chuyển nó đến các mô của cơ thể, và carbon dioxide đi từ mao mạch đến phế nang và được thải ra khỏi cơ thể trong quá trình thở ra. Người ta tin rằng mỗi lá phổi chứa khoảng 300 nghìn phế nang, tổng bề mặt của chúng đủ lớn để quá trình trao đổi khí diễn ra nhanh chóng và hiệu quả.

Khi bạn thở ra, quá trình ngược lại xảy ra. Đầu tiên, cơ liên sườn giãn ra và xương sườn đi xuống, sau đó cơ hoành giãn ra và thể tích khoang ngực giảm xuống. Các sợi đàn hồi bao quanh phế nang và các sợi trong các đoạn phế nang và tiểu phế quản co lại, làm giảm thể tích của phổi, sau đó không khí bị “đẩy” ra khỏi cơ thể.

A) Trình Bày Đặc Điểm Các Cơ Quan Của Hệ Hô Hấp. B) Chức Năng Của Các Cơ Quan Hệ Hô Hấp Là Gì? C) Dung Tích Phổi Là Gì? Nêu Cấu Tạo Của Dung Tích Phổi.

Đáp án:

a.+b.

Các cơ quan trong hệ hô hấp và chức năng của chúngHệ hô hấp gồm 2 phần: Đường dẫn khí và 2 lá phổiĐường dẫn khí:Cấu tạo: gồm các cơ quan: mũi, hầu, thanh quản, khí quản, phế quản.Mũi: có nhiều lông mũi, có lớp niêm mạc tiết chất nhầy, có lớp mao mạch dày đặc.Thanh quản: Có nắp thanh quản có thể cử động đậy kín đường hô hấp.Khí quản: Cấu tạo bởi 15-20 vòng sụn khuyết xếp chồng lên nhau, có lớp niêm mạctiết chất nhầy với nhiều lông rung chuyển động liên tục.Phế Quản: Cấu tạo bởi các vòng sụn, ở phế quản nơi tiếp xúc với các phế nang thìkhông có vòng sụn mà là các thớ cơ.Chức năng: Dẫn không khí vào và ra khỏi phổi; làm sạch, làm ấm và làm ẩm khôngkhí vào phổi; bảo vệ phổi khỏi các tác nhân có hại.Chức năng này được thực hiện tốt nhờ dường dẫn khí có cấu tạo với những đặcđiểm phù hợp sau:Toàn bộ đường dẫn khí đều được lót nhẹ bởi niêm mạc và phần lớn có khả năngtiết chất nhày (làm ẩm và làm sạch không khí nhờ kết dính các hạt bụi nhỏ), cónhiều mao mạch (làm ấm không khí).Phần ngoài khoang mũi có nhiều lông, có tác dụng cản các hạt bụi lớn (làmsạch không khí và bảo vệ phổi).Lớp niêm mạc khí quản có các lông rung chuyển động liên tục để quét các bụibặm dính vào ra phía ngoài.Hai lá phổi:Cấu tạo:Bao ngoài hai lá phổi là hai lớp màng, lớp ngoài dính với lồng ngực, lớp trong dínhvới phổi, giữa 2 lớp có chất dịch giúp phổi nở rộng và xốpĐơn vị cấu tạo phổi là các phế nang tập hợp thành từng cụm và được bao bọc bởimạng mao mạch dày đặc. Có tới 700 – 800 triệu phế nang (túi phổi) cấu tạo nênphổi làm cho diện tích bé mặt trao đổi khí lên tới 70 – 80m2.

Chức năng: trao đổi khí giữa cơ thể và môi trường ngoài.

c.Dung tích sống là thể tích không khí lớn nhất mà một mà cơ thể có thể hít vào và thở ra.

cấu tạo của dung tích phổi:

Dung tích sông phụ thuộc tổng dung tích phổi và dung tích khí cận. Dung tích phối phụ thuộc dung tích lồng ngực, mà dung tích lồng ngực phụ thuộc sự phát triển của khung xương sườn trong đó tuổi phát triển, sau đó độ tuổi phát triển sẽ không phát triển nữa.