Top 15 # Vấn Đề Lợi Ích Quốc Gia Là Gì / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 11/2022 # Top Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Lợi Ích Quốc Gia Mới Là Bất Biến / 2023

Quyết định lịch sử này không chỉ có lợi cho Mỹ và Cuba, mà còn có lợi cho cả khu vực và thế giới. Nó càng cho thấy cựu Thủ tướng Anh duy nhất từng nhận giải Nobel văn học Winston Churchill đã đúng, khi ông cho rằng: “Trên thế giới này không có bạn bè vĩnh viễn hay kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia mới là vĩnh viễn”.

Thế giới hiện đại càng cho thấy lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc luôn được đặt lên trên hết. Thậm chí, có nơi, có lúc, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan, méo mó làm nảy sinh quái thai, dị dạng nào đó, đi ngược với trào lưu của thế giới văn minh tiến bộ. Nhưng, việc đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu trong mọi xử thế bang giao ngày nay đã tỏ ra là một xu thế không thể đảo ngược.

Bạn bè vĩnh viễn hay kẻ thù vĩnh viễn đã trở thành “cách tiếp cận lỗi thời” trong thế giới hiện đại ngày nay. Bạn bè thì thường ít khi “chơi” xấu, cài bẫy gây thiệt hại cho nhau. Nhưng, trước những hành vi “bạn” cố tình “xấu chơi”, thì bất kỳ chủ thể nào cũng không thể và không nên dĩ hòa vi quý, “ngậm bò hòn làm ngọt” được. Bạn bè “xấu chơi” thì phải đấu tranh, cảnh báo và ngăn chặn cho kỳ được. Còn, trong mọi xung đột, bất đồng, dẫu có là kẻ thù của nhau thì vẫn có thể tìm ra lối thoát có lợi, để có thể giải quyết xung đột, bất đồng thông qua đối thoại và thương lượng trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau và tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Chưa kể, nếu gác thù thành bạn, gác lại quá khứ để hướng tới tương lai, mang đến những lợi ích to lớn, thì lại càng là điều cần làm hơn hết vì lợi ích quốc gia, vì lợi ích dân tộc luôn bất biến.

Bởi thế, việc bình thường hóa và phát triển quan hệ thân thiện giữa hai nước láng giềng gần gũi nhau về địa lý như Mỹ và Cuba sẽ chỉ có lợi cho nhân dân hai nước cũng như quốc tế và khu vực. Quan điểm này được đại diện Việt Nam tại Liên hợp quốc nhiều lần khẳng định. Hơn ai hết, Việt Nam thấu hiểu những khó khăn và khổ đau mà nhân dân Cuba phải chịu đựng trong những năm tháng bị cấm vận kéo dài, mà đây lại là cuộc cấm vận dài nhất trong lịch sử thế giới cận đại, đi ngược lại những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, đi ngược lại Hiến chương Liên hợp quốc và các qui định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Việc kéo dài những hành động cấm vận, gây sức ép kinh tế như vậy chỉ càng làm quyền lợi của chính Mỹ và cả Cuba đều bị mất mát, ảnh hưởng.

Những thống kê mới nhất cho thấy tổn thất kinh tế khổng lồ do cấm vận gây ra đối với cả Mỹ và Cuba. Theo Phòng Thương mại Mỹ, 54 năm cấm vận thương mại khiến nền kinh tế Cuba thiệt hại 1.100 tỷ USD. Kinh tế Mỹ cũng thiệt hại 1,2 tỷ USD mỗi năm. Như vậy, trong quãng thời gian nước Mỹ trải qua 11 đời tổng thống thì nước Mỹ thiệt hại 64,8 tỷ USD vì cấm vận Cuba. Dù cho những con số này chưa thể đầy đủ và có thể còn phiến diện, nhưng dường như chẳng có sự thiệt hại, mất mát nào có thể đo đếm được trong hơn nửa thế kỷ qua giữa Mỹ và Cuba. Vì giữa hai đất nước từng coi nhau là kẻ thù xuyên thế kỷ này, thì quyền lợi quốc gia bị mất mát là một lẽ, nhưng những tổn thương, thua thiệt vì cấm vận của hàng trăm triệu người dân cả hai nước thì không thể đếm xuể, không thể kể hết được.

Do vậy, Mỹ và Cuba bình thường hóa quan hệ là điều không có gì ngạc nhiên. Dù không dễ dàng gì để Mỹ và Cuba sớm trở thành bạn bè thân thiết, nhưng việc hai nước cùng công bố bình thường hóa quan hệ, tiến đến bỏ cấm vận là xu thế không thể đảo ngược. Ngoại trưởng Mỹ John Kerry – người góp phần không nhỏ trong tiến trình bình thường hóa quan hệ với Cuba theo chính sách của Tổng thống Obama – cho rằng, động thái mới của Mỹ với Cuba cũng tương tự việc nước này bình thường hóa quan hệ với Hà Nội cách đây gần 20 năm, không dễ dàng nhưng đáng giá.

Ông John Kerry – một cựu binh từng tham chiến trong chiến tranh xâm lược Việt Nam giờ đang là quan chức ngoại giao số 1 Hoa Kỳ – nhớ lại: “Từ cách đây hơn 20 năm, tôi đã được trực tiếp chứng kiến 3 vị tổng thống – một Cộng hòa và hai Dân chủ – thực hiện nỗ lực tương tự nhằm thay đổi mối quan hệ của Mỹ với Việt Nam”. Theo ông John Kerry, “điều đó không dễ dàng gì. Nhưng phải bắt đầu thì mới đi tiếp được”.

