Top 14 # Trình Bày Cấu Trúc Và Vai Trò Của Atp / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 11/2022 # Top Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Trình Bày Cấu Trúc Hóa Học Và Chức Năng Của Phân Tử Atp / 2023

Giải bài 3 trang 56 sách giáo khoa Sinh học 10: Trình bày cấu trúc hóa học và chức năng của phân tử ATP.

Trình bày cấu trúc hóa học và chức năng của phân tử ATP.

Trả lời câu hỏi bài 3 trang 56 sgk Sinh lớp 10

Cấu trúc hóa học của phân tử ATP:

ATP (ađênôzin triphôtphat) là một phân tử có cấu tạo gồm các thành phần: ađênin, đường ribôzơ và 3 nhóm phôtphat. Đây là một hợp chất cao năng vì liên kết giữa hai nhóm phôtphat cuối cùng trong ATP rất dễ bị phá vỡ để giải phóng năng lượng. Chính các nhóm phôtphat đều mang điện tích âm nên khi nằm gần nhau luôn có xu hướng đẩy nhau ra vì thế liên kết này rất dễ bị phá vỡ.

ATP truyền năng lượng cho các hợp chất khác thông qua chuyển nhóm phôtphat cuối cùng để trở thành ADP (ađênôzin điphôtphat) và ngay lập tức ADP lại được gắn thêm nhóm phôtphat để trở thành ATP. Ở trạng thái nghỉ ngơi, trung bình mỗi ngày mỗi người sinh sản và phân hủy tới 40kg ATP và mỗi tế bào trong mỗi giây tổng hợp và phân hủy tới 10 triệu phân tử ATP.

Chức năng của phân tử ATP:

+ Tổng hợp nên các chất hóa học mới cần thiết cho tế bào: Những tế bào đang sinh trưởng mạnh hoặc những tế bào tiết ra nhiều prôtêin có thể tiêu tốn tới 75% năng lượng ATP mà tế bào tiết ra.

+ Vận chuyển các chất qua màng: vận chuyển chủ động cần tiêu tốn nhiều năng lượng. Ví dụ, tế bào thận của người cần sử dụng tới 80% ATP sinh sản ra để vận chuyển các chất qua màng trong quá trình lọc máu tạo nước tiểu.

+ Sinh công cơ học: Sự co của các tế bào cơ tim và cơ xương tiêu tốn một lượng ATP khổng lồ. Khi ta nâng một vật nặng thì gần như toàn bộ ATP của tế bào phải được huy động tức thì.

Vai Trò Của Atp Trong Trao Đổi Chất / 2023

VAI TRÒ CỦA ATP TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA TẾ BÀO

MÔN: NĂNG LƯỢNG SINH HỌC

Giáo viên hướng dẫn: TS Võ Văn Toàn Người thực hiện: Huỳnh Thị Bích Thủy Lớp : Cao học Sinh – Khóa 9 NỘI DUNGAdenosine triphosphate (ATP)Chức năng của ATPSự hình thành ATPVai trò của ATP trong hoạt động của tế bàoVai trò của ATP trong trao đổi chất Vai trò của ATP trong trao đổi chất qua màng tế bàoVai trò của ATP trong co cơBốn loại phản ứng của ATPATPMột trong những hợp chất căn bản của sự sống là ATP. Nó giữ vai trò chủ chốt trong hầu như tất cả các quá trình chuyển hóa năng lượng của mỗi hoạt động sống. Phân tử ATP là một nucleotid được tạo thành từ Adenin, đường ribose và 3 phosphate PO4 nằm thẳng hàng với nhau. Adenin gắn với ribose tạo thành Adenosine. Adenosine gắn với một phosphate gọi là AMP (Adenosine-Mono-Phosphate), gắn với hai phosphate gọi là ADP (Adenosine-Di-Phosphate) và gắn với ba phosphate gọi là ATP (Adenosine-Tri-Phosphate).Cấu trúc phân tử ATPMột tính chất quan trọng của phân tử ATP là dễ biến đổi thuận nghịch để giải phóng hoặc tích trữ năng lượng (hình 2). Khi ATP thủy giải nó sẽ tạo ra hai ADP và Pi – phosphate vô cơ: enzyme ATP + H2O  ADP + Pi + năng lượng

