Top 19 # Văn Hóa Có Lợi Ích Gì / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 11/2022 # Top Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Văn Phòng Trọn Gói Có Lợi Ích Gì? / 2023

Bạn gặp vấn đề khi tìm kiếm:

Một văn phòng làm việc riêng tư, thoải mái và hiện đại ngay tại trung tâm Tp. HCM?

Một môi trường làm việc đầy đủ mọi tiện nghi?

Được hỗ trợ các hoạt động kinh doanh để có thể tập trung tốt nhất cho công việc?

Có thể nhanh chóng và dễ dàng chuyển đến ngay?

Không phải lo lắng về khâu chuẩn bị:

Tiện ích đầu tiên mà chúng tôi muốn nói đến khi quý doanh nghiệp lựa chọn dịch vụ văn phòng trọn gói đó chính là bạn không phải lo lắng về khâu chuẩn bị nữa. Thông thường, các doanh nghiệp phải mất một khoảng thời gian dài để tìm kiếm và có sự chuẩn bị về văn phòng một cách ổn thỏa thì mới có thể đi vào ổn định và làm việc được.

Tìm văn phòng, thiết kế văn phòng, trang bị nội thất và các thiết bị cần thiết, treo bảng hiệu công ty là những bước cơ bản mà một doanh nghiệp phải thực hiện trước đây. Thế nhưng với văn phòng trọn gói, quý doanh nghiệp sẽ được hỗ trợ đặt bảng tên công ty. Việc thiết kế văn phòng thế nào cho thẩm mĩ, đầu tư nội thất văn phòng như bàn ghế, máy lạnh, sắm máy photocopy, điện thoại, wifi cũng đã được trang bị đầy đủ tại dịch vụ cho thuê văn phòng trọn gói.

Những vấn đề về nhà ăn, nhân viên bảo vệ, chỗ giữ xe hay tạp vụ cũng đã được chuẩn bị sẵn trong phần “trọn gói” của dịch vụ thuê văn phòng này.

Với văn phòng trọn gói, những chi phí tốn kém ban đầu hoàn toàn được cắt giảm. Thay vì tốn kém thời gian cho việc thiết kế và trang bị thì doanh nghiệp của bạn có thể nhanh chóng đi vào ổn định và tập trung hoạt động.

Không phải lo lắng về các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh:

Một tiện ích thực tế của văn phòng trọn gói khác chính là quý doanh nghiệp không phải lo lắng về các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh.

Bạn không phải vất vả tìm kiếm một nhân viên lễ tân để tiếp khách, nhân viên kế toán để hỗ công tác làm sổ sách hay báo cáo thuế định kỳ. Với văn phòng trọn gói, các doanh nghiệp sẽ nhận được dịch vụ hỗ trợ kinh doanh này. Đây là một tiện ích vô cùng lớn đối mà khi thuê văn phòng truyền thống các doanh nghiệp không thể có được. Khi đấy, bạn phải tìm kiếm một dịch vụ hỗ trợ từ bên ngoài hoặc thuê một nhân viên riêng chuyên phụ trách các mảng trên cho doanh nghiệp của mình.

Bên cạnh đó, thay vì phải sắm hẳn một máy photocopy riêng thì với dịch vụ văn phòng trọn gói, các doanh nghiệp sẽ được hỗ trợ trong vấn đề in tài liệu. Ngoài ra, các dịch vụ xe 4-7 chỗ, sử dụng phòng họp – phòng phỏng vấn, đặt vé máy bay đều sẽ được hỗ trợ để đảm bảo sự tiện ích cho các doanh nghiệp.

Không phải lo lắng về quá trình thành lập doanh nghiệp:

Nếu bạn đang có ý định thành lập doanh nghiệp nhưng gặp phải một số vấn đề trong quá trình xin mở Công ty thì đây lại là một tiện ích khác mà bạn cần quan tâm. Miễn phí tư vấn thành lập doanh nghiệp và hỗ trợ thủ tục Đăng ký doanh nghiệp là điều bạn nhận được khi lựa chọn sử dụng văn phòng trọn gói của Cyber Real.

Qúa trình xin mở Công ty sẽ gặp phải không ít khó khăn. Việc tìm kiếm trụ sở làm việc là một trong những điều kiện để có thể thành lập doanh nghiệp. Do vậy, khi khách hàng đang trong quá trình mở công ty chọn thuê văn phòng trọn gói có nhu cầu nhận được sự tư vấn và hỗ trợ hoàn tất thủ tục đăng ký là điều chắc chắn.

Với rất nhiều những tiện ích thực tế của văn phòng trọn gói, đây thật sự là một mô hình văn phòng vô cùng tiện dụng và hiện đại mà các doanh nghiệp nên nghĩ đến. Tại sao phải mất quá nhiều thời gian và chi phí để tìm kiếm cũng như chuẩn bị cho sự ổn định? Văn phòng trọn gói thật sự là lựa chọn hoàn hảo cho các doanh nghiệp đang tìm kiếm một nơi hiện đại, trẻ trung và năng động để có thể nhanh chóng phát triển công ty của mình.

Văn Hóa Và Cấu Trúc Văn Hóa / 2023

1. VĂN HÓA VÀ CẤU TRÚC VĂN HÓA

1.1. Khái niệm văn hóa. Các đặc trưng và chức năng của văn hóa

1.1.0. Từ “văn hóa” có nhiều nghĩa, nó được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm hết sức khác nhau. Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa); theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ văn minh của một giai đoạn (văn hóa Đông Sơn),… “Đề cương về văn hóa Việt Nam” của Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1943 đã xếp văn hóa bên cạnh kinh tế, chính trị và xem nó bao gồm cả tư tưởng, học thuật (= khoa học, giáo dục), nghệ thuật. Ủy ban UNESCO của Liên hiệp quốc thì xếp văn hóa bên cạnh khoa học và giáo dục, tức là đặt hai lĩnh vực này ra ngoài khái niệm văn hóa.

Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO, cho biết: “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động. Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa họp năm 1970 tại Venise”[1]. Chính với cách hiểu rộng này, VĂN HÓA mới là đối tượng đích thực của VĂN HÓA HỌC.

Trong các công trình nghiên cứu, ngay cả với một cách hiểu cũng đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau. Thông thường, do phải trình bày một cách rất ngắn gọn (mà đã ngắn gọn thì khó mà có thể đầy đủ được), cho nên các định nghĩa thường là đầu mối của những cuộc tranh luận nhiều khi vô bổ. Bởi vậy, điều quan trọng hơn cả không phải là định nghĩa như thế nào, mà là định nghĩa đó nói lên được những gì. Để có được định nghĩa khái niệm, trước hết cần xác định được những đặc trưng cơ bản của khái niệm.

Với tư cách là một khoa học lý luận, VĂN HÓA HỌC có nhiệm vụ nghiên cứu văn hóa như một đối tượng riêng biệt trên cơ sở những tư liệu do các ngành khác (dân tộc học, sử học, ngôn ngữ học, tôn giáo học…) cung cấp với mục đích phát hiện các đặc trưng, những quy luật hình thành và phát triển. Nghiên cứu văn hóa dân tộc theo lối này không chỉ là tìm hiểu “Cái gì?”, mà chủ yếu là tìm hiểu “Tại sao?” và “Như thế nào?” Nhờ đi vào bề sâu, tìm những mối liên hệ có tính bản chất giữa các sự kiện, văn hóa học sẽ cho phép ta, chẳng hạn, nếu biết được một dân tộc sống ở đâu, ăn như thế nào, có thể nói được rằng dân tộc đó mặc và ở ra sao, suy nghĩ và ứng xử như thế nào… Từ đó, người đọc có thể suy ngẫm và lý giải các tư liệu văn hóa mà anh ta bắt gặp.

Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa, với tư cách là một đối tượng bao trùm mọi hoạt động của xã hội, thực hiện được chức năng tổ chức xã hội. Chính văn hóa thường xuyên làm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết để đối phó với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.

1.1.2. Đặc trưng quan trọng thứ hai của văn hóa là tính GIÁ TRỊ. Trong từ “văn hóa” thì văn (ở Đông phương đối lập với “võ”) có nghĩa là “vẻ đẹp” (= giá trị), hóa là “trở thành”, văn hóa có nghĩa là “trở thành đẹp, thành có giá trị”. Văn hóa chỉ chứa cái đẹp, chứa các giá trị. Nó là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người.

Các giá trị văn hóa theo mục đích có thể chia thành giá trị vật chất (phục vụ cho nhu cầu vật chất) và giá trị tinh thần (phục vụ cho nhu cầu tinh thần). Theo ý nghĩa có thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thẩm mỹ (chân, thiện, mỹ). Các giá trị đạo đức và giá trị thẩm mỹ đều thuộc phạm trù giá trị tinh thần.

Giá trị tinh thần còn bao gồm các tư tưởng có giá trị sử dụng (khoa học, giáo dục…), trong đó có cả bản thân cách thức sáng tạo ra các giá trị mà qua kinh nghiệm ngàn đời, con người đã tích lũy được. Theo nghĩa này, văn hóa có thể được xem như một dạng hoạt động: Theo L. White [1949], văn hóa là một phạm trù khoa học biểu thị một lĩnh vực hoạt động đặc biệt chỉ có ở riêng xã hội loài người, với những quy luật hành chức và phát triển riêng của mình. Tuy nhiên, tính giá trị cho phép phân biệt văn hóa với hậu quả của nó hoặc những hiện tượng phi văn hóa, loại ra những cách hiểu quá rộng, quy về văn hóa mọi hoạt động của con người. Chẳng hạn, theo L. White [1975: 68-70] thì thậm chí ngay cả những hiện tượng như tội ác có tổ chức (maphia) cũng được xem là một loại “véctơ văn hóa”!

Theo thời gian có thể phân biệt các giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời. Trong các giá trị nhất thời lại có thể phân biệt giá trị đã lỗi thời, giá trị hiện hành và giá trị đang hình thành. Sự phân biệt các loại giá trị theo thời gian cho phép ta có được cái nhìn biện chứng và khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật, hiện tượng; tránh được những xu hướng cực đoan – phủ nhận sạch trơn hoặc tán dương hết lời. Nhờ vậy mà, về mặt đồng đại, cùng một hiện tượng có thể có giá trị nhiều hay ít tùy theo góc nhìn, theo bình diện được xem xét. Chẳng hạn, việc chửi nhau hoặc chiến tranh thuộc số những biện pháp giải quyết xung đột (= có phần giá trị!). Ngược lại, ô-tô, máy bay, công trình thủy điện… trong khi đem lại lợi ích rõ rệt cho con người thì đồng thời cũng làm ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái… (= phi giá trị!). Muốn kết luận một hiện tượng, sự vật có thuộc phạm trù văn hóa hay không phải xem xét mối tương quan giữa mức độ “giá trị” và “phi giá trị” của chúng.