Cách đây hơn 20 năm, khi Tổng thống Hoa Kỳ lúc đó là Bill Clinton thông báo quyết định bãi bỏ lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam ngày 3-2-1994 mở đường cho bình thường hóa quan hệ hai nước vào năm 1995, người viết bài này đã đặt tiêu đề cho một bài viết trên Báo An ninh Thủ đô tháng 2-1994 là “Mười tám năm, chín tháng cấm vận và sau đó…”. Quãng thời gian ấy đủ cho một thế hệ sinh ra và lớn lên, quãng thời gian ấy đủ để cả Hà Nội và Washington cùng nhận thức cần gác lại quá khứ, hướng tới tương lai. Rồi tiếp sau, cũng phải mất thêm gần 20 năm nữa để quan hệ Việt – Mỹ có nhiều bước tiến hết sức quan trọng, trở thành đối tác như hiện nay.

Lịch sử thế giới hiện đại đang cho thấy bang giao quốc tế với những thay đổi ngoại giao chiến lược, không đơn thuần chỉ là những trận đấu thắng-thua. Càng như vậy, chúng ta càng thấm thía tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong quan hệ quốc tế. Tư tưởng ấy đến hôm nay vẫn mang tính thời sự. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, phải hết sức tránh đối đầu chừng nào còn có thể tránh được, tìm ra điểm đồng (cùng) giữa ta và họ, hiểu quan hệ giữa họ với nhau, không để Việt Nam bị “kẹp” trong xung đột nước lớn, thực hiện là bạn của tất cả các nước và “không gây thù oán với một ai”.

Cũng bởi vậy, làm bạn với tất cả các nước đồng thời đặt lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc lên trên hết, chính là quan điểm sáng rõ cho ngoại giao Việt Nam đương đại.

Lợi Ích Quốc Gia Luôn Là Tối Thượng / 2023

“Đảng xác định xóa bỏ mọi rào cản, mọi định kiến, tạo mọi điều kiện để kinh tế tư nhân phát triển lành mạnh, nhưng Đảng cũng kiên quyết đấu tranh, đẩy lùi các biểu hiện tiêu cực của kinh tế tư nhân. Mọi sự phát triển phải tuân thủ nguyên tắc lợi ích quốc gia luôn là tối thượng”, ông Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, nêu quan điểm.

Không tuyệt đối hóa Có lẽ, không phải ngẫu nhiên mà nghị quyết đầu tiên của Trung ương dành riêng cho khu vực kinh tế tư nhân lại được đánh số 10, thưa ông?

Nghị quyết số 10 ngày 3/6/2017, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII (2017) về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một chủ trương lớn.

Với việc đánh số 10 cho nghị quyết này là một sự khẳng định về quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân ta trong phát triển kinh tế tư nhân. Số 10 còn thể hiện mong muốn nghị quyết sẽ mang lại những thành tựu có ý nghĩa đột phá như chúng ta đã đạt được như với Nghị quyết về Khoán 10 trong lĩnh vực nông nghiệp vào thời kỳ đầu đổi mới.

Nghị quyết số 10 lần này cũng phản ánh rõ định hướng của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh là một nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa thường xuyên trong suốt quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Phát triển kinh tế tư nhân là một phương thức quan trọng để giải phóng sức lao động, sản xuất, huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để phát triển. Đây là lần đầu tiên Đảng xác định kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là nòng cốt để xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ.

Với “lần đầu tiên” này, liệu có làm nền kinh tế chuyển từ thái cực này sang thái cực khác, từ rất cưng doanh nghiệp nhà nước, chuyển sang doanh nghiệp tư nhân?

Các quan điểm của Nghị quyết 10-NQ/TƯ đều là các quan điểm rất mới, rất mạnh mẽ và đột phá. Khi chúng ta chủ trương như vậy thì cũng phải luôn cảnh giác với mọi biểu hiện sai lệch, dẫn tới tuyệt đối hóa vai trò của kinh tế tư nhân. Chủ trương xuyên suốt và nhất quán của Đảng là phát triển một nền kinh tế nhiều thành phần và các thành phần kinh tế đều bình đẳng. Mỗi thành phần kinh tế đều có vị trí, vai trò, chức năng riêng của mình trong tổng thể nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Cụ thể như tại nghị quyết lần này, chúng ta đã xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Bên cạnh việc Đảng xác định xóa bỏ mọi rào cản, mọi định kiến và tạo mọi điều kiện để kinh tế tư nhân phát triển lành mạnh thì Đảng cũng kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện tiêu cực của kinh tế tư nhân, nhất là những biểu hiện về chủ nghĩa tư bản thân hữu, lợi ích nhóm hay biểu hiện về thao túng chính sách, cạnh tranh không bình đẳng dẫn tới trục lợi.

Có nghĩa là dù rất mực tạo điều kiện, nhưng sẽ không có bất kỳ sự nuông chiều nào đối với khu vực kinh tế này?

Tôi muốn nhấn mạnh lại rằng, một mặt chúng ta khẳng định rất rõ vai trò của kinh tế tư nhân, nhưng chúng ta cũng phải nhìn thẳng vào những mặt trái của khu vực kinh tế này để thực thi các giải pháp vừa phát huy được mặt tích cực của kinh tế tư nhân cho phát triển kinh tế – xã hội, cho lợi ích của quốc gia, của dân tộc, vừa hạn chế được mặt tiêu cực, đặc biệt là những biểu hiện mà chúng ta thấy khá phổ biến trong thời gian qua như chủ nghĩa tư bản thân hữu, lợi ích nhóm, thao túng chính sách, cạnh tranh không bình đẳng để trục lợi.

Nghị quyết 10 đã mở đường cho việc đưa ra những cơ chế, chính sách mới, phù hợp hơn và đột phá hơn nhằm phát triển kinh tế tư nhân trở thành một khu vực kinh tế năng động, sáng tạo với năng lực cạnh tranh và tác động lan tỏa cao tới các khu vực kinh tế khác, qua đó tới toàn bộ nền kinh tế. Đảng, Nhà nước đã và đang thể hiện sự nỗ lực rất cao trong tạo đà cho sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân và tôi tin cộng đồng doanh nghiệp sẽ không phụ sự kỳ vọng này.

Hiện đã có những con số cụ thể nào minh chứng cho cộng đồng doanh nghiệp không phụ sự kỳ vọng của Đảng và Nhà nước?

Sau hai năm thực hiện Nghị quyết 10, mặc dù vẫn còn có một số hạn chế và chưa thực sự tương xứng với tiềm năng nhưng khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam đã có bước phát triển mới cả về số lượng và chất lượng; đóng góp ngày càng tăng thêm cho phát triển của nền kinh tế và xã hội theo theo hướng nhanh và bền vững.

Số lượng doanh nghiệp gia tăng mạnh từ 655.000 năm 2017 lên 730.000 vào năm 2018 và đạt 743.409 vào cuối quý 1/2019.

Tổng vốn đăng ký mới tăng từ 1.295.911 tỷ đồng vào năm 2017 lên 1.478.100 tỷ đồng vào năm 2018. Mỗi năm (2017 và 2018), có hơn 1,1 triệu việc làm mới được tạo ra.

Riêng quý 1/2019, 375.500 tỷ đồng vốn đầu tư mới và gần 320.000 việc làm mới đã được bổ sung vào nền kinh tế. Quy mô của nhiều doanh nghiệp ngày càng mở rộng, một số doanh nghiệp đạt tổng tài sản đến hàng trăm nghìn tỷ đồng và sử dụng hàng chục nghìn lao động. Phong trào khởi nghiệp nở rộ, với khoảng 3.000 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo vào năm 2018.

Khu vực kinh tế tư nhân đang chiếm khoảng 40% GDP cả nước; tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp tư nhân (không tính loại hình cá thể, hộ gia đình) đạt gần 12% vào năm 2017, cao hơn mức chung của nền kinh tế cùng năm (6,81%); khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế tập thể chiếm 26% giá trị xuất khẩu, 34% giá trị nhập khẩu, đóng góp 32,26% vào ngân sách nhà nước năm 2017 và 38,20% năm 2018, vượt đáng kể so với mức 29,43% của 2016, là năm chưa ban hành Nghị quyết 10.

Đáng chú ý là nhiều doanh nghiệp tư nhân đang điều chỉnh chiến lược đầu tư và kinh doanh theo hướng bền vững hơn, gắn nhiều hơn với công nghệ và đổi mới sáng tạo thông qua việc thiết lập trường đại học, viện/trung tâm nghiên cứu và triển khai cũng như hoàn thành được những công trình lớn, phức tạp trong một thời gian tương đối ngắn.

Nhân lên sức mạnh đoàn kết Đảng ban hành Nghị quyết 10 về phát triển kinh tế tư nhân đến nay mới gần 2 năm. Có vẻ như hơi sớm khi lúc này đã tiến hành sơ kết việc thực hiện?

Tôi vẫn thường thích câu ngạn ngữ Nga, “Ngày đi tháng chạy năm bay/Thời gian nước chảy không quay được về”. Thời gian trôi qua rất nhanh, thời cơ phát triển đất nước phải lập tức nắm lấy, nếu không sẽ không còn kịp nữa. Trải qua quá trình dài và khó khăn, khu vực kinh tế tư nhân mới chính thức được xác định là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Vậy điều này phải ngay lập tức được thực thi để đi vào cuộc sống.

Trong hai năm qua, chúng tôi thấy một điều rất đáng mừng rằng, công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc triển khai, thực hiện nghị quyết của tổ chức Đảng các cấp, các ngành đã được triển khai khá đồng bộ từ Trung ương đến địa phương. Toàn bộ hệ thống chính trị từ Trung ương tới địa phương đã có sự nỗ lực trong việc tổ chức, triển khai thực hiện các nhiệm vụ đề ra trong nghị quyết, cụ thể hóa thành chương trình hành động của mình.

Tất nhiên, kết quả hai năm thực hiện còn tồn tại những hạn chế vì thời gian triển khai thực hiện nghị quyết còn ngắn, trong khi nội dung đều là những vấn đề lớn, có nhiều điểm mới và khó, khối lượng công việc cần triển khai thực hiện nghị quyết nhiều.

Cải cách hành chính; cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh theo thông lệ quốc tế (ASEAN 4); nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia được đẩy mạnh và thực hiện một cách quyết liệt từ Trung ương đến địa phương dẫn đến những cải thiện đáng kể trong môi trường đầu tư, kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia với sự ghi nhận của cả cộng đồng quốc tế và cộng đồng doanh nghiệp; tinh thần khởi nghiệp và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đang dần trở thành một phong trào rộng khắp; nhiều doanh nghiệp tư nhân đang điều chỉnh chiến lược đầu tư và kinh doanh theo hướng bền vững hơn; doanh nhân đang ngày càng được xã hội coi trọng và tôn vinh…

Những kết quả đạt được đã ngày càng khẳng định tính đúng đắn và sự phù hợp với xu hướng phát triển chung của nghị quyết với tư cách là sự kế thừa và phát triển đường lối lớn về phát triển kinh tế tư nhân của Đảng ta kể từ khi đổi mới đến nay.

Lợi Ích Quốc Gia / 2023

Lợi ích quốc gia – dân tộc là vấn đề tối hệ trọng của mỗi quốc gia trong hoạch định, thực thi chiến lược, chính sách phát triển, bảo vệ đất nước và hợp tác quốc tế. Ngày nay, lợi ích giữa các quốc gia ngày càng đan xen trên cơ sở vừa hợp tác, vừa cạnh tranh quyết liệt trong cục diện thế giới mới với các xu thế lớn là toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế; hòa bình, hợp tác và phát triển, song cũng chứa đựng bất ổn, xung đột dưới nhiều hình thức, phức tạp. Trong bối cảnh đó, nhiều quốc gia đã công khai quan điểm về lợi ích quốc gia – dân tộc (1).

Ở nước ta, nhận thức về lợi ích quốc gia – dân tộc được hình thành trong tiến trình lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc với sự ra đời của Nhà nước Văn Lang. Nhà nước đầu tiên, dù còn sơ khai song đã tạo tiền đề cho sự ra đời, phát triển loại hình cộng đồng mới, đó là “cộng đồng bộ tộc mang tính dân tộc”, “cộng đồng quốc gia”. Quá trình chống ngoại xâm cùng với những thành tựu về kinh tế, văn hóa – xã hội đạt được dưới sự quản lý, điều hành của nhà nước qua các thời kỳ là cơ sở vững chắc cho sự tồn tại và phát triển trường tồn của đất nước, kết tinh những truyền thống tiêu biểu cho ý thức chủ quyền, ý chí, sức sống và sức mạnh đoàn kết quật cường của dân tộc.

Kế thừa truyền thống quý báu của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư tưởng xuyên suốt “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” – đỉnh cao của sự vận động, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta đã nhiều lần nhấn mạnh: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” (2). Trong các tác phẩm, bài nói chuyện của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần đề cập đến vấn đề “lợi ích” và nhất quán quan điểm lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, của Đảng, của nhân dân là thống nhất: “… lợi ích của nhân dân tức là lợi ích của Đảng và phải đặt lợi ích của nhân dân và của Đảng lên trên hết, trước hết”(3); “… lợi ích của Đảng tức là lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc”(4).

Trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định con đường cơ bản của cách mạng Việt Nam là: “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Dưới ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng cùng với tinh thần “không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân là yếu tố hàng đầu quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc.

Đất nước hòa bình, thống nhất, trong bối cảnh và nhiệm vụ cách mạng mới, lợi ích quốc gia – dân tộc được xác định trên cơ sở giải quyết hai nhiệm vụ chiến lược là: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, Đảng xác định 06 đặc trưng, 07 phương hướng cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc; đến năm 2011 bổ sung, phát triển thành 08 đặc trưng, 08 định hướng lớn đã thể hiện khái quát bản chất xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng, đó là xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới. Tổng kết chặng đường 30 năm đổi mới đất nước, Đảng ta đã rút ra 05 bài học kinh nghiệm, trong đó, chỉ rõ: “đổi mới phải luôn quán triệt quan điểm “dân là gốc”, vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân…”; “phải đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết”(5). Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng tiếp tục khẳng định và làm rõ hơn nhiệm vụ: “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia – dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng cùng có lợi…”(6).

Có thể thấy rằng, trong mọi giai đoạn cách mạng Việt Nam, lợi ích quốc gia – dân tộc luôn là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt chi phối việc hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta. Những thành tựu, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của Việt Nam đạt được như ngày nay đã chứng minh sự lãnh đạo của Đảng đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết, trước hết là hoàn toàn đúng đắn, sáng suốt. Lợi ích quốc gia – dân tộc được xác định, bảo vệ đã làm thỏa mãn nguyện vọng, khát khao cháy bỏng của người dân Việt Nam trước những vấn đề sống còn của quốc gia; phù hợp với truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, các chuẩn mực chung của cộng đồng quốc tế, tích cực góp phần kiến tạo, thúc đẩy hòa bình khu vực và thế giới.