Nếu ADP tiếp tục thủy giải sẽ thành AMP. Ngược lại ATP sẽ được tổng hợp nên từ ADP và Pi nếu có đủ năng lượng cho phản ứng: enzyme ADP + Pi + năng lượng  ATP + H2O

The adenine nucleotides – AMP, ADP and ATPCHỨC NĂNG CỦA ATP

Các quá trình TĐC kết hợp rất chặt chẽ, song sự oxy hóa các chất trao đổi bị chi phối bởi hàm lượng ADP. Sự diễn biến của quá trình này phụ thuộc vào tỷ lệ ATP được sử dụng để tạo công vật lý và công hóa học.

CHỨC NĂNG CỦA ATP Công tạo ra hoặc năng lượng sử dụng được chi phối bởi tỷ lệ nguyên liệu được oxy hóa và do đó số lượng thực phẩm cần phải tiêu thụ phải tương ứng với năng lượng tiêu dùng. Chúng ta đều biết nguyên liệu vượt quá dự trữ glycogen trong gan và cơ sẽ được tích trữ trong các mô mỡ.

Nhưng … sự phân giải ATP đơn giản không phụ thuộc vào kết quả sử dụng. Các giai đoạn trung gian trong phản ứng của ATP thành ADP cũng rất quan trọng. ATP + H2O  ADP + Pi (phosphate) SỰ HÌNH THÀNH ATPĐể đảm bảo được vai trò chính yếu của mình trong trao đổi chất, lượng dự trữ ATP thường xuyên phải được hồi phục. ATP có thể theo những đường khác nhau: Phản ứng phosphoryl hóa ở mức cơ chất: đó là phản ứng chuyển trực tiếp nhóm phosphate từ một “dẫn xuất cao năng” đến ADP.

SỰ HÌNH THÀNH ATPSỰ HÌNH THÀNH ATP Phản ứng chuyển enol sang xeto của phosphoenolpyruvat là phản ứng phát năng lượng mạnh do đó có thể cặp đôi (kết hợp) với phản ứng tổng hợp ATP. Ví dụ, phản ứng chuyển nhóm phosphate từ phosphocreatin sang ADP là rất quan trọng cho sự co cơ.Phản ứng phosphoryl hóa oxy hóa: Phản ứng oxy hóa – khử sinh học (cũng như phản ứng quang hợp) thường làm phát sinh ra một gradient nồng độ proton H+ ở 2 phía màng. Năng lượng tự do của quá trình tiêu tán gradient proton H+ này được cặp đôi với phản ứng ATP, do đó mới có tên phosphoryl hóa oxy hóa.SỰ HÌNH THÀNH ATPPhản ứng hình thành ATP bởi adenylatkinaza: Do cắt nhóm pirophosphat làm phát sinh ra AMP. Enzyme adenylatkinaza sẽ xúc tác phản ứng: AMP + ATP  2 ADP Tiếp đó ADP lại được phosphoryl hóa bằng phản ứng đã mô tả ở trên.

VAI TRÒ CỦA ATP TRONG TRAO ĐỔI CHẤT CỦA TẾ BÀONhư đã biết, adenosinetriphosphate là một chất chế biến và vận chuyển năng lượng. Nó được tạo thành trong quá trình phân giải các chất khác nhau như oxy hóa các chất trong ty thể, đường phân và lên men, quang hợp ở diệp lục của thực vật xanh và các quá trình vận chuyển ion ở vi khuẩn,…Ngược lại, ATP cũng là chất cung cấp năng lượng cho các quá trình tổng hợp của cơ thể sinh vật. Đó là các phản ứng gắn liền với phân giải phân tử ATP, công co cơ, sinh tổng hợp các chất protein, axit nucleic…cũng như sản sinh và duy trì tính phân bố không đều các chất giữa tế bào với môi trường xung quanh.VAI TRÒ CỦA ATP TRONG TRAO ĐỔI CHẤT CỦA TẾ BÀOTrong các phần trước cho thấy: sự thay đổi năng lượng tự do âm, khi thủy phân nhóm phosphate tận cùng của ATP lớn hơn khi thủy phân liên kết esterphosphate. Ví dụ khi thủy phân phosphate tận cùng của ATP năng lượng giải phóng vào khoảng G0 = -32,7 kJ/mol, còn thủy phân liên kết esterphosphate của glucose-6-phosphate chỉ giải phóng năng lượng tự do vào khoảng G0 = -12,6 kJ/mol.

