Top 20 # Trình Bày Sơ Lược Cấu Tạo Của Mắt / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Sơ Lược Về Cấu Tạo Của Răng ! / 2023

1. Bộ răng sữa

Răng sữa có vai trò rất quan trọng trong

Tiêu hoá: nhai nghiền thức ăn.

Giữ khoảng cho răng vĩnh viễn.

Phát âm và thẩm mỹ.

Đồng thời, kích thích sự phát triển của xương hàm nhất là sự phát triển chiều cao cung răng qua hoạt động nhai.

Bộ răng sữa gồm 20 chiếc.

Ở mỗi phần tư hàm, có hai răng cửa (răng cửa giữa và răng cửa bên), một răng nanh và hai răng hàm (răng cối thứ nhất và răng cối thứ hai)  

Tên răng Ký kiệu

Răng cửa giữa là răng sữa số 1

Răng cửa bên 2

Răng nanh 3

Răng hàm thứ nhất (cối 1) 4

Răng hàm thứ hai (cối 2) 5

2. Bộ răng vĩnh viễn

Gồm 32 chiếc, ở mỗi phần tư hàm, có hai răng cửa (răng cửa giữa và răng cửa bên), một răng nanh, các răng này thay thế cho các răng sữa cùng tên tương ứng; hai răng hàm nhỏ (răng hàm nhỏ thứ nhất và răng hàm nhỏ thứ hai, thay thế cho các răng hàm sữa) và ba răng hàm lớn (răng hàm lớn thứ nhất, răng hàm lớn thứ hai và răng hàm lớn thứ ba; các răng này không thay thế cho răng sữa nào cả, đặc biệt răng hàm lớn thứ nhất còn gọi là răng-sáu-tuổi mọc lên rất sớm, cùng tồn tại với các răng sữa nên rất dễ nhầm với răng sữa và không chăm sóc đúng mức).

Răng vĩnh viễn

1: Răng cửa giữa và răng cửa bên trên

2: Răng cửa giữa và răng cửa bên dưới

3: Răng nanh trên

4: Răng nanh dưới

5: Răng hàm nhỏ thứ nhất, thứ hai trên

6: Răng hàm nhỏ thứ nhất, thứ hai dưới

7: Răng hàm lớn thứ nhất, thứ hai và răng khôn trên

8: Răng hàm lớn thứ nhất, thứ hai và răng khôn dưới 1 35 7 2 6 4 8

Ký hiệu

Răng cửa giữa là răng vĩnh viễn số 1

Răng cửa bên 2

Răng nanh 3

Răng hàm nhỏ thứ nhất (cối nhỏ 1) 4

Răng hàm nhỏ thứ hai (cối nhỏ 2) 5

Răng hàm lớn thứ nhất (cối lớn 1: răng-sáu-tuổi) 6

Răng hàm lớn thứ hai (cối lớn 2: răng-mười-hai-tuổi) 7

Răng hàm lớn thứ ba (cối lớn 3: răng khôn) 8

3. Bộ răng hỗn hợp

Gồm răng sữa và răng vĩnh viễn cùng tồn tại trên cung hàm trong khoảng từ 6-12 tuổi.

II. Cách gọi tên răng theo Liên Đoàn Nha Khoa Quốc Tế (FDI) 10/1970

Để gọi đầy đủ và gọn tên các răng theo vị trí phải trái, trên dưới, người ta dùng hai chữ số ký hiệu là xy:

1. Chữ số đầu (x) chỉ vùng

Răng hai hàm đựơc chia thành 4 vùng:

1.1. Đối với răng vĩnh viễn

Vùng 1: cho tất cả các răng hàm trên bên phải.

Vùng 2: cho tất cả các răng hàm trên bên trái.

Vùng 3: cho tất cả các răng hàm dưới bên trái.

Vùng 4: cho tất cả các răng hàm dưới bên phải.

1.2. Đối với răng sữa

Vùng 5: cho tất cả các răng hàm trên bên phải.

Vùng 6: cho tất cả các răng hàm trên bên trái.

Vùng 7: cho tất cả các răng hàm dưới bên trái.

Vùng 8: cho tất cả các răng hàm dưới bên phải.

2. Chữ số sau (y) chỉ loại răng

Sơ đồ 1: Bốn vùng của răng vĩnh viễn Sơ đồ 2: Bốn vùng của răng sữa.

Ví dụ:

Gọi tên răng hàm lớn thứ hai hàm trên bên phải vĩnh viễn là răng 17.

Gọi tên răng hàm thứ nhất hàm dứơi bên trái sữa là răng 74.

III. Các phần của răng

Răng có hai phần: Thân răng và chân răng, được phân cách bởi cổ răng giải phẫu.

1. Thân răng

Là phần trông thấy được ở trên cổ răng giải phẫu,

Thân răng có 5 mặt:

Mặt nhai (của răng hàm), rìa cắn (của nhóm răng cửa trước): qua đó, có sự tiếp xúc các răng hàm đối diện để cắn xé, nhai, nghiền thức ăn. Ở mặt nhai có các núm (múi) răng, được phân cách nhau bởi các rãnh.

Mặt ngoài: còn gọi là mặt má (hành lang) đối với răng hàm, mặt môi (tiền đình) đối với răng trước cửa.

Mặt trong: còn gọi là mặt vòm miệng đối với các răng hàm trên, mặt lưỡi đối với các răng hàm dưới.Hai mặt bên: mặt gần là mặt bên của răng nằm gần đường giữa, mặt xa là mặt bên của răng nằm xa đường giữa.

2. Chân răng

Là phần được cắm vào xương ổ răng của xương hàm, được che phủ trên cùng bởi lợi bám ở cổ răng, tận cùng bằng chóp chân răng. Số lượng chân tùy loại răng và vị trí của nó:

2.1. Đối với răng vĩnh viễn

Một chân: các răng cửa, răng nanh, các răng hàm nhỏ hàm dưới, răng hàm nhỏ thứ hai hàm trên.

Hai chân: răng hàm nhỏ thứ nhất hàm trên (gồm một chân ngoài và một chân trong), răng hàm lớn thứ nhất và răng hàm lớn thứ hai hàm dưới (gồm một chân xa và một chân gần).

Ba chân: răng hàm lớn thứ nhất và thứ hai hàm trên (gồm hai chân ngoài và một chân trong).

Số chân bất thường: răng khôn và các trường hợp ngoại lệ ở các răng khác có số lượng chân thay đổi.

2.2. Đối với răng sữa

Một chân: các răng cửa, răng nanh.

Hai chân: các răng hàm (cối) dưới (gồm một chân xa và một chân gần).

Ba chân: các răng hàm (cối) trên (gồm hai chân ngoài và một chân trong).

IV. Cấu trúc răng

Răng được cấu tạo bởi ba thành phần: men, ngà và tủy răng.

1. Men răng

Men răng là thành phần cứng nhất cơ thể, gồm 96% vô cơ, chủ yếu là Hydroxy apatit, 3% nước, 1% hữu cơ. Men bao phủ thân răng, hầu như không có cảm giác.

2. Ngà răng

Ngà răng ít cứng hơn men răng, gồm 70% vô cơ, 30% hữu cơ và nước, ngà liên tục từ thân đến chân răng, tận cùng ở chóp răng (Apex), trong lòng chứa buồng tủy và ống tủy. Ngà có cảm giác vì chứa các ống thần kinh Tomes.

3. Tủy răng

Tuỷ răng là mô lỏng lẻo trong buồng và ống tủy, là đơn vị sống chủ yếu của răng. Trong tủy có mạch máu, thần kinh, bạch mạch …

V. Phân biệt răng sữa và răng vĩnh viễn 1. Thân răng

Thân răng sữa thấp hơn răng vĩnh viễn, kích thước gần-xa lớn hơn chiều cao.

Mặt nhai thu hẹp nhiều

Cổ răng thắt lại nhiều và thu hẹp hơn.

Lớp men và ngà mỏng hơn

Màu răng sáng hơn, thành phần vô cơ ít hơn.

Răng cửa và răng nanh sữa nhỏ và không thanh như răng vĩnh viễn: chiều gần-xa nhỏ hơn nhng chiều ngoài-trong phồng hơn.

Răng hàm sữa lớn hơn răng hàm nhỏ vĩnh viễn, cần phân biệt kỹ với răng hàm lớn thứ nhất vĩnh viễn.

2. Tuỷ răng

Tủy răng sữa lớn hơn nếu so theo tỉ lệ kích thước thân răng.

Sừng tủy nằm gần đường nối men-ngà hơn.

Có nhiều ống tủy phụ .

Vì vậy, khi điều trị sâu răng sữa, cần lưu ý không làm tổn thương tủy; khi viêm tủy thì phản ứng rất nhanh và dễ bị hoại tử.

3. Chân răng

Chân răng cửa và răng nanh sữa dài và mảnh hơn nếu so theo tỉ lệ với kích thước thân răng.

Chân răng hàm sữa tách nhau ở gần cổ răng hơn và càng về phía chóp thì càng tách xa hơn.Vì vậy, chân răng sữa dễ bị gãy khi nhổ răng.

Răng sữa và răng vĩnh viễn

Ở mỗi phần tư hàm, có hai răng cửa (răng cửa giữa và răng cửa bên), một răng nanh và hai răng hàm (răng cối thứ nhất và răng cối thứ hai)

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào, hãy liên hệ với chúng tôi, Trung tâm nha khoa thẩm mỹ Anh Dũng luôn sẵn lòng giải đáp giúp các bạn!

Sơ Lược Về Cấu Tạo Của Làn Da / 2023

Làn da đóng một vai trò vô cùng quan trọng trên cơ thể, vừa có tác dụng bảo vệ “nhà máy sự sống” bên trong, vừa là một yếu tố tạo nên vẻ ngoài hoàn mỹ không thể thiếu của con người.

Để có được một làn da “ngọc ngà” không đơn giản là yếu tố di truyền, đằng sau đó còn là một quá trình chăm sóc vô cùng kỳ công và đều đặn. Ngay từ lứa tuổi 20, khi sự phát triển của tế bào có dấu hiệu chậm lại, thì đó cũng là lúc chúng ta cần quan tâm hơn đến làn da của mình. Để giúp việc săn sóc da đạt hiệu quả cao nhất, bạn cũng cần biết sơ lược về cấu tạo của làn da. Da bao bọc gần như toàn bộ trên cơ thể. Nếu kéo dài phần da của 1 người có thể lên tới 2m2, với tổng trọng lượng khoảng 15-20% trọng lượng cơ thể, đó quả là một con số ấn tượng. Nếu ví các cơ quan trong cơ thể là một ngôi nhà, thì da đóng vai trò là hàng rào bảo vệ, giúp ổn định thân nhiệt, chống mất nước, giảm các tác nhân độc hại từ môi trường như: vi khuẩn, bụi bẩn, ánh nắng,…Điều tuyệt vời hơn, da còn là nơi đón nhận các xúc giác của cơ thể, giúp ta biết đau, nóng, lạnh và khoái cảm… Cấu tạo của làn da gồm 3 lớp chính lần lượt là thượng bì , trung bì và hạ bì (chân bì).

Cấu trúc 3 lớp của da

Là phần trên cùng của làn da chiếm độ dày nhỏ nhất trong ba lớp tuy nhiên lại giữ vai trò quan trọng nhất. Thượng bì được chia làm 4 lớp nhỏ:

-Lớp sừng(lớp tế bào tróc vảy): Khi bạn nhìn làn da 1 người là lúc bạn đang nhìn vào lớp sừng của người đó. Ở đây tập trung nhiều tế bào chết, được tạo thành từ những tế bào biểu bì bên dưới và được thay thế liên tục. Lớp vảy sừng có tác dụng che chở cho lớp tế bào sống bên trong. Lớp sừng chứa yếu tố dưỡng ẩm tự nhiên (NMF), giúp da mềm mại, ẩm mượt. Khi môi trường bên ngoài khô nóng, cơ thể sẽ sản xuất nhiều NMF hơn, nhưng phải mất vài ngày mới sản xuất kịp, vì thế da bạn trở nên khô trước khi có sự trợ giúp của NMF. Đó là lý do tại sao dùng kem dưỡng ẩm cho da trong điều kiện thời tiết khô là rất quan trọng.

-Lớp tế bào hạt: Lớp tế bào hạt ở trên lớp gai , có từ 3 – 4 hàng tế bào, chổ dày chổ mỏng tùy theo vị trí của da, tế bào hình thoi nhân sáng chứa nhiều hạt lóng lánh gọi là keratohyalin.

-Lớp tế bào gai: Lớp này gồm những tế bào đã trưởng thành, có hình đa diện, xếp thành nhiều lớp, thường có từ 6 đến 10 hàng tế bào làm thành một lớp mềm như màng nhày. Các tế bào gai cũng có khả năng sinh sản bằng gián phân, quá trình biến đổi của thượng bì từ lớp đáy đến lớp gai khoảng 20 ngày.

Cấu tạo lớp biểu bì: 4 lớp nhỏ

2.Lớp trung bì: Nằm sát ngay dưới biểu bì, là một mạng lưới các sợi liên kết, có nhiệm vụ nâng đỡ và nuôi dưỡng da. Đây là vùng có chứa các dây thần kinh, mạch máu, mạch bạch huyết, nang lông, tuyến nhờn và các tuyến mồ hôi. Lớp trung bì có chứa Collagen và Elastin định hình cấu trúc của da, tạo tính đàn hồi và độ săn chắc của da.

Sơ Lược Về Cấu Tạo Của Giấy Decal Cuộn Giá Rẻ / 2023

Giấy decal cuộn thông thường sẽ có 4 lớp: lớp keo, lớp mặt, lớp đế và lớp chống dính.

Lớp keo: có tác dụng làm giấy decal bám chặt hơn trên các bề mặt và được phủ bên dưới lớp mặt

Lớp mặt: là lớp chính, phần chủ yếu nhất của cả decal, tất cả thông tin nội dung sản phẩm đều được in ấn lên bề mặt

Lớp đế: Khi decal chưa được sử dụng thì lớp này có chức năng bảo veej giấy bên trong không bị bong ra ngoài

Lớp chống dính: nhằm tránh bị lớp đế dính vào khi sử dụng thì lớp chống dính được bôi trơn PE silicon để làm nhiệm vụ này

Có những loại giấy decal cuộn nào trên thị trường hiện nay?

Công nghệ rất phát triển và ngày càng cho ra nhiều loại mẫu giấy decal cuộn vượt bậc hơn như decal nhôm, decal nhựa, decal cảm nhiệt, …

– Decal nhựa: đây có thể xem là loại giấy đang thịnh hành và phổ biến nhất hiện nay trên thị trường mà hầu hết được sử dụng trong đời sống và sản xuất. Có thể kể tên một vài sản phẩm từ decal dán như decal nhựa dẻo, decal nhựa nổi, … Đặc điểm của loại decal này là không bị rách, có màu trắng và không tan trong nước.

– Decal nhôm: khác với các loại decal còn lại, decal nhôm là một loại hợp chất bằng kim loại như đúng tên gọi, được tạo thêm độ bóng bằng lớp xi bạc. Nhờ ưu điểm cực bền nên chúng được sử dụng trong các ngành hàng cao cấp như điện tử, cơ khí, … Mức giá thành cho sản phẩm này cao hơn nhiều các loại decal khác.

– Decal cảm nhiệt: vì được tích hợp sẵn trên một ề mặt nên chúng có tính riêng biệt và độc lập. Dù mang đặc điểm không cao như bề mặt trơn nhẵn, màu trắng mờ và dễ bị xé rách nhưng chúng vẫn được ứng dụng khá tốt trong nhiều mặt hàng. Decal cảm nhiệt có 2 loại là cảm nhiệt trực tiếp và bán nhiệt trực tiếp. Khách hàng sẽ trả những mức giá khác nhau cho mỗi loại decal này khi sử dụng chúng.

Decal cuộn có rất nhiều loại với nhiều công dụng, mức giá khác nhau như decal giấy kraft, decal trong suốt số lượng ít lấy ngay, decal nhựa, … Tuỳ vào mục đích sử dụng của khách hàng mà chọn lựa sản xuất decal cuộn chất lượng cao phù hợp.

Trình Bày Cấu Tạo Của Hoa / 2023

Một bông hoa điển hình bao gồm bốn loại cấu trúc gắn vào đỉnh của một cuống ngắn. Mỗi loại cấu trúc này được sắp xếp thành vòng trên đế hoa. Bốn vòng chính tính từ gốc (móng) của hoa hay mấu thấp nhất và tính dần lên trên là:

Đài hoa: vòng ngoài cùng nhất, bao gồm các thành phần đơn vị gọi là lá đài; chúng thường có màu xanh và bao bọc phần còn lại của hoa khi ở trong nụ. Tuy nhiên, các lá đài này có thể không có hoặc dễ thấy và sặc sỡ nổi bật như các cánh hoa ở một số loài.

Tràng hoa: vòng kế tiếp tính về phía đỉnh, bao gồm các thành phần đơn vị gọi là cánh hoa, chúng thường mỏng, mềm và có màu sắc sặc sỡ để thu hút động vật giúp chúng thụ phấn.

Bộ nhị: vòng kế tiếp (đôi khi sắp xếp thành vài vòng), bao gồm các thành phần đơn vị gọi là nhị hoa. Nhị hoa bao gồm 2 phần: một cuống nhỏ gọi là chỉ nhị, trên đầu của chỉ nhị là bao phấn, trong đó sinh ra phấn hoa nhờ phân bào giảm nhiễm để cuối cùng phát tán đi.

Bộ nhụy: vòng trong cùng nhất của hoa, bao gồm một hay vài đơn vị thành phần gọi là lá noãn. Lá noãn hay các lá noãn hợp lại thành một cấu trúc rỗng, gọi là bầu nhụy, bên trong nó sinh sản ra các noãn. Noãn là các túi đại bào tử và tới lượt chúng, chúng sinh ra các đại bào tử nhờ phân bào giảm nhiễm để phát triển thành các thể giao tử cái. Chúng tạo ra các tế bào trứng. Bộ nhụy của hoa cũng được miêu tả bằng cách sử dụng một thuật ngữ thay thế là cấu trúc mà người ta nhìn thấy ở vòng trong cùng nhất (bao gồm một bầu nhụy, vòi nhụy và đầu nhụy), gọi là nhụy hoa. Một nhụy có thể bao gồm một lá noãn hay vài lá noãn hợp lại cùng nhau. Phần đỉnh dính của nhụy gọi là đầu nhụy, nơi tiếp nhận phấn hoa. Một cuống hỗ trợ nâng đỡ gọi là vòi nhụy, trở thành con đường cho các ống phấn phát triển từ các hạt phấn hoa bám vào đầu nhụy.

Cấu tạo và chức năng của nhị và nhụy hoa?

– Cấu tạo:

+ Nhị có nhiều hạt phấn mang tế bào sinh dục đực.

+ Nhụy có bầu chứa noãn mang tế bào sinh dục cái.

– Chức năng: Nhị và nhụy là cơ quan sinh sản chủ yếu của hoa.