Hiện nay, bối cảnh mới của đất nước ta trong xu thế mở cửa, hội nhập quốc tế và những chi phối, tác động mạnh mẽ của dòng chảy thời đại đặt ra cho cách mạng Việt Nam những thời cơ, thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức, nhất là những tác động tiêu cực từ việc thực thi chính sách vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh quyết liệt; sự hình thành các cặp quan hệ chiến lược chi phối đời sống chính trị quốc tế cùng với quá trình xây dựng và điều chỉnh quan hệ quốc tế thông qua hệ thống luật pháp quốc tế; sự đan xen lợi ích kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, quốc phòng, an ninh khiến lợi ích của mỗi lĩnh vực không thể phân định một cách rạch ròi; yêu cầu đòi hỏi cấp bách trong việc tiếp cận, bắt nhịp sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những tác động tiêu cực từ mặt trái của nó. Các yếu tố đe dọa bất ổn, như: chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa dân túy… ngày càng gia tăng; các vấn đề an ninh phi truyền thống, như: dịch bệnh, thiên tai, an ninh mạng, khủng bố… diễn biến phức tạp, tiềm ẩn yếu tố đe dọa khủng hoảng toàn diện trên phạm vi toàn cầu. Bên cạnh đó, còn có những thách thức từ chính những hạn chế, thiếu sót trong quá trình đổi mới đất nước chưa được giải quyết triệt để.

Điều đó đòi hỏi tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, nhận thức về lợi ích quốc gia – dân tộc phải đầy đủ, toàn diện hơn. Đó là cơ sở, tiền đề quan trọng xác lập, định hướng chủ trương, chính sách đối nội, đối ngoại phù hợp, đúng đắn để đạt được lợi ích quốc gia – dân tộc, bảo đảm các điều kiện phát triển ổn định, vững mạnh của đất nước. Từ phương diện nhận thức, có thể luận giải nội hàm vấn đề lợi ích quốc gia – dân tộc như sau:

Thứ nhất, về lĩnh vực, lợi ích quốc gia – dân tộc bao gồm lợi ích về kinh tế, về chính trị, về văn hóa – xã hội, về quốc phòng – an ninh, về đối ngoại. Trong đó, lợi ích kinh tế là trung tâm tâm của mọi lợi ích được hình thành từ các quá trình kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Lợi ích chính trị gắn liền với sự ổn định, vững mạnh và sự lãnh đạo, quản lý, vận hành hiệu lực, hiệu quả của thể chế chính trị được xác lập trong Hiến pháp. Lợi ích văn hóa góp phần tạo ra những giá trị làm nền tảng tinh thần của xã hội. Lợi ích quốc phòng – an ninh, đối ngoại gắn với độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, sự ổn định chính trị và môi trường hòa bình, ổn định của đất nước là cơ sở, nền tảng để bảo vệ và phát huy, phát triển, mở rộng lợi ích kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội.

Thứ hai, về tính chất, lợi ích quốc gia – dân tộc gồm có lợi ích sống còn và lợi ích phát triển. Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa là lợi ích sống còn của quốc gia – dân tộc. Trong đó, lợi ích về độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là bất biến, vĩnh cửu. Trong điều kiện đất nước bị xâm lược, độc lập, chủ quyền quốc gia – dân tộc là lợi ích duy nhất. Các lợi ích khác chỉ được bảo đảm, phát triển sau khi đã giải quyết triệt để vấn đề độc lập, chủ quyền quốc gia – dân tộc. Lợi ích phát triển bao gồm khả năng tăng cường tiềm lực, sức mạnh quốc phòng, an ninh; đẩy mạnh công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; mở rộng đối ngoại, hợp tác quốc tế, nâng cao vị trí, uy tín, vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế; phát huy truyền thống văn hóa, bản sắc dân tộc dân tộc…

Thứ ba, về lợi ích gắn với các chủ thể, lợi ích quốc gia – dân tộc gồm lợi ích của Đảng, Nhà nước, lợi ích của giai cấp và lợi ích của nhân dân lao động. Lợi ích của Đảng thống nhất với lợi ích của dân tộc, của Nhà nước, giai cấp và nhân dân lao động.

Thứ tư, trên phương diện tổng quát, lợi ích quốc gia – dân tộc bao gồm toàn bộ các yếu tố vật chất (lãnh thổ, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng, con người…) và yếu tố tinh thần (truyền thống, nền văn hóa, văn hiến, nền tảng tư tưởng, kiến trúc thượng tầng, ngôn ngữ…) bảo đảm cho sự phát triển ổn định, vững mạnh, trường tồn của đất nước. Theo đó, các yếu tố cốt lõi cấu thành lợi ích quốc gia – dân tộc hiện nay gồm: (1) Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. (2) Sự vững mạnh của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; sự ổn định, giữ vững về chính trị, quốc phòng, an ninh. (3) Công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. (4) Nền văn hóa dân tộc. (5) Mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Với nhận thức như vậy, trong hoạch định và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về lợi ích quốc gia – dân tộc và bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc thời gian tới, theo chúng tôi cần chú ý một số nội dung sau:

Một là, thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, hệ thống chính trị và toàn dân về lợi ích quốc gia – dân tộc. Trong mọi hoàn cảnh, lợi ích quốc gia – dân tộc là trên hết; bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc là nguyên tắc tối cao của hoạt động đối nội, đối ngoại của Đảng, Nhà nước. Lợi ích quốc gia – dân tộc không đồng nghĩa với lợi ích dân tộc vị kỷ, hẹp hòi, đi ngược lại với tinh thần quốc tế vô sản và mong muốn chung của nhân loại yêu chuông hòa bình. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ lợi ích quốc gia – dân tộc và đặt trong mối quan hệ hợp tác cùng phát triển, bảo đảm hài hòa và tôn trọng lợi ích chính đáng của các quốc gia và cộng đồng quốc tế.

Hai là, chú trọng công tác tư tưởng, lý luận, tập trung làm rõ nội hàm và các yếu tố cốt lõi của lợi ích quốc gia – dân tộc trong tình hình mới làm cơ sở hoạch định đường lối, chiến lược trước mắt và lâu dài. Nhận diện và giải quyết các “điểm nóng lý luận”, nhất là lý luận về đổi mới đất nước; về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; về công nghiệp hóa, hiện đại hóa; về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; về bảo vệ Tổ quốc; về phát triển văn hóa… Xác lập cơ sở khoa học giải quyết các quan hệ chiến lược: giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; giữa xây và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân.

Ba là, về đối ngoại, quán triệt quan điểm đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước. Chú trọng phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị, truyền thống với các nước láng giềng, thúc đẩy quan hệ với các đối tác lớn, đối tác quan trọng, đưa các mối quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu, bền vững. Bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở thượng tôn pháp luật; linh hoạt, mềm dẻo về sách lược và giữ vững nguyên tắc chiến lược; kiên quyết, kiên trì đấu tranh không khoan nhượng để bảo vệ lợi ích độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích khác của dân tộc; tôn trọng hòa bình, lợi ích chính đáng của các bên trong giải quyết các xung đột trên cơ sở luật pháp quốc gia, luật pháp quốc tế. Quán triệt quan điểm những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam là đối tác; ngược lại, bất kể thế lực nào có âm mưu, hành động chống phá, gây tổn hại lợi ích quốc gia – dân tộc là đối tượng đấu tranh.

          Ba là, về đối nội, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước; bảo vệ nhân dân, nền văn hiến, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân, xây dựng xã hội trật tự, an toàn, kỷ cương, lành mạnh. Chủ động phát hiện, ngăn ngừa các nguy cơ xung đột từ sớm; kiểm soát, hạn chế các yếu tố gây đột biến, căng thẳng, đối đầu trong quan hệ quốc tế. Tăng cường tiềm lực, sức mạnh quốc phòng, an ninh; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại làm nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Bốn là, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, trong sạch, liêm chính, hiện đại, năng động. Quyết liệt đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, “tự diện biến”, “tự chuyển hóa” và các biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong nội bộ. Kiện toàn hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiết với nhân dân.

Năm là, đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa hiện đại do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, bảo đảm bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, bảo đảm hài hòa lợi ích cá nhân, tập thể và Nhà nước; phát huy mạnh mẽ ý chí, khát vọng và sức sáng tạo của nhân dân, sức mạnh đoàn kết dân tộc, sức mạnh thời đại để phát triển đất nước nhanh, bền vững. Nâng cao năng lực “làm chủ” của nhân dân kết hợp với mở rộng dân chủ trong tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội./.

Trung tướng, chúng tôi Trần Vi Dân

Giám đốc Học viện Chính trị Công an nhân dân

(1) Trung Quốc xác định lợi ích cốt lõi trong Sách Trắng về “Phát triển hòa bình của Trung Quốc” (năm 2011) bao gồm: chủ quyền quốc gia, an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất quốc gia, chế độ chính trị quốc gia mà hiến pháp Trung Quốc xác lập và cục diện xã hội ổn định, sự đảm bảo cơ bản của kinh tế – xã hội phát triển bền vững. Mỹ đã xác định trong “Chiến lược An ninh quốc gia” (năm 2017), “nước Mỹ trên hết” với “bốn lợi ích quốc gia tối quan trọng”, đó là: (1) Bảo vệ người dân Mỹ, nước Mỹ và lối sống Mỹ; (2) Thúc đẩy sự thịnh vượng của nước Mỹ; (3) Bảo vệ hòa bình thông qua sức mạnh; (4) Gia tăng ảnh hưởng của Mỹ.

(2) Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật,  Hà Nội, 2011, T.4, tr.187.

(3) Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật,  Hà Nội, 2011, T.8, tr.647.

(4) Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật,  Hà Nội, 2011, T.5, tr.290.

(5) Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, tr.69.

(6) Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, tr.153.

“Lợi Ích Của Quốc Gia, Dân Tộc Là Tối Thượng” / 2023

Một trong những sự kiện chính trị hàng đầu của Việt Nam năm 2018 được các cơ quan truyền thông Việt Nam và quốc tế quan tâm là việc 100% đại biểu Quốc hội có mặt tại hội trường Diên Hồng ngày 23-10-2018 đã nhất trí bỏ phiếu kín bầu Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng giữ trọng trách Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng

1. Trong lịch sử 89 năm của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã có 12 đời Tổng Bí thư và lịch sử 72 năm của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sau này là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với 11 đời Chủ tịch nước, thì đây là lần thứ hai Tổng Bí thư giữ nhiệm vụ Chủ tịch nước. Lần thứ nhất, là từ năm 1954 đến năm 1969, Bác Hồ vừa là Chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam vừa là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho đến lúc Người qua đời. Vào thời điểm ấy, về Đảng, đồng chí Lê Duẩn giữ nhiệm vụ Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Bác Tôn Đức Thắng được Quốc hội bầu giữ chức Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Thời Bác Hồ giữ nhiệm vụ Chủ tịch Đảng đồng thời là Chủ tịch nước trong bối cảnh lịch sử đặc biệt khó khăn. Đất nước bị chia cắt bởi quy định của Hiệp định Genève do các cường quốc áp đặt, vĩ tuyến 17 với con sông Bến Hải trở thành điểm đối đầu của cuộc Chiến tranh Lạnh giữa hai ý thức hệ tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Bác Hồ cùng với Trung ương Đảng, Chính phủ phải ngày đêm lo công tác đối nội, đối ngoại, xây dựng và củng cố miền Bắc xã hội chủ nghĩa; đấu tranh chống đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc. Mặc dù, không được vào thăm đồng bào miền Nam, chứng kiến ngày vinh quang trên TP.Hồ Chí Minh nhưng Người luôn là linh hồn, là ngọn cờ chói lọi, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng chiến đấu anh dũng viết nên những trang sử vẻ vang nhất của Tổ quốc. Giữ vững 5 lời thề trước anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh, chỉ sau 6 năm khi Người đi xa, các thế hệ cháu con đã hoàn thành sứ mệnh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, đổi mới và chủ động hội nhập quốc tế, làm cho quốc lực ngày càng lớn mạnh.

Lần này là lần thứ hai trong lịch sử của Đảng, Nhà nước, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được quốc dân thông qua Quốc hội tín nhiệm bầu giữ cương vị Chủ tịch nước – nhiệm vụ của người đứng đầu Đảng, Nhà nước lần này cũng hết sức nặng nề. Một mặt, ông phải là người có trách nhiệm cao nhất trong việc giữ vững độc lập, tự do, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền quốc gia, và mặt khác phải quyết liệt chống tham nhũng – “giặc nội xâm”, đưa đất nước hội nhập, phát triển bền vững, vượt qua bẫy thu nhập trung bình, phấn đấu làm cho cơ đồ từng bước “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.

2. Dưới cờ đỏ sao vàng mang hồn thiêng sông núi, tay phải đặt lên bản Hiến pháp 2013 màu đỏ, tay trái giơ lên cao, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với trang phục vét đen, cà-ra-vát đỏ long trọng tuyên thệ nhận nhiệm vụ Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tuyên thệ nhậm chức Chủ tịch nước

Sau khi tuyên thệ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước phát biểu: “Xin có một vài ý kiến có tính chất báo cáo thêm với Quốc hội và trình bày đôi chút về tâm tư, tình cảm của mình”. Trong nội dung “đôi chút tâm tư, tình cảm…”, ông trải lòng: “Đây là tâm trạng thật lòng, cũng giống như cách đây 12 năm, tôi nhớ vào ngày 26-6-2006, lúc 16 giờ Quốc hội lúc bấy giờ bầu tôi giữ chức Chủ tịch Quốc hội, tôi cũng vừa mừng vừa lo. Lo vì chưa quen công việc của Quốc hội, nói vui là chưa được làm Chủ tịch Quốc hội bao giờ, rất bỡ ngỡ”.

Lời chia sẻ của người đứng đầu Nhà nước Việt Nam chứng tỏ ông là một người rất khiêm tốn, khi tân Chủ tịch nước bộc bạch: “trình độ, năng lực, sự hạn chế của tôi rất rõ. Sự hiểu biết là không đáp ứng được yêu cầu, thực tình tôi rất lo… Trong khi đó tuổi tác thì ngày càng lớn rồi. Bác Hồ đã nói rồi, tuổi càng cao sức khỏe càng thấp, điều đó không có gì lạ. Tôi luôn chuẩn bị sẵn tinh thần…”. Rồi ông khiêm cung bày tỏ bằng cách lẩy Kiều: “Nghĩ mình thân mỏng cánh chuồn/ Khuôn xanh có biết vuông tròn mà hay”. Điều này, càng chứng tỏ ông là một người hết sức khiêm tốn, một đức tính tốt đẹp của con người Việt Nam.

Nếu như khiêm tốn là biểu hiện qua lời nói, cử chỉ, cách ăn mặc, hành động thiệt tâm… và muốn nhận dạng một người khiêm tốn qua những nội dung ấy, thì Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đều có cả. Đặc biệt, ở ông – một người nói đi đôi với làm, làm cẩn trọng nhưng quyết liệt, làm đến nơi đến chốn và lấy thước đo hiệu quả để chứng minh cho lời nói và việc làm của mình.

Chẳng hạn như trong lĩnh vực chống tham nhũng – “giặc nội xâm”, ông từng phát đi nhiều thông điệp mạnh mẽ: “Tôi đã nói, nếu ai cảm thấy cản trở, nhụt ý chí thì dẹp sang một bên cho người khác làm”; “cái lò đã nóng lên rồi thì củi tươi vào đây cũng phải cháy”; “muốn chống tham nhũng có hiệu quả, trước hết phải chống tham nhũng trong các cơ quan chống tham nhũng”; “phải nhốt quyền lực vào trong cái lồng cơ chế…”. Những thông điệp mạnh mẽ này, được đưa ra đi kèm với những lời nhắc nhở chân tình: “Mỗi người chúng ta cần luôn ghi nhớ trong tâm khảm của mình rằng, lợi ích của quốc gia dân tộc của nhân dân, của Đảng là tối thượng và danh dự là điều thiêng liêng cao quý nhất đối với mỗi con người trước hết là đối với mỗi cán bộ, đảng viên”. Rồi ông còn căn dặn một cách cụ thể: “Bản thân mỗi đồng chí và vợ con phải giữ gìn sự trong sạch, rồi mới chống tham nhũng được. Nếu không nói chẳng ai nghe, tay đã nhúng chàm thì không thể làm gì khác được”. Cùng với những lời khuyên chân thành, ông đã quyết liệt đấu tranh chống giặc nội xâm với hàng loạt cán bộ đương chức hoặc nghỉ hưu thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, như ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Trung ương Đảng, bộ trưởng, thứ trưởng, bí thư, phó bí thư cấp tỉnh, thành phố, cán bộ mang quân hàm cấp tướng… đã bị kỷ luật thỏa đáng hoặc phải ra hầu tòa, lãnh án.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tiếp xúc cử tri quận Ba Đình (Hà Nội)

Những biện pháp cứng rắn đối với “giặc nội xâm” của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã làm giảm nhiệt lượng về sự bức xúc trong xã hội và từng bước khôi phục niềm tin của nhân dân đối với chế độ, được dư luận quốc tế cũng hết sức quan tâm, tin tưởng vào quyết tâm chống tham nhũng của Việt Nam.

3. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng sinh trước Cách mạng Tháng Tám hơn 1 năm, nên có thể nói ông sớm hít thở không khí độc lập, tự do – dù rất ngắn ngủi. Rồi sau khi lớn lên, tham gia cùng cả nước trong suốt 2 cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, hẳn ông rất hiểu chân lý vĩnh cửu mà Bác Hồ đã tổng kết bằng 8 từ “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở ngoại thành Hà Nội, nên tuổi thơ ông không mấy ngọt ngào, nếu không muốn nói là rất gian nan, vất vả. Cô giáo hồi tiểu học của ông từng kể: “Trò Trọng” hằng ngày phải đi bộ qua cánh đồng xa 3km trên con đất rất khó đi, nhất là những ngày mưa dầm, cậu học trò nhỏ phải cố bấm ngón chân xuống đường để cho khỏi ngã. Suốt thời gian học lớp 4, cậu chỉ mặc một bộ quần áo màu nâu, đi chân đất không kể mùa đông hay mùa hè…”.Từ một người học trò nghèo, nhờ nghị lực, tài năng đã đưa ông bước qua giảng đường đại học, trở thành Giáo sư – Tiến sĩ, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương. Từ một đảng viên đến Bí thư Thành ủy Hà Nội, Chủ tịch Quốc hội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, ông luôn nhất quán một tấm lòng của người trí thức xuất phát từ công nông đối với vận mệnh của Đảng, của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân.

Những người một thời cùng học ở Trường đại học tổng hợp Hà Nội cho đến những cộng sự gần gũi và cấp trên của ông đều nhận xét: Ông là một người giàu ý chí, có lý tưởng, tâm huyết, trách nhiệm nhưng có cuộc sống giản dị, khiêm cung, nhân hậu, mẫn tiệp, lịch sự theo phong cách người Tràng An.

Những phẩm chất ấy kết hợp với sự trải nghiệm thực tiễn sinh động từ thời chiến tranh, thời bao cấp đến thời đổi mới, giúp ông có thái độ, phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt theo nguyên tắc nhưng rất bình tĩnh, bao dung, có sức thuyết phục cảm hóa sâu sắc.

Đặc biệt, là một nhà lý luận của Đảng, chắc hẳn ông là người hiểu hơn ai hết 2 nhiệm vụ chiến lược “Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” trong thời đại mới. Còn nhớ, tại Hội nghị Trung ương 6 khóa XII, ông đã lưu ý: “Tạo chuyển biến rõ rệt trong việc thực hiện ba đột phá chiến lược, đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế…”. Rồi trước những thành tựu của 2 năm 2017-2018, ông nhắc nhở: “Tuyệt nhiên không chủ quan, thỏa mãn; không say sưa với thành tích, thắng lợi, bởi đất nước vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Đừng ngủ quên trên vòng nguyệt quế…”.

Riêng vấn đề bảo vệ Tổ quốc, ông đã từng nói: “Kiên quyết, kiên trì giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”. Nói về vấn đề này, chúng ta còn nhớ hồi giữa năm 2014, khi Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 cùng với 86 tàu khác, trong đó có các tàu mang tên lửa và cả máy bay quân sự vào vùng biển nước ta để khiêu khích, trước tình hình độc lập, chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc bị xâm phạm, lúc đó với tư cách là người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam, phải “đứng mũi chịu sào” trước một vấn đề hết sức nóng và đầy nhạy cảm, ông đã xử lý một cách bình tĩnh, khôn khéo nhưng rất kiên quyết cả đối ngoại lẫn đối nội. Cuối cùng, Trung Quốc buộc phải rút giàn khoan cùng các tàu ra khỏi vùng biển nước ta một cách lặng lẽ, trả lại sự bình yên cho ngư dân Việt Nam ra khơi bám biển, giữ vững chủ quyền quốc gia.

Người ta nói rằng, trong con người trí thức xuất thân từ công nông ấy, tiềm ẩn một quyết tâm phi thường vì nước, vì dân, như ông nói lợi ích của quốc gia dân tộc… là tối thượng.

Mai Sông Bé