VAI TRÒ CỦA ATP TRONG TRAO ĐỔI CHẤT CỦA TẾ BÀOKhác biệt này, do năng lượng tự do tích lũy trong liên kết năng lượng và liên kết cao năng khác nhau. Đa số, các liên kết giàu năng lượng là các liên kết phosphate có cấu trúc anhydride (ATP, ADP, acetylphosphate, aminoacetylphosphate, pirophosphate,..), có cấu trúc enolphosphate (phosphoenolpyruvat), và cấu trúc phosphoguanidinphosphate (creatinphosphate), cũng như thioester (ví dụ acetyl-CoA) và S-adenosylmethionin (ví dụ methinoin hoạt động). Còn các liên kết nhiệt lượng thì khi thủy phân, nhiệt năng giải phóng nhỏ hơn -16 kJ/mol, thường là các sản phẩm trung gian của đường phân như glucose-6-phosphate, fructose-6-phosphate, glycerat-3-phosphate,…

VAI TRÒ CỦA ATP TRONG TRAO ĐỔI CHẤT CỦA TẾ BÀONhững liên kết giàu năng lượng có thế vận chuyển nhóm cao, ví dụ như hai phản ứng chuyển phosphate mô tả ở trên mà có ATP là chất cho phosphate. Khi chuyển esterphosphate tận cùng của ATP lên glucose là chất nhận (tạo thành esterphosphate với thế năng vận chuyển phosphate thấp) làm giảm năng lượng tự do và phản ứng không thuận ngịch. Còn chuyển phosphate từ ATP đến AMP hay từ ATP đến creatin dẫn đến tạo thành các liên kết phosphate giàu năng lượng (ADP hoặc A-R-P ~P hay creatin ~ P). Như vậy, các phản ứng này xảy ra giữa các liên kết có thế năng vận chuyển nhóm cao, nghĩa là không thải nhiệt tự do và xảy ra thuận nghịch. Các quá trình cung cấp và tiêu hao năng lượng ở cơ thể sinh vật

VAI TRÒ CỦA ATP TRONG TRAO ĐỔI CHẤT QUA MÀNG TẾ BÀO

Ion H+ ở dịch ngoại bào xâm nhập vào tế bào bởi chất mang protein của màng, và kết hợp với ion OH- của tế bào làm giảm gradien pH. Chất mang protein vận chuyển H+ qua màng tế bào đồng thời vận chuyển ion Na+ ra khỏi tế bào.

Sự vận chuyển tích cực nhờ bơm Na+, K+VAI TRÒ CỦA ATP TRONG TRAO ĐỔI CHẤT QUA MÀNG TẾ BÀO

Sau đó, ion Na+ xâm nhập trở lại tế bào với các chất khác như đường và acid amin, hoặc quá trình thu nhận và đào thải các chất của tế bào. Tóm lại, đây là cơ chế vận chuyển tích cực các chất (cơ chế đồng vận chuyển )

Sự vận chuyển tích cực do bơm H+VAI TRÒ CỦA ATP TRONG CO CƠBỐN LOẠI PHẢN ỨNG CỦA ATPTrong phân tử ATP có hai liên kết cao năng (hai liên kết phosphoanhydrid) và có khả năng tham gia vào các phản ứng chuyển nhóm. ATP có thể tham gia vào các phản ứng khác nhau, chuyển năng lượng cho phân tử khác và nạp cho phân tử ấy năng lượng cần thiết để thực hiện các phản ứng tiếp theo. Tùy thuộc vào liên kết nào trong số các liên kết cao năng của ATP bị đứt mà phản ứng có thể xảy ra:Chuyển nhóm phosphate cuối và tạo ra ADP.Chuyển hai nhóm phosphate cuối và tạo ra AMP.Chuyển AMP và thải ra pirophosphate.Chuyển adenosine và tạo ra pirophosphate từ hai nhóm phosphate cuối và phosphate vô cơ từ nhóm phosphate thứ ba của ATP.

BỐN LOẠI PHẢN ỨNG CỦA ATPPhản ứng loại một (a) thường hay xảy ra nhất. Nếu nhóm phosphate cuối được chuyển tới nước thì phản ứng sẽ dẫn đến thủy phân nhóm phosphate cuối ấy. Quá trình chuyển nhóm phosphate tới nước là phản ứng phát nhiệt do đó thường được cặp đôi với phản ứng thu nhiệt. Nhóm phosphate cuối này có thể chuyển từ ATP sang nhóm hydroxyl, sang nhóm cacboxyl hoặc sang nhóm amid. Chất xúc tác của tất cả phản ứng chuyển này là kinaza.BỐN LOẠI PHẢN ỨNG CỦA ATPThường trong các quá trình trao đổi chất, các chất dinh dưỡng sẽ được chuyển hóa thông qua biến đổi chúng thành dạng phosphoryl hóa. Năng lượng tự do giải phóng ra khi thủy phân ATP thành ADP và phosphate vô cơ được dùng để phosphoryl hóa cơ chất.

BỐN LOẠI PHẢN ỨNG CỦA ATPPhản ứng loại hai (b) chuyển nhóm pirophosphate rất ít gặp so với phản ứng loại một. Phản ứng loại ba (c) chuyển AMP sang phân tử khác và giải phóng phosphate rất thường gặp. Kết quả của phản ứng này là tạo thành hợp chất (R-AMP) có khả năng chuyển nhóm. Loại phản ứng này xảy ra khi hoạt hóa các axit amin để chuẩn bị tổng hợp protein cũng như khi hoạt hóa các axit béo để chuẩn bị tham gia trao đổi chất.BỐN LOẠI PHẢN ỨNG CỦA ATPATP cũng đựoc sử dụng để chuyển đổi giữa các nucleosidtriphosphate. Như ta đã biết khi tổng hợp protein, axit nucleic, polysacarit, …lại cần những nucleosidtriphosphate khác với ATP. Tất cả những nucleosidtriphosphate này đều được tổng hợp từ ATP và nucleosidtriphosphate tương ứng (NDP).

BỐN LOẠI PHẢN ỨNG CỦA ATPNói cách khác, năng lượng tự do của ATP có thể được sử dụng để sinh tổng hợp ra các nucleosid và các desoxynucleosidtriphosphate khác nhau.

Kháng Thể Là Gì? Cấu Trúc Và Vai Trò Của Kháng Thể / 2023

Kháng thể là gì, các vi khuẩn, virus xâm nhập vào bên trong cơ thể, kháng thể sẽ chống lại chúng. Kháng nguyên và kháng thể giúp kích hoạt hệ thống bổ thể và huy động các tế bào miễn dịch.

1. Kháng thể là gì?

Kháng thể là gì, kháng thể là các loại sinh vật xâm nhập vào cơ thể con người, lúc này cơ thể sẽ nhận biết được sự xâm nhập bất thường này và sản xuất ra các chất gọi là kháng thể còn có tên gọi là antibody.

Do đó, các kháng thể được sản xuất này giúp tiêu diệt các vi khuẩn có hại và bảo vệ cơ thể. Khi cơ thể có đủ sức khỏe thì cơ thể sẽ có khả năng hình thành kháng thể càng mạnh và khả năng miễn dịch chống lại các bệnh nhiễm khuẩn sẽ cao hơn.

2. Các loại kháng thể và sự hình thành kháng thể

Thực tế có tới 5 loại kháng thể như sau:

– IgG, đây là một trong các loại kháng thể phổ biến nhất trong máu, xuất hiện trong sữa non và các dịch mô. Trong khi đó IgG xuyên qua nhau thai, giúp bảo vệ con trong các tuần lễ đầu đời sau khi sinh, thời điểm mà hệ miễn dịch của trẻ chưa được phát triển toàn diện.

– IgA chiếm tới 15 đến 20% trong máu, trong cả sữa non và nước mắt, nước miếng nước bọt của con người. Lúc này, IgA được tiết ra ở đâu đồng nghĩa với việc chúng được có thể chống lại các tác nhân gây bệnh tại đó.

– IgM là lớp miễn dịch đầu tiên được tổng hợp trên trẻ sơ sinh. Việc kết hợp với các kháng nguyên đa chiều như virus và hồng cầu sẽ giúp tiêu diệt các kháng nguyên xấu và bảo vệ cơ thể.

– IgE, loại kháng thể này chiếm tỷ lệ khá lớn và giữ vai trò trong phản ứng quá mẫn cấp cũng như trong cơ thể miễn dịch chống ký sinh trùng.

– IgD là loại kháng thể chiếm tỉ lệ thấp nhất, chỉ chiếm khoảng 1% trên tế bào, có mức dị hóa nhanh và dễ thủy phân bởi enzyme plasmin trong quá trình đông máu. Do đó, IgD được coi là kháng thể có ít chức năng nhất trong quá trình hoạt hóa kháng nguyên.

Kháng thể được hình thành qua các giai đoạn nào?

– Giai đoạn cân bằng, ở giai đoạn này các kháng nguyên cân bằng giữa mạch máu và ngoài mạch máu bằng cách khuếch tán. Đây là một quá trình nhanh chóng, kháng nguyên không còn khuếch tán nữa thì giai đoạn này sẽ mất đi.

– Trong giai đoạn chuyển hóa phân rã, các tế bào và enzyme của cơ thể chuyển hóa kháng nguyên. Hầu hết các kháng nguyên bị các đại thực bào và tế bào thực bào khác bắt giữ. Thời gian này dù dài hay ngắn đều phụ thuộc vào các chất dinh miễn dịch và cơ thể chủ.

– Giai đoạn bỏ miễn dịch, khi kháng thể vừa được tổng hợp kết hợp với các kháng nguyên và tạo thành phức hợp kháng nguyên kháng thể. Sau đó chúng bị thực bào và thoái hóa. Lúc này kháng thể tồn tại trong huyết thanh sau khi giai đoạn loại bỏ miễn dịch hoàn thành.

3. Kháng thể đóng vai trò như thế nào?

Vai trò chính là liên kết giữa kháng nguyên và kháng thể với nhau làm kích hoạt hệ thống bổ thể và huy động các tế bào miễn dịch.

– Liên kết với kháng nguyên

Các globulin miễn dịch có khả năng nhận diện và còn giúp gắn kết một cách đặc hiệu với 1 kháng nguyên tương ứng nhờ vào các vùng biến đổi. Trong đó phản ứng chống độc tố vi khuẩn, kháng thể gắn và qua đó trung hòa độc tố, giúp ngăn ngừa sự bám dính của các độc tố này lên các thụ thể trên bề mặt tế bào. Điều này khiến các tế bào của cơ thể tránh được các rối loạn do các độc tố đó gây ra.

Trong một số loại virus, vi khuẩn chỉ gây bệnh khi bám được vào các tế bào cơ thể. Vi khuẩn sử dụng các phân tử bám dính là các adhesive, còn virus sử dụng các protein cố định trên lớp vỏ ngoài để bám vào các tế bào của cơ thể. Lúc này các kháng thể kháng các phân tử bám dính adhesive của vi khuẩn và các kháng thể kháng protein capside của virus sẽ ngăn chặn chúng gắn vào các tế bào đích.

– Hoạt hóa bổ thể

Một trong những cơ chế bảo vệ cơ thể của kháng thể là sự hoạt hóa dòng thác bổ thể. Bổ thể là một tập hợp protein huyết tương khi các hoạt hóa sẽ có tác dụng tiêu diệt các vi khuẩn xâm nhập bằng cách:

+ Đục các lỗ thủng trên vi khuẩn khiến chúng không thể xâm nhập vào cơ thể.

+ Có thể tạo điều kiện cho hiện tượng thực bào.

+ Thanh thải các phức hợp miễn dịch.

+ Làm phóng thích các phân tử hóa hướng động.

– Huy động các tế bào miễn dịch

sau khi gắn vào kháng nguyên đầu biến đổi, các kháng thể có thể liên kết với các tế bào miễn dịch ở đầu hằng định. Khi đó các tương tác này có tầm quan trọng đặc biệt trong đáp ứng miễn dịch và bằng cách này, các kháng thể có khả năng gắn với một vi khuẩn với mọt đại thực bào và kích hoạt hiện tượng thực bào. Các tế bào lympho giết tự nhiên có thể thực hiện chức năng độc tế bào và ly giải các vi khuẩn hoặc tế bào ung thư đã bị gắn kết bởi các kháng thể.

Có thể bổ sung kháng thể cho cơ thể con người thông qua đường ăn uống bằng cách:

– Bổ sung và cung cấp cho cơ thể đủ chất dinh dưỡng, đạm, chất béo, vitamin, khoáng chất.

– Bổ sung các kháng thể giúp tăng cường khả năng nhận biết và tiêu diệt vi khuẩn cho cơ thể.

– Sử dụng một số loại sản phẩm như: sữa non, mật ong,… giúp tăng cường sức đề kháng.

Dương Vật Của Nam Giới: Cấu Trúc, Vai Trò Và Chức Năng / 2023

1. Tổng quan về dương vật

Dương vật là một bộ phận rất quan trọng đối với nam giới. Dương vật có vai trò chính là tiểu tiện, duy trì nòi giống. Đồng thời, nó giúp nam giới đạt được khoái cảm mỗi khi quan hệ tình dục với bạn tình. Tên tiếng Anh của dương vật là “penis”, là một bộ phận chỉ có ở giống đực.

Dương vật của nam giới là một khối cơ có hình trụ tròn, nằm giữa hai bẹn và gắn liền với xương mu. Các phần của dương vật bao gồm:

Gốc dương vật.

Thân dương vật.

Bao quy đầu.

Quy đầu.

Rãnh dương vật.

2. Cấu trúc dương vật của nam giới

Dương vật của nam giới có cấu trúc bao gồm:

Hai ống thể hang: Nằm ở bên trong và phía trên của dương vật.

Một ống xốp nằm ở phía dưới của dương vật.

Một ống dẫn nước tiểu dẫn thẳng ra lỗ sáo.

Các dây thần kinh của dương vật.

Các mạch máu bao gồm động mạch, tĩnh mạch.

Các bộ phận nằm ở bên trong khoang bụng, gắn liền với dương vật của nam giới bao gồm: Ống dẫn tinh, túi tinh, bàng quang, tiền liệt tuyến. Nằm ngay phía dưới dương vật là 2 tinh hoàn. Đây chính là nhà máy sản xuất tinh trùng và các hormone sinh dục nam.

3. Cấu trúc bên trong của dương vật

3.1. Tổng quát

Dương vật của nam giới gồm ba ống hình tròn. Chúng nằm song song với nhau, cấu tạo bởi các tổ chức cương cứng. Trong đó gồm có hai ống thể hang và một ống thể xốp. Chúng được bao bọc xung quanh bởi ba lớp: lớp cân sâu, lớp mô dưới da và lớp da.

3.2. Thể hang

Thể hang là một ống có mô cương cứng. Nó gồm có nhiều khoảng trống giống như hang động, nằm phía trên dương vật. Nó nằm dọc theo chiều dài của dương vật và được những lớp cân trắng Buck bao quanh. Những lớp cân này cách nhau bởi một màng chắn.

3.3. Mô cương

Mô cương hay tổ chức cương cứng là những nơi động mạch xoắn phình ra. Chúng được các sợi cơ trơn có tính co giãn bao bọc lấy. Hệ thống mô cương và những sợi cơ trơn này có thể bơm máu và chứa máu. Nhờ vậy, dương vật có thể cương cứng khi có kích thích.

3.4. Thể xốp

Thể xốp là một ống khác của dương vật có chứa niệu đạo bên trong. Niệu đạo là nơi thoát ra của nước tiểu và tinh dịch. Tuy nhiên, nước tiểu và tinh dịch không thoát ra cùng một lúc. Phần cuối của ống nở ra tạo nên đầu dương vật còn được gọi là quy đầu.

4. Hệ thống mạch máu ở dương vật của nam giới

4.1. Hệ thống động mạch

Động mạch của dương vật xuất phát từ động mạch bụng. Gồm có ba nhánh chính là: Động mạch lưng, động mạch thể hang và động mạch thể xốp.

Động mạch thể hang là một hệ thống mạch máu rất phức tạp. Nó được chia ra nhiều nhánh nhỏ, chạy dọc theo dương vật. Động mạch có hình xoắn nên được gọi là động mạch xoắn. Động mạch này là động mạch chính cung cấp máu cho các mô cương.

4.2. Tĩnh mạch

Máu thoát ra từ các hang mạch máu sẽ đổ vào các tĩnh mạch nhỏ. Từ các tĩnh mạch nhỏ, máu sẽ đổ vào những tĩnh mạch lớn hơn còn được gọi là tĩnh mạch lưng. Tĩnh mạch này nằm sâu bên trong các thể hang. Từ vị trí ấy, máu sẽ chảy về tĩnh mạch lưng nằm sát ngoài da. Sau cùng là đổ vào tĩnh mạch bụng.

5. Hệ thống thần kinh của dương vật

5.1. Thần kinh chi phối sự cương cứng dương vật của nam giới

Hệ thống thần kinh tự động của cơ thể sẽ chi phối cơ chế cương cứng. Đó chính là dây thần kinh thẹn trong và sợi phó giao cảm của dây thần kinh tạng. Trong khi các xung động giao cảm sẽ làm co các tiểu động mạch đến. Từ đó chấm dứt hiện tượng cương cứng.

Phản xạ cương dương có thể xảy ra thông qua việc kích thích trực tiếp dương vật. Ngoài ra, một đường thần kinh khác truyền từ vỏ não xuống dương vật cũng gây phản xạ cương dương. Đó là cơ chế tâm lý của hiện tượng cương dương.

Có một số loại rối loạn cương dương gây nhiều phiền muộn cho cánh đàn ông. Tìm hiểu thêm: Cương dương quá lâu: Nguyên nhân và nguy cơ

5.2. Hiện tượng phóng tinh

Hiện tượng phóng tinh được chi phối bởi hệ thống thần kinh như sau:

Tinh dịch di chuyển vào niệu đạo

Bộ phận nhận cảm: Các receptor xúc giác ở dương vật, da quanh bộ phận sinh dục, bụng, mặt trước đùi.

Sợi hướng tâm: Dây thần kinh thẹn trong.

Trung tâm: Đoạn thắt lưng trên của tủy sống.

Sợi ly tâm: Sợi giao cảm trong dây thần kinh hạ vị.

Đáp ứng: Co cơ trơn ống dẫn tinh, túi tinh, tiền liệt tuyến. Từ đó, tinh trùng và dịch của các tuyến được đẩy vào niệu đạo.

Hiện tượng xuất tinh

Trung tâm: Đoạn thắt lưng dưới và cùng trên của tủy sống.

Sợi ly tâm: Dây thần kinh cùng 1 – 3 và dây thần kinh thẹn trong.

Đáp ứng: Co các cơ hành hang. Nhờ đó, tinh dịch được đẩy ra khỏi niệu đạo vào lúc đạt cực khoái.

6. Kích thước của dương vật

6.1. Đối với người Việt Nam

Khi cương cứng thì chiều dài trung bình của dương vật người Việt Nam là: 11,2 ± 1,7cm.

Chu vi của dương vật khi mềm trung bình là: 6,6 ± 1,7cm.

Chu vi của dương vật khi cương cứng trung bình là: 8,8 ± 1,8cm.

Nếu khi cương cứng, dương vật có chiều dài dưới 5,5cm thì được xếp vào loại dương vật ngắn.

6.2. Đối với quốc tế

Trong các nghiên cứu quốc tế, chiều dài trung bình của dương vật khi mềm từ 7 đến 10 cm (2,8 đến 3,9 inch).

Chu vi trung bình của dương vật dao động từ 9 đến 10 cm khi mềm (3,5 đến 3,9 inch).

Chiều dài cương cứng trung bình của dương vật từ 12 đến 16 cm (4,7 đến 6,3 inch).

Chu vi khi cương cứng trung bình là khoảng 12 cm (4,7 inch).

6.3. Một vài số liệu thống kê

Chiều dài dương vật của nam giới khi cương cứng trung bình ở một số quốc gia trên thế giới:

Ecuador: 17,61 cm.        

Cameroon: 16,67 cm.

Bolivia: 16,51 cm.

Sudan: 16,47 cm.

Haiti: 16,01 cm.

Senegal: 15,89 cm.

Gambia: 15,88 cm.        

Hà Lan: 15,87 cm.

Cuba: 15,87 cm.

Zambia: 15,78 cm.

Pháp: 15,74 cm.

Angola: 15,73 cm.

Canada: 15,71 cm.

Ai Cập: 15,69 cm.

Zimbabwe: 15,68 cm.

Georgia: 15,61 cm.

Paraguay: 15,53 cm.

Chad: 15,39 cm.

Italy: 15,35 cm.

Cộng hòa Trung Phi: 15,33 cm.        

Đây là số liệu thống kê của trang World Data vào năm 2018. Danh sách trên sắp xếp theo thứ tự 15 quốc gia dẫn đầu theo chiều dài trung bình của dương vật khi cương cứng.

Bạn có thể tìm hiểu kỹ hơn trong bài viết sau: Kích thước dương vật của nam giới Việt Nam

7. Những điều thú vị về dương vật của nam giới

7.1. Hiện tượng “cương cứng dương vật vào buổi sáng”

Đây là một trạng thái sinh lý bình thường ở nam giới. Thông thường, dương vật của nam giới sẽ to hơn và cương cứng khi ngủ. Một số giả thuyết cho rằng sự cương cứng này ức chế sự thoát ra của nước tiểu. Chính vì vậy, nó giúp hạn chế tình trạng đái dầm.

7.2. Dương vật giảm nhạy cảm theo sự tăng của độ tuổi

Nhiều dữ liệu nghiên cứu cho thấy dương vật giảm nhạy cảm dần theo sự tăng dần của tuổi tác. Mức độ giảm nhạy cảm thể hiện rõ nhất ở độ tuổi từ 65 đến 75 tuổi. Vì vậy, các quý ông lớn tuổi khó cương cứng và khó xuất tinh hơn các quý ông trẻ tuổi.

7.3. Phần lớn nam giới không cần phải cắt bao quy đầu

Theo một số liệu thống kê của WHO, vào năm 2007, toàn thế giới có khoảng 70% nam giới ≥ 15 tuổi không cần cắt bao quy đầu. Điều đó chứng tỏ chỉ khoảng 30% nam giới ≥ 15 tuổi bị các vấn đề về bao quy đầu. Chẳng hạn như dài, nghẹt, hẹp bao quy đầu và họ cần phải cắt bao quy đầu.

7.4. Một số thông tin thú vị khác

Một số thông tin thú vị khác xoay quanh dương vật của nam giới bao gồm:

Dương vật là vị trí nhạy cảm nhất trên cơ thể của các quý ông.

Đây là nơi thuận lợi cho sự sinh sống của nhiều loại vi sinh vật. Vì vậy, dương vật rất dễ bị viêm nhiễm nếu không được vệ sinh kỹ lưỡng.

Hút thuốc lá có thể làm dương vật ngắn đi đến tận 1 cm.

Sự cực khoái của quý ông có thời gian ngắn hơn phụ nữ.

Dương vật tuy hoàn toàn là cơ nhưng vẫn có thể gãy nếu quan hệ mạnh bạo.

Bác sĩ Nguyễn Lâm Giang