Về mặt lịch đại, cùng một hiện tượng vào những thời điểm lịch sử khác nhau sẽ có thể có hay không có giá trị tùy thuộc vào chuẩn mực văn hóa của từng giai đoạn. Chẳng hạn, chế độ chiếm hữu nô lệ với tính dã man của nó quen được xem là phi giá trị. Song, ngay chính F. Engels trong “Chống Đuyrinh” cũng đã từng nói rằng “nếu không có chế độ nô lệ cổ đại thì không thể có chủ nghĩa xã hội hiện đại”, bởi lẽ nhờ nó tạo ra sự phân công lao động trên một quy mô rộng lớn mà nền văn minh Hy Lạp được hình thành. Mà – như F. Engels giải thích – “nếu không có cơ sở văn minh Hy Lạp và đế quốc La Mã thì không thể có châu Âu hiện đại được”. Áp dụng vào Việt Nam, việc đánh giá chế độ phong kiến, vai trò của Nho giáo, triều đại nhà Hồ, nhà Nguyễn… đều đòi hỏi một tư duy biện chứng như thế. Bởi vậy, không thể áp đặt một quan niệm về phẩm chất của giá trị cho mọi không gian, mọi thời gian, không thể đưa khía cạnh này vào ngay trong định nghĩa như có người đề nghị.

Nhờ thường xuyên xem xét các giá trị mà văn hóa thực hiện được chức năng quan trọng thứ hai của mình là chức năng điều chỉnh xã hội, giúp cho xã hội duy trì được trạng thái cân bằng động của mình, không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường nhằm tự bảo vệ để tồn tại và phát triển.

Từ việc điều chỉnh xã hội, văn hóa có chức năng bộ phận là định hướng các chuẩn mực, điều chỉnh các ứng xử của con người. Từ việc điều chỉnh xã hội, văn hóa có chức năng phái sinh là động lực cho sự phát triển của xã hội. Không phải ngẫu nhiên mà UNESCO nhấn mạnh rằng văn hóa chiếm vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết của phát triển.

1.1.3. Đặc trưng thứ ba của văn hóa là tính NHÂN SINH. Văn hóa là một hiện tượng xã hội, là sản phẩm hoạt động thực tiễn của con người. Theo nghĩa này, văn hóa đối lập với tự nhiên: nó là cái nhân tạo, trong khi tự nhiên là cái thiên tạo. Nhưng nó không phải là sản phẩm của hư vô, mà có nguồn gốc tự nhiên: văn hóa là cái tự nhiên đã được biến đổi dưới tác động của con người, là “phần giao” giữa tự nhiên và con người: VĂN HÓA = TỰ NHIÊN VÀ CON NGƯỜI.

Đặc trưng này cho phép phân biệt loài người sáng tạo với loài vật bản năng, phân biệt văn hóa với những giá trị tự nhiên chưa mang dấu ấn sáng tạo của con người (như các tài nguyên khoáng sản trong lòng đất). Sự tác động của con người đối với tự nhiên có thể mang tính vật chất (như việc luyện quặng để chế tạo đồ dùng, đẽo gỗ tạc tượng) hoặc mang tính tinh thần (như việc đặt tên, tạo truyền thuyết cho các cảnh quan thiên nhiên:vịnh Hạ Long, núi Ngũ Hành, hòn Vọng Phu…).

Như vậy, “văn hóa học” không đồng nhất với đất nước học như nhiều người quan niệm [Vereschagin – Kostomaro1983: 40]. Nhiệm vụ của đất nước học là giới thiệu thiên nhiên – đất nước – con người, đối tượng của nó bao gồm cả các giá trị tự nhiên. Và không nhất thiết chỉ bao gồm các giá trị. Về mặt này thì nó rộng hơn văn hóa học. Mặt khác, đất nước học chủ yếu quan tâm đến các vấn đề đương đại, về mặt này thì nó hẹp hơn văn hóa học.

Do gắn liền với con người và hoạt động của con người trong xã hội, văn hóa trở thành một công cụ giao tiếp quan trọng. Chức năng giao tiếp là chức năng thứ ba của văn hóa. Nếu ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hóa là nội dung của nó; điều đó đúng với giao tiếp giữa các cá nhân trong một dân tộc, lại càng đúng với giao tiếp giữa những người thuộc các dân tộc khác nhau và giao tiếp giữa các nền văn hóa.

1.1.4. Văn hóa còn có tính LỊCH SỬ. Tính lịch sử của văn hóa thể hiện ở chỗ nó bao giờ cũng hình thành trong một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ. Tính lịch sử tạo cho văn hóa một bề dày, một chiều sâu; và chính nó buộc văn hóa thường xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân loại và phân bố lại các giá trị.

Tính lịch sử của văn hóa được duy trì bằng truyền thống văn hóa. Truyền thống (truyền = chuyển giao, thống = nối tiếp) là cơ chế tích lũy và truyền đạt kinh nghiệm qua không gian và thời gian trong cộng đồng.Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới những khuôn mẫu xã hội được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian và được cố định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận….

Truyền thống văn hóa tồn tại được nhờ giáo dục. Chức năng giáo dục là chức năng quan trọng thứ tư của văn hóa. Nhưng văn hóa thực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng những giá trị đã ổn định (truyền thống), mà còn bằng cả những giá trị đang hình thành. Các giá trị đã ổn định và những giá trị đang hình thành tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới. Nhờ nó mà văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách ở con người, trồng người (dưỡng dục nhân cách). Một đứa trẻ sau khi ra đời nếu được sống với cha mẹ, nó sẽ được giáo dục theo truyền thống văn hóa nơi nó sinh ra, còn nếu bị rơi vào rừng, nó sẽ mang tính cách của loài thú. Không phải ngẫu nhiên mà trong các ngôn ngữ phương Tây, từ “văn hóa” (culture, cultura) đều có chứa một nghĩa chung là chăm sóc, giáo dục…

Từ chức năng giáo dục, văn hóa có chức năng phái sinh là đảm bảo tính kế tục của lịch sử: Nếu gien sinh học di truyền lại cho các thế hệ sau hình thể con người thì văn hóa là một thứ “gien” xã hội di truyền phẩm chất con người lại cho các thế hệ mai sau.

1.1.5. Trở lên là những đặc trưng cơ bản. Những đặc trưng khác, nếu có, chỉ là biến dạng của bốn đặc trưng này. Tổng hợp bốn đặc trưng đó, ta sẽ có được khái niệm “văn hóa”.

Trên cơ sở này, ta có thể nêu ra một định nghĩa về văn hóa như sau:

VĂN HÓA là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.

1.2. Văn hóa với các khái niệm văn minh, văn hiến, văn vật

Văn hóa và văn minh còn khác nhau ở tính lịch sử: trong khi văn hóa luôn luôn có bề dày của quá khứ (tính lịch sử) thì văn minh chỉ là một lát cắt đồng đại, nó chỉ cho biết trình độ phát triển của văn hóa; từ “văn minh” có thể được định nghĩa khác nhau trong các từ điển khác nhau, song chúng thường có chung một nét nghĩa là nói đến “trình độ phát triển”. Văn minh luôn là đặc trưng của một thời đại: nếu như vào thế kỷ XIX, chiếc đầu máy hơi nước đã từng là biểu tượng của văn minh thì sang thế kỷ XX, nó trở thành biểu tượng của sự lạc hậu, nhường chỗ cho tên lửa vũ trụ và máy vi tính. Một dân tộc có trình độ văn minh cao vẫn có thể có một nền văn hóa rất nghèo nàn, và ngược lại, một dân tộc lạc hậu vẫn có thể có một nền văn hóa phong phú.

Sự khác biệt của văn hóa và văn minh về giá trị tinh thần và tính lịch sử dẫn đến sự khác biệt về phạm vi: Văn hóa mang tính dân tộc, bởi lẽ nó có giá trị tinh thần và tính lịch sử, mà cái tinh thần và cái lịch sử là của riêng, không dễ gì mua bán hoặc thay đổi được; còn văn minh thì có tính quốc tế, nó đặc trưng cho một khu vực rộng lớn hoặc cả nhân loại, bởi lẽ nó chứa giá trị vật chất, mà cái vật chất thì dễ phổ biến, lây lan.

Và sự khác biệt thứ tư, về nguồn gốc: Văn hóa gắn bó nhiều hơn với phương Đông nông nghiệp, còn văn minh gắn bó nhiều hơn với phương Tây đô thị. Các nền văn hóa cổ đại hình thành từ trên hai nghìn năm trước công nguyên như Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Hoa… đều là sản phẩm của phương Đông. Nền văn hóa phương Tây sớm nhất là văn hóa Hy Lạp thì cũng sau các nền văn hóa phương Đông cổ đại tới hàng nghìn năm (thế kỷ XI-III trước công nguyên) và được hình thành trên cơ sở tiếp thu những thành tựu của các nền văn hóa phương Đông gần nó nhất là Ai Cập và Lưỡng Hà – từ hệ thống thần thoại, lịch pháp cho đến chữ viết – chỗ nào cũng thấy dấu ấn của ảnh hưởng phương Đông. Về vị trí và đặc điểm kinh tế thì các nền văn hóa phương Đông đều hình thành ở lưu vực các con sông lớn là những nơi sản xuất nông nghiệp. Trong các ngôn ngữ phương Tây, từ “văn hóa” bắt nguồn từ chữ cultus tiếng La-tinh có nghĩa là “trồng trọt”. Từ trồng trọt phát triển ra nghĩa chăm sóc (cây cối), từ “chăm sóc (cây cối)” dẫn đến chăm sóc (con người) = giáo dục. Trong khi đó thì từ “văn minh” trong các ngôn ngữ phương Tây đều bắt nguồn từ chữ civitas tiếng La-tinh có nghĩa là “thành phố”. Nghĩa gốc này kéo theo mình hàng loạt từ và nghĩa phái sinh trong các ngôn ngữ châu Âu: “thị dân”, “công dân” (civilis)…, từ đó đến civilisation, civilization là “làm cho trở thành đô thị”, đầy đủ tiện nghi như đô thị (= văn minh).

Như vậy, VĂN MINH (văn = vẻ đẹp, minh = sáng) là khái niệm mang tính quốc tế, có nguồn gốc từ phương Tây đô thị và chỉ trình độ phát triển nhất định của văn hóa chủ yếu về phương diện vật chất.

1.2.2. Ở Việt Nam còn có các khái niệm “văn hiến” và “văn vật”. Từ điển thường định nghĩa văn hiến là “truyền thống văn hóa lâu đời”, còn văn vật là “truyền thống văn hóa biểu hiện ở nhiều nhân tài và nhiều di tích lịch sử”, “công trình, hiện vật có giá trị nghệ thuật và lịch sử”. So sánh các định nghĩa này, ta thấy “văn hiến” và “văn vật” thực ra chỉ là những khái niệm bộ phận của “văn hóa”, chúng chỉ khác văn hóa ở độ bao quát các giá trị: Văn hiến là văn hóa thiên về “truyền thống lâu đời”, mà truyền thống lâu đời còn lưu giữ được không bị chiến tranh và thời gian hủy hoại chính là các giá trị tinh thần, còn văn vật là văn hóa thiên về các giá trị vật chất (nhân tài, di tích, công trình, hiện vật). Chính vì vậy mà ông cha ta thường nói đất nước 4000 năm văn hiến (chứ không nói …văn vật, vì trải qua 4000 năm, phần lớn các giá trị vật chất đã bị tàn phá), nhưng lại nói Hà Nội – Thăng Long ngàn năm văn vật (vì trong 1000 năm trở lại đây, từ khi Lý Công Uẩn định đô ở Thăng Long, các giá trị vật chất còn lưu giữ được nhiều).

Phương Tây không có hai khái niệm “văn hiến” và “văn vật”, cho nên hai khái niệm này không thể dịch ra các ngôn ngữ phương Tây được. Văn vật và văn minh tuy cùng thiên về giá trị vật chất, nhưng lại rất khác xa nhau.

Để dễ phân biệt các khái niệm văn hóa, văn minh, văn hiến, văn vật, những điều nói trên được trình bày trong bảng 1.2.

Bảng 1.2: So sánh văn hóa, văn minh, văn hiến, văn vật

Hình 1.1: Cấu trúc của hệ thống văn hóa.

[1] Tạp chí Người đưa tin UNESCO, tháng 11-1989, tr.5.

Hóa Đơn Điện Tử Có Những Lợi Ích Gì? / 2023

Hóa đơn điện tử có những lợi ích gì? – Lợi ích khi sử dụng hóa đơn điện tử thay vì hóa đơn giấy thông thường. Ưu điểm của hóa đơn điện tử là gì? Tại sao nên sử dụng hóa đơn điện tử? Hóa đơn điện tử đem lại những lợi ích gì cho doanh nghiệp?

A. Hóa đơn điện tử tiết kiệm thời gian sử dụng:

– Ưu điểm đầu tiên của hóa đơn điện tử phải kể đến là tiết kiệm thời gian cho doanh nghiệp. Thông thường để có thể sử dụng hóa đơn giấy doanh nghiệp phải mất khoảng 1 – 2 tuần chờ đợi phê duyệt mẫu hóa đơn, in hóa đơn. – Trung bình để tạo ra một tờ hóa đơn giấy phải mất khoảng 15 đến 30 phút hoặc lâu hơn vì cần trải qua các công đoạn viết hóa đơn, xin chữ ký, đóng dấu, vào hồ sơ… thì với hóa đơn điện tử tất cả được thực hiện nhanh chóng chỉ với vài cú nhấp chuột trên máy tính. Trong khi đó nếu sử dụng hóa đơn điện tử, tất cả những gì DN cần làm đều nhanh gọn với phần mềm hóa đơn điện tử trên máy tính. Điều này sẽ giúp cho doanh nghiệp và cơ quan thuế giảm bớt được áp lực khi lập báo cáo cũng như kiểm tra báo cáo với hóa đơn điện tử. Bạn đang xem: Những lợi ích khi sử dụng hóa đơn điện tử

B. Lưu trữ và bảo quản dễ dàng:

– Việc sử dụng, lưu trữ và bảo quản hóa đơn giấy cũng rất rườm rà như: viết tay các thông tin trên hóa đơn, phải cất giữ cẩn thận các loại hóa đơn, lập báo cáo tình trạng sử dụng hóa đơn hàng tháng. Tuy nhiên khi sử dụng hóa đơn điện tử, việc lưu trữ và bảo quản trở nên dễ dàng hơn (doanh nghiệp có thể lưu trữ và bảo quản trên nhiều phương tiện điện tử như USB, laptop, Clound, ổ cứng di động, thẻ nhớ,…) – Về mặt thẩm mỹ, hóa đơn điện tử sạch đẹp và dễ nhìn hơn hẳn những tờ hóa đơn giấy mỏng manh viết tay thậm chí có gạch xóa. Hơn nữa hóa đơn giấy còn dễ bị thất lạc khi vận chuyển và khiến doanh nghiệp mất nhiều thời gian giải trình với cơ quan chức năng.

C. Hóa đơn điện tử giảm thiểu rủi ro về hóa đơn giả, hóa đơn bất hợp pháp:

Chúng ta đều biết hóa đơn giả là một vấn nạn ngày càng nhức nhối không chỉ với cơ quan chức năng mà cả với những doanh nghiệp chân chính. Nếu chẳng may sử dụng phải hóa đơn của các doanh nghiệp ma hay những doanh nghiệp đã tuyên bố phá sản, doanh nghiệp dễ vướng vào vòng lao lý và mức phạt có thể lên đến 50 triệu đồng. Nhưng với hóa đơn điện tử, việc sử dụng phải hóa đơn giả là điều khó có thể xảy ra bởi: – Doanh nghiệp có thể dễ dàng kiểm tra nguồn gốc hóa đơn thông qua mã số có trên mỗi hóa đơn bằng cách truy cập vào website của cơ quan thuế để kiểm tra. – Hóa đơn giấy được sử dụng rộng rãi trên thị trường nên đối tượng buôn bán hóa đơn giả đa phần nhằm vào thị trường hóa đơn giấy. – Hóa đơn điện tử khó bị làm giả hơn hóa đơn giấy

D. Đa dạng phương thức gửi hóa đơn cho khách hàng:

Khi sử dụng hóa đơn điện tử xác thực, doanh nghiệp có thể xuất – gửi hóa đơn cho khách hàng thông qua các cách thức như: – Export ra file zip để gửi cho khách hàng qua hình thức gửi email thông thường hoặc copy vào USB. – In hóa đơn ra giấy và gửi chuyển phát nhanh như phương thức truyền thống. – Gửi hóa đơn cho khách hàng qua hệ thống email tích hợp trên phần mềm – Gửi thông tin hóa đơn qua hình thức tin nhắn SMS để khách hàng tra cứu. Bạn đang xem bài viết: Những ích lợi khi sử dụng hóa đơn điện tử

E. Tiết kiệm được chi phí vận chuyển hóa đơn:

– Khi chưa có hóa đơn điện tử, phải xuất hóa đơn đỏ cho khách hàng, đặc biệt là khách hàng ở xa các doanh nghiệp phải sử dụng sự hỗ trợ của chuyển phát nhanh (khoảng từ 10.000 đ – 30.000đ). Bên cạnh đó, chi phí cho thời gian chuyển giao, chi phí phát hành do sử dụng hình thức vận chuyển qua bên thứ ba cũng sẽ tốn kém một khoản tiền nhất định. – Hóa đơn trực tiếp thông qua hệ thống điện tử sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được mộ khoảng chi phí đáng kể, đồng thời người nhận cũng sẽ nhanh chóng nhận được hóa đơn mà không cần mất thời gian.

F. Không phải lập báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn, góp phần giảm áp lực cho kế toán thuế:

Những Đặc Điểm Của Văn Hóa Phật Giáo Trong Văn Hóa Việt Nam / 2023

Đặc tính Rồng Tiên, theo “Hai ngàn năm Việt Nam và Phật giáo” của Lý Khôi Việt, trang 51 giải thích: “Rồng tượng trưng cho hùng tráng dũng mãnh tung hoành, Tiên biểu tượng cho thanh thoát cao quý, hòa điệu”. Vì có khả năng chuyển hóa và dung hợp của nền văn hóa Việt Tộc (Chủng tộc Việt Nam), dân tộc Việt Nam đã tiếp xúc, hấp thụ và Việt hóa những tinh hoa của các trào lưu văn hóa Đông Tây qua các tôn giáo mang vào như Phật giáo, Khổng giáo, Lão giáo, Thiên Chúa giáo..v..v…. để bồi dưỡng cho nền văn hóa độc lập, tự chủ, nhân bản, bất khuất của Rồng Tiên.

I. Sự quan hệ giữa văn hóa Phật giáo và văn hóa Việt tộc

Trong suốt hai ngàn năm lịch sử, đạo Phật luôn luôn có mặt trong lòng dân tộc Việt Nam khắp nẻo đường đất nước và gắn bó với dân tộc Việt Nam trong mọi thăng trầm vinh nhục. Có thể nói văn hóa Phật giáo suốt dòng lịch sử đã hòa mình và hợp nhất với nền văn hóa Việt Tộc trở thành một tổng thể bất khả phân ly qua ngôn ngữ, qua tư tưởng, được biểu lộ nơi mọi sự sinh hoạt xã hội, nơi nếp sống tâm linh. Hai nền văn hóa hợp nhất này đã thể hiện rõ nét trong phong tục tập quán, trong văn học bình dân cũng như trong văn học bác học. Danh từ chuyên môn của Phật giáo như: trí tuệ, từ bi, thiện ác, nhân quả, nghiệp báo..v..v…. nếu tách rời ra khỏi nền văn học Việt Nam thì văn hóa Việt Tộc trở nên khô cằn không còn sức sống tinh anh nữa. Những chứng tích về văn hóa Phật giáo hòa đồng trong nền văn hóa Việt Tộc như sau:

1. Những chứng tích về tục ngữ

Tục ngữ là ngôn ngữ dân gian mà người bình dân Việt Nam thường sử dụng nhằm để trao đổi tư tưởng cho nhau. Những tư tưởng trong ngôn ngữ dân gian được gọi là văn hóa bình dân.

Những danh từ chuyên môn của Phật giáo đã biến thành văn hóa Việt Tộc qua ngôn ngữ của người bình dân Việt Nam thường sử dụng, đã được trao truyền cho nhau trong dân gian mà chúng ta đã thấy tản mát nơi văn học bình dân. Chúng tôi xin đem ra đây một vài câu tục ngữ để chứng minh giá trị sự hội nhập của văn hóa Phật giáo trong văn hóa Việt Tộc, điển hình như những từ ngữ ” Tội nghiệp quá“, ” Hằng hà sa số“, ” Ta bà thế giới“, ” Lù khù nhưng ông Cù độ mạng “,.v.v…

a) Người bình dân mỗi khi thấy những ai bất hạnh, bị hoạn nạn đau khổ thì liền tỏ lòng thương xót và thốt lên câu: “Tội nghiệp quá”. Hai chữ “tội nghiệp” là danh từ chuyên môn của Phật giáo với ý nghĩa chỉ cho nghiệp báo tội ác đã định. Cụm từ “Tội nghiệp quá!” là câu nói của người bình dân hàm súc hai ý nghĩa: một là quan tòa định tội và hai là tâm tình chia sẻ.

Quan tòa định tội, nghĩa là người này đã gây nghiệp tội ác quá nặng cho nên giờ đây phải chịu quả báo khổ đau không thể trốn tránh nên phán quyết câu: “Tội nghiệp quá!” lên người tội lỗi kia. Tâm tình chia sẻ, nghĩa là thấy họ bị hoạn nạn đau khổ thì bộc lộ tâm tình thương hại thốt lên câu: ” Tội nghiệp quá! ” để san sớt phần nào niềm đau khổ của họ.

b) Người bình dân muốn diễn tả số lượng người ta quá đông đảo hoặc số lượng vật gì quá nhiều không đếm được thì liền dùng câu: “Hằng hà sa số” để tỏ bày. “Hằng hà sa số” là danh từ chuyên môn của Phật giáo với ý nghĩa là số nhiều như cát sông Hằng. Sông Hằng (sông Gange) là chỉ cho một trong hai con sông lớn nhất của Ấn Độ.

Ấn Độ có hai con sông nổi tiếng thế giới là sông Ấn (Indus) và sông Hằng (Gange) và hai con sông này khai nguồn tài nguyên sức sống cho toàn thể dân tộc Ấn Độ phát triển và tồn tại. Trong các kinh luận, Phật giáo cũng thường dùng những ngôn từ Hằng hà sa số nhằm để nói lên số lượng quá nhiều không thể đếm được như đã trình bày ở trên.

c) Khi thấy một số người đi lang thang khắp nơi, sống rày đây mai đó, không chịu dừng chân một chỗ nào lâu dài, người bình dân thường gắn cho họ một ngôn từ đơn giản là kẻ sống “Ta bà thế giới”. “Ta bà thế giới” là ngôn từ chuyên môn của Phật giáo nhằm chỉ cho thế giới tổng hợp bao gồm cả năm cõi mà năm loại chúng sinh sống chung lẫn lộn nhau và sống quan hệ với nhau, như thế giới Địa Ngục, thế giới Ngạ Quỷ, thế giới Súc Sinh, thế giới loài Người, thế giới các cõi Trời và những thế giới nói trên có một danh từ chung là Dục Giới. Thế giới Ta Bà hay Dục Giới là chỉ cho những cõi mà đức Phật Thích Ca làm giáo chủ và Ngài thường xuyên qua lại những cõi đó để hóa độ chúng sinh. Ngôn từ ” Ta bà thế giới ” của Phật giáo đã được Việt Nam tiếp nhận trở thành văn hóa Việt Tộc.

d) Trong xóm làng, có một số người không học thức, không có trình độ văn hóa, không biết đua chen với đời, cứ sống buông trôi cho qua ngày đoạn tháng, nhưng không biết tại sao họ lại được rất nhiều may mắn ngoài khả năng của họ. Đối với những hạng này người bình dân Việt Nam thường dùng ngôn từ ” Lù khù nhưng ông Cù độ mạng” để chỉ sự may mắn nói trên của họ. Hai chữ lù khù là chỉ cho hạng người khờ dạy, ngây thơ, không biết chút gì về cuộc đời. Hai chữ ông Cù, gọi cho đủ là ông Cù Đàm; hai chữ Cù Đàm dịch âm từ chữ Phạn là Gautama, tức là chỉ cho dòng họ của Phật Thích Ca. ” Lù khù nhưng ông Cù độ mạng” nghĩa là những hạng này sở dĩ được may mắn là nhờ đức Phật Thích Ca độ mạng.

Còn nhiều chứng tích khác về tục ngữ đã được hàm chứa sâu sắc tinh thần Phật giáo và những tục ngữ đó hiện đang tàng trử trong kho văn học Việt Nam mà ở đây chúng ta chưa có thì giờ mang ra khai thác để làm phong phú cho nền văn hóa Việt Tộc. Chúng ta hy vọng một ngày nào đó cố gắng thực hiện công trình khai thác văn hóa Việt Tộc thêm được sáng tỏ những tư tưởng thâm sâu của Phật giáo đang ẩn tàng trong nền văn học Việt Nam mà các tiền nhân đã dày công xây dựng.

Ca dao là những câu hò tiếng hát theo giọng điệu tự nhiên, phát xuất từ tâm hồn mộc mạc đầy tình cảm của người bình dân Việt Nam được lưu truyền trong dân gian. Những ca dao này mang tính chất tư tưởng, tình cảm của dân tộc nhằm diễn tả luân lý, đạo đức, tình ý, phong tục, tập quán, trạng thái thiên nhiên, đặc tính xã hội của thời bấy giờ. Tư tưởng Phật giáo thâm nhập vào ca dao Việt Nam tự bao giờ và tản mát khắp tâm hồn của người bình dân, không có ranh giới thời gian cũng như không có khu biệt không gian. Điển hình như những bài ca dao sau đây đượm nhuần tư tưởng của Phật giáo:

a) Người Việt Nam lúc bấy giờ rất tin tưởng triết lý thiện ác nghiệp báo, nhân quả, luân hồi, và ý thức được giá trị nguyên lý duyên sinh (quan hệ với nhau trong sự sinh tồn) của Phật giáo. Để thể hiện tinh thần đùm bọc lẫn nhau, họ thường hát lên những câu hò, những lời ru..v..v…. nhằm tỉnh thức cho nhau nên tránh dữ làm lành, mong mỏi cuộc sống được hạnh phúc an vui lâu đời, đồng thời hy vọng con cháu sau này nương nhờ ân huệ đó tiến thân được lạc nghiệp, cho nên mới ngâm lên hai câu ca dao:

Kiếp này không được, để dành kiếp sau.”

Hai câu ca dao này hàm súc triết lý của đạo Phật rất sâu sắc mà người bình dân thời xưa đã được tiêu hóa trong tâm hồn thành chất liệu sống, ngoài vấn đề tiêu biểu đạo đức của Phật giáo là Ở cho lành và lại còn thể hiện tư tưởng nhân quả luân hồi một cách thâm diệu qua hai câu Kiếp này và Kiếp sau. Họ căn cứ nơi dòng thời gian trải dài từ vô thỉ (trừ vô cực) cho đến vô chung (cọng vô cực) xuyên qua ba giai đoạn quá khứ, hiện tại và vị lai, mà tin tưởng rằng sẽ có kiếp sau vì có kiếp này, cũng như tin tưởng rằng sẽ có ngày mai vì có ngày hôm nay, mặc dù kiếp sau và ngày mai chưa bao giờ đến với họ.

Vì tin tưởng những lý lẽ đó, họ mới khuyên nhau một cách ngọt ngào tha thiết đậm đà bằng hai câu ca dao nêu trên mang theo ý nghĩa tránh dữ làm lành và những điều lành đó tuy rằng không được thụ hưởng ở kiếp này nhưng rồi sẽ được thụ hưởng ở kiếp sau chẳng bao giờ biến mất.

b) Theo lý vô thường của Phật giáo, cuộc đời là giả tạo, kiếp sống của con người là duyên sinh hoàn toàn không có thực thể, không được trường tồn. Sự giả tạo của cuộc đời cũng như sự tạm bợ của kiếp người chẳng khác nào bọt nước, mây trôi, ngựa qua cửa sổ, có đó rồi mất đó, không định trước được ngày mai. Cuộc đời giả tạo cũng như kiếp người tạm bợ là nguyên lý đích thực không một ai thoát khỏi và cũng không một ai chối bỏ được. Người bình dân thời xưa ý niệm được nguyên lý vô thường, cuộc đời giả tạo này một cách tinh tường và tâm hồn họ bộc lộ lên rất thâm thiết qua hai câu ca dao sau đây để tỉnh thức cho nhau với lời khuyên nhiệt tình, bảo rằng đừng đua chen theo lợi danh giả tạo của cuộc đời mà quên hẳn đi giá trị của con người; hai câu ca dao đó như sau:

“Cuộc đời đâu khác loài hoa, Sớm còn tối mất nở ra lại tàn”

Hai câu ca dao trên cho chúng ta nhận thức được người bình dân thời xưa, họ đã thâm hiểu sâu xa lý vô thường của Phật giáo, cho nên khéo dùng hình ảnh sớm nở tối tàn của loài hoa để nói lên một cách chính xác về giá trị tạm bợ của kiếp người cũng như sự giả tạo của cuộc đời. Con người hiện hữu thật rất đúng với ý nghĩa là ” Sống ngày nay dễ biết ngày mai, khoảng đường sinh tử nào hay tỏ tường.”

c) Thời xưa người bình dân thì rất tin tưởng về đạo đức hơn tài năng. Họ cảm thấy những kẻ có tài năng xuất chúng nhưng không tránh khỏi những tai họa đau khổ của cuộc đời mang đến; còn những kẻ không có chút tài năng nào mà lại gặp được nhiều may mắn bất ngờ, cho nên họ mới thốt lên câu: “Có đức không sức mà ăn”. Từ đó họ lấy đạo đức làm kim chỉ nam cho cuộc đời và cổ vũ ai nấy đều phải lấy đạo đức để tô bồi cho nếp sống làm người, thế nên họ mới hát lên hai câu ca dao sau đây để cảnh tỉnh dân gian:

“Lênh đênh qua cửa Thần Phù, Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm”

Thần Phù theo “Việt Nam Tự Điển”, là tên của con sông Chính Đại, thuộc huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đổ ra vịnh Bắc Việt. Cửa sông này về sau bị cát bồi thành đất liền và cuối đời nhà Lê dân cư lập thành một Tổng, gọi là Tổng Thần Phù. Người dân lúc bấy giờ thường chèo thuyền qua lại trên cửa sông Thần Phù này, có người thì bị chìm chết và có người thì được thoát nạn.

Văn hóa Phật giáo có thể nói đã hòa mình sâu xa và rộng rãi, biến thành văn hóa Việt Tộc, được thấy tản mát qua những câu ca dao dưới mọi hình thức, trong mọi trạng huống, có chỗ thì bộc lộ cụ thể và có nơi thì gợi ý tâm tình để nói lên ý nghĩa nào đó. Với nội dung trong bài này, chúng ta chỉ đem một vài nét ca dao để minh chứng văn hóa Phật giáo hiện diện trong văn hóa Việt Tộc mà ở đây không thể đem ra lý giải toàn bộ những tư tưởng sâu xa của Phật giáo đã chứa đựng trong nền văn học nói trên.

3. Những chứng tích về văn học bác học

Nền văn học bác học của dân tộc Việt Nam đã được ảnh hưởng bởi nền văn hóa Phật giáo, có thể tạm lấy móc câu khởi điểm từ nền văn học chữ Nôm và tiếp đến nền văn học chữ Hán trở về sau. Đứng trên lĩnh vực nền văn học bác học, văn hóa Phật giáo đã dung hòa vào văn hóa Việt Tộc vô cùng phong phú. Cụ thể như tác phẩm “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều, “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, cho đến “Văn học Lý Trần” đã nói lên một cách hùng hồn sự đóng góp rất lớn của văn hóa Phật giáo cho nền văn hóa Việt Tộc.

“Mùi phú quý dữ làng xa mã, