Top 7 # Vai Trò Và Lợi Ích Của Mạng Máy Tính Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Vai Trò Của Máy Vi Tính Trong Dạy Học

Do có những tính năng mới và ưu việt nên trong khoảng ba, bốn mươi năm gần đây, máy vi tính đã được sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực của xã hội như: kinh tế, quốc phòng, nghiên cứu khoa học…Trong lĩnh vực giáo dục, người ta cũng đã và đang nghiên cứu sử dụng máy vi tính trong dạy học.

Nhờ chức năng có thể tạo nên, lưu trữ và hiển thị lại một khối lượng thông tin vô cùng lớn dưới dạng văn bản, hình ảnh và âm thanh nên máy vi tính được sử dụng để hỗ trợ giáo viên trong việc minh hoạ các hiện tượng, quá trình tự nhiên cần nghiên cứu. Tất cả các văn bản, hình ảnh hay âm thanh cần minh hoạ cho bài học đều có thể được chọn lọc, sắp xếp trong máy vi tính và được trình bày nhanh chóng với chất lượng cao theo một trình tự bất kỳ trong giờ học (không mất thời gian chép, vẽ lại). Máy vi tính thể hiện tính ưu việt của nó hơn hẳn các phương tiện dạy học khác còn ở chỗ: Ngay tức khắc, theo ý muốn của giáo viên, nó có thể phóng to, thu nhỏ, làm chậm, làm nhanh, dừng lại quá trình đang xảy ra hay chuyển sang nghiên cứu quá trình khác.

Nhiều chương trình (phần mềm) đã xây dựng nhằm hỗ trợ cho việc tự học, tự ôn tập của học sinh, trong đó các yếu tố kích thích hứng thú, phát huy tính tích cực, tự lực cũng như trí lực của học sinh được hết sức chú trọng. Việc kiểm tra, đánh giá với sự hỗ trợ của máy vi tính cũng đã và đang được thử nghiệm trong lĩnh vực dạy học, để đảm bảo được tính khách quan, chính xác cao của công việc kiểm tra, đánh giá. Nhiều chương trình (phần mềm) tự kiểm tra, đánh giá đã đảm bảo thực hiện các mối liên hệ ngược trong quá trình dạy học.

Bên cạnh đó, máy vi tính còn sử dụng trong việc mô phỏng, mô hình hoá các hiện tượng, quá trình cần nghiên cứu. Nhờ các phần mềm về đồ họa (như Turbo Pascal..) hay phần mềm thiết kế ( trong Computer Aided Design, viết tắt là CAD)…, ta có thể mô phỏng các hiện tượng, quá trình nghiên cứu thông qua các dấu hiệu, mối quan hệ có tính bản chất nhất của đối tượng đó để tạo điều kiện thuận lợi cho qúa trình nhận thức của học sinh. Tương tự như thế, nhờ máy vi tính ta có thể xây dựng mô hình về các đối tượng nghiên cứu, giúp cho việc nhận thức đối tượng đó thuận lợi hơn. Đặc biệt là nhờ máy vi tính và các phần mềm, ta có thể xây dựng và quan sát mô hình tĩnh hay mô hình động ở các góc độ khác nhau, trong không gian 1, 2 hay 3 chiều, với đủ loại màu sắc khác nhau có trong tự nhiên…

Do có khả năng tạo nên, lưu trữ, hiển thị, truy nhập cũng như trao đổi các nội dung bất kỳ với khối lượng thông tin khổng lồ dưới dạng văn bản, hình ảnh và âm thanh nên máy vi tính ngày nay được kết nối với mạng Internet và được sử dụng như một trong các phương tiện dạy học trên mạng Internet.

Vai Trò, Lợi Ích Của Trung Tâm Điều Hành An Ninh Mạng Soc

Những năm gần đây khi tần suất các cuộc tấn công mạng vào Việt Nam gia tăng ngày càng nhiều, mức độ nghiêm trọng và tinh vi ngày càng cao, các biện pháp đảm bảo an toàn thông tin cũng được các tổ chức, đơn vị chú ý và đầu tư bài bản hơn trước. Thay vì các giải pháp độc lập, chuyên biệt chỉ xử lý được một khía cạnh của cuộc tấn công, người dùng bị thuyết phục bởi các giải pháp tổng thể, đa tầng, nhiều lớp, nhằm phát hiện và giải quyết triệt để các mối nguy hại chưa từng có tiền lệ. SOC chính là một giải pháp như thế! 1. Hệ thống SOC (Security Operation Center) là gì?

Trung tâm Điều hành an ninh mạng (Security Operation Center, viết tắt: SOC) là một đơn vị gồm các chuyên gia bảo mật giàu kinh nghiệm, sử dụng hàng loạt quy trình đánh giá, cảnh báo trên một hệ thống giám sát tập trung nhằm xử lý toàn bộ các vấn đề an ninh. Hệ thống này liên tục rà soát, phân tích, báo cáo và ngăn chặn các mối đe dọa an ninh mạng, đồng thời ứng phó với bất kỳ sự cố nào xảy với máy tính, máy chủ và trên mạng mà nó giám sát.

Là sự kết hợp nhuần nhuyễn từ 3 yếu tố cốt lõi trong ngành Công nghệ thông tin nói chung và an toàn thông tin nói riêng gồm: Con người – Công nghệ – Quy trình, SOC chính là rào chắn cuối cùng, giải quyết những thiếu sót còn lại của các thiết bị an ninh mạng sau khi chúng bị vượt qua dễ dàng bởi bọn tội phạm mạng chuyên nghiệp.

Con người: Là những chuyên gia trong Trung tâm điều hành an ninh, được phân công nhiệm vụ rõ ràng để phối hợp vận hành hệ thống.

Công nghệ: Là các giải pháp giám sát, phân tích, phát hiện sự cố, điều tra truy vết sự cố.

Quy trình: Là các quy định, quy trình, chính sách an ninh thông tin được triển khai trên hệ thống.

Thiết lập một trung tâm điều hành an ninh mạng chính là cải thiện khả năng phát hiện sự cố bảo mật thông qua giám sát và phân tích liên tục hoạt động dữ liệu. Hệ thống SOC sẽ phân tích các hoạt động này trên toàn tổ chức, các mạng, điểm cuối, máy chủ và cơ sở dữ liệu để đảm bảo phát hiện và ứng phó kịp thời các sự cố bảo mật. Nhờ vòng tròn khép kín và sự hỗ trợ lẫn nhau của 3 yếu tố kể trên, SOC có thể rà soát và phản ứng với các mối nguy hại tiềm ẩn 27/4, điều này giúp thu hẹp khoảng cách giữa thời gian xâm nhập và thời gian phát hiện đồng thời giúp các tổ chức chủ động hơn trong việc đối phó với các mối đe dọa.

3. Chức năng, nhiệm vụ chính của SOC là gì?

Để đóng góp vào sự an toàn chung của tất cả các thiết bị, dữ liệu trong tổ chức các chuyên gia SOC phải đảm bảo được những đầu việc sau:

Chủ động giám sát trạng thái an ninh của toàn bộ hệ thống theo thời gian thực trên một giao diện quản lí tập trung duy nhất.

Định kì rà quét, tự động kiểm tra an ninh toàn bộ hệ thống.

Quản lý nhật ký và phản hồi (cung cấp cho các cơ quan chức năng thông tin chính xác trong trường hợp cần đến điều tra).

Phát hiện các lỗ hổng, các điểm yếu trong hệ thống mạng và đề xuất các biện pháp xử lí.

Xếp hạng cảnh báo bất thường tại từng nút mạng hoặc trên từng thiết bị, mức độ nghiêm trọng tỉ lệ thuận với mức độ khẩn trương loại bỏ mối đe dọa.

Cảnh báo sớm các điểm yếu, nguy cơ an ninh có thể xảy ra và điều chỉnh phòng thủ.

Hỗ trợ ứng cứu và xử lí các sự cố an ninh mạng.

Quản lí, điều khiển và ra lệnh từ xa.

Tự động tối đa các qui trình nghiệp vụ, tối ưu nhân lực vận hành hệ thống.

Gửi báo cáo định kỳ (theo ngày, tuần, tháng, quí, năm) hoặc theo thời gian thực.

Mỗi nhiệm vụ này là một chức năng quan trọng của SOC nhằm giữ cho toàn bộ tổ chức được bảo vệ tốt. Bằng cách kết hợp tất cả các nội dung trên, SOC duy trì sự ổn định của hệ thống và đưa ra hành động phù hợp, khôn ngoan ngay lập tức nếu xâm nhập xảy đến.

4. Xây dựng và điều hành SOC

Xây dựng Trung tâm điều hành an ninh mạng là một quá trình phức tạp nhưng để đảm bảo SOC vận hành trơn tru, hiệu quả lại là một bài toán nan giải hơn nữa.

Bước đầu tiên và cũng là quan trọng nhất mỗi doanh nghiệp cần thực hiện trước khi thiết lập một SOC hoàn chỉnh là xác định chiến lược rõ ràng, đặt ra mục tiêu cụ thể cho tổ chức và tính toán các sự hỗ trợ cần thiết từ nội bộ doanh nghiệp. Sau đó, phải rà soát đánh giá hệ thống công nghệ thông tin hiện tại, xây dựng, bổ sung hệ thống bảo vệ cân thiết như: Firewall, Intrusion Detection System (IDS), Antivirus (AV), Distributed denial-of-service (DDoS),…

Tiếp đến là cải thiện các hệ thống theo dõi – giám sát, truy vết, hệ thống phân tích xử lý và phản ứng với các sự cố. Cuối cùng là đào tạo nhân sự và xây dựng quy trình phản ứng phù hợp để có thể liên kết tất cả các thành phần trên với nhau tạo ra một mô hình tổng thể đảm bảo an ninh – an toàn cho hệ thống.

Việc vận hành SOC được thực hiện bởi một đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm, chia làm nhiều lớp theo chức năng, nhiệm vụ và mức độ nghiêm trọng của sự cố:

Level 1: Alert Analyst là chuyên viên có nhiệm vụ theo dõi, giám sát và cảnh báo từ hệ thống 24/7. Khi nhận được cảnh báo, họ sẽ phân tích, đánh giá và chuyển tới Incident Responder hoặc SME/Hunter.

Level 2: Incident Responder là những chuyên viên có nhiệm vụ tiếp nhận cảnh báo từ Alert Analyst. Sau khi xác định và phân tích các sự kiện bảo mật, các chuyên gia này phân loại, xếp hạng và đánh giá leo thang đặc quyền để cảnh báo các mối đe dọa tiềm ẩn.

Level 3: SME/Hunter là những chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực an toàn thông tin, chuyên môn cao. Những người này trực tiếp xử lý các sự cố an ninh, điều tra và đưa ra các điều lệnh ngăn chặn các sự cố.

Level 4: Cuối cùng là SOC Manager – người toàn quyền quản lý toàn hệ thống SOC bao gồm nhân sự, ngân sách, nội dung quy trình. SOC Manager tiếp nhận các thông tin báo cáo, phân tích và kết quả khắc phục sự cố từ các SME/Hunter. SOC cũng sẽ là người phát ngôn khi có sự cố xảy ra với hệ thống.

Từ những dữ kiện trên về SOC, mỗi doanh nghiệp, tổ chức hẳn đã có cái nhìn sâu hơn về vai trò và lợi ích một Trung tâm điều hành an ninh mạng, nhưng với những đơn vị thiếu sót kiến thức bảo mật, thiếu hụt nhân sự có kinh nghiệm, hệ thống công nghệ thông tin sơ sài và chưa có quy trình xử lý, ứng phó sự cố hiệu quả thì việc tự xây dựng và vân hành SOC vẫn còn là ước mơ khá xa vời. Đó là lý do vì sao VSOC (Virtual Security Operations Centers) – Trung tâm điều hành an ninh mạng ảo ra đời.

Mạng Máy Tính Là Gì? Lợi Ích Khi Sử Dụng Mạng Máy Tính

1. Mạng máy tính là gì?

Hệ thống mạng hay mạng máy tính (tiếng Anh: computer network hay network system) là sự kết hợp các máy tính lại với nhau thông qua các thiết bị nối kết mạng và phương tiện truyền thông (giao thức mạng, môi trường truyền dẫn) theo một cấu trúc nào đó và các máy tính này trao đổi thông tin qua lại với nhau.

Lợi ích của hệ thống mạng máy tính?

– Chia sẻ tập tin của bạn cho những người dùng khác

– Xem, chỉnh sửa và sao chép các tập tin trên một máy tính khác một cách dễ dàng như đang thao tác với một đối tượng trên máy tính của chính mình.

– Các máy tính, thiết bị trong cùng một hệ thống mạng có thể dùng chung các tài nguyên như: máy in, máy fax, máy tính thiết bị lưu trữ (HDD, FDD và ổ đĩa CD), webcam, máy quét, modem và nhiều thiết bị khác.

– Ngoài ra, những người dùng tham gia mạng máy tính cũng có thể chia sẻ các tập tin, các chương trình trên cùng một mạng đó.

2. Các loại hệ thống mạng máy tính

Có 4 loại chính có thể kể đến là: LAN, WAN, INTRANET, SAN. Cụ thể như sau:

Mạng LAN

– Mạng LAN thường được sử dụng trong một doanh nghiệp để cung cấp kết nối Internet cho tất cả những người cùng ở một không gian với một kết nối Internet duy nhất.

– Tất cả các thiết bị Internet có khả năng được cấu hình như các nút trong một mạng LAN và có thể được kết nối với Internet thông qua một máy tính riêng.

– Các máy tính trong mạng LAN cũng được sử dụng để kết nối các máy trạm văn phòng để cấp quyền truy cập vào máy in.

– Tuy nhiên, mạng máy tính LAN chỉ có mức độ phủ sóng trong một phạm vi rất nhỏ chỉ ở 1 tòa nhà.

Mạng WAN

– Khác hoàn toàn với LAN, mạng WAN có thể bao gồm một khu vực địa lý rộng lớn, vượt biên giới quốc gia hay quốc tế.

– Một mạng WAN được thực hiện bằng cách sử dụng đường dây thuê bao được cung cấp bởi một nhà cung cấp dịch vụ hoặc bằng cách sử dụng các gói mạng chuyển mạch về truyền dữ liệu.

Mạng INTRANET

– Đây là một mạng nội bộ mở rộng, về cơ bản nó là một mạng máy tính mà người dùng từ bên trong công ty có thể tìm thấy tất cả các nguồn lực của mình mà ko phải ra ngoài công ty khác

– Mạng INTRANET có thể bao gồm các mạng LAN, WAN và MAN

Mạng SAN

– Mạng SAN (hay còn được gọi là mạng lưu trữ) cung cấp một cơ sở hạ tầng tốc độ cao để di chuyển dữ liệu giữa các thiết bị lưu trữ và máy chủ tập tin.

– Hiệu suất của mạng SAN rất nhanh, có sẵn các tính năng dự phòng, khoảng cách giữa các máy trong mạng SAN có thể lên đến 10 km

– Mức chi phí cực thấp nhưng lại mang trong mình hiệu quả khá cao, lựa chọn tối ưu cho các doanh nghiệp.

Mạng Máy Tính Là Gì? Các Thành Phần Của Mạng Máy Tính

4.2

/

5

(

6

bình chọn

)

Mạng máy tính là gì? các thành phần của mạng máy tính

Mạng máy tính là gì?

Mạng máy tính được thiết lập bằng cách kết nối hai hoặc nhiều máy tính và các thiết bị phần cứng hỗ trợ khác thông qua các kênh giao tiếp được gọi là mạng máy tính. Nó cho phép các máy tính giao tiếp với nhau và chia sẻ lệnh, dữ liệu, v.v., bao gồm cả tài nguyên phần cứng và phần mềm.

Tác dụng của mạng máy tính

Nó cho phép bạn chia sẻ các tài nguyên như máy in, máy quét, v.v.

Bạn có thể chia sẻ phần mềm và cơ sở dữ liệu đắt tiền giữa những người dùng mạng.

Nó tạo điều kiện giao tiếp từ máy tính này sang máy tính khác.

Nó cho phép trao đổi dữ liệu và thông tin giữa những người dùng thông qua một mạng.

Các thành phần cơ bản của mạng máy tính

Các thiết bị đầu cuối như máy tính, máy in,… kết nối với nhau tạo thành mạng;

Môi trường truyền dẫn (các loại dây dẫn,dây cáp mạng, sóng điện từ, sóng wifi, bức xạ hồng ngoại, sóng truyền qua vệ tinh,…) cho phép các tín hiệu truyền qua đó;

Các thiết bị kết nối mạng (hay gọi là thiết bị mạng: router, hub, switch,…) cùng môi trường truyền dẫn có nhiệm vụ kết nối các thiết bị đầu cuối trong phạm vi mạng.

Giao thức truyền thông (protocol) là tập hợp các quy tắc quy định cách trao đổi thông tin giữa các thiết bị gửi và nhận dữ liệu trên mạng.

Các kiểu mạng máy tính phổ biến

Mạng cục bộ (LAN)

Mạng khu vực đô thị (MAN)

Mạng diện rộng (WAN)

Mạng cục bộ (LAN)

Như tên cho thấy, mạng cục bộ là mạng máy tính hoạt động trong một khu vực nhỏ, tức là nó kết nối các máy tính trong một khu vực địa lý nhỏ như trong văn phòng, công ty, trường học hoặc bất kỳ tổ chức nào khác. Vì vậy, nó tồn tại trong một khu vực cụ thể, ví dụ như mạng gia đình, mạng văn phòng, mạng trường học, v.v.

Tìm hiểu chi tiết tại: mạng LAN là gì

Mạng khu vực đô thị (MAN)

MAN là mạng tốc độ cao trải rộng trên một khu vực địa lý rộng lớn như thành phố hoặc thị trấn tàu điện ngầm. Nó được thiết lập bằng cách kết nối các mạng cục bộ sử dụng bộ định tuyến và đường dây tổng đài điện thoại nội hạt. Nó có thể được điều hành bởi một công ty tư nhân, hoặc nó có thể là một dịch vụ được cung cấp bởi một công ty như công ty điện thoại địa phương.

MAN là lý tưởng cho những người ở một khu vực tương đối lớn muốn chia sẻ dữ liệu hoặc thông tin. Nó cung cấp thông tin liên lạc nhanh chóng qua các sóng mang tốc độ cao hoặc các phương tiện truyền dẫn như đồng, sợi quang và vi sóng. Các giao thức thường được sử dụng cho MAN là X.25, Frame Relay, Chế độ truyền không đồng bộ (ATM), xDSL (Đường thuê bao kỹ thuật số), ISDN (Mạng kỹ thuật số dịch vụ tích hợp), ADSL (Đường dây thuê bao kỹ thuật số không đối xứng), v.v.

Khu vực được bao phủ bởi MAN lớn hơn LAN nhưng nhỏ hơn WAN. Mạng lưới của nó trải dài từ 5 đến 50 km. Hơn nữa, nó cũng cung cấp các đường lên để kết nối mạng LAN với WAN và internet. Một tổ chức có thể sử dụng MAN để kết nối tất cả các mạng LAN của mình đặt tại các văn phòng khác nhau trên toàn thành phố.

Ví dụ về MAN:

Mạng truyền hình cáp

Dịch vụ điện thoại cung cấp cung cấp đường dây DSL tốc độ cao

IEEE 802.16 hoặc WiMAX

Các trạm cứu hỏa được kết nối trong một thành phố

Các chi nhánh được kết nối của một trường học trong thành phố

Mạng diện rộng (WAN)

WAN mở rộng trên một khu vực địa lý rộng lớn. Nó không giới hạn trong một văn phòng, trường học, thành phố hoặc thị trấn và chủ yếu được thiết lập bằng đường dây điện thoại, cáp quang hoặc liên kết vệ tinh. Nó chủ yếu được sử dụng bởi các tổ chức lớn như ngân hàng và các công ty đa quốc gia để giao tiếp với các chi nhánh và khách hàng của họ trên toàn thế giới. Mặc dù có cấu trúc tương tự như MAN nhưng nó khác MAN về phạm vi hoạt động của nó, ví dụ: MAN bao phủ lên đến 50 km, trong khi WAM bao gồm các khoảng cách lớn hơn 50 km, ví dụ: 1000 km hoặc hơn.

Mạng WAN hoạt động bằng cách sử dụng giao thức TCP / IP kết hợp với các thiết bị mạng như bộ chuyển mạch, bộ định tuyến, tường lửa và modem. Nó không kết nối các máy tính cá nhân; đúng hơn, chúng được thiết kế để liên kết các mạng nhỏ như LAN và MAN để tạo ra một mạng lớn. Internet được coi là mạng WAN lớn nhất trên thế giới vì nó kết nối nhiều mạng LAN và MAN khác nhau thông qua các ISP.

Nguồn: Mạng máy tính là gì? các thành phần của mạng máy tính

Bài viết này có hữu ích với bạn không?

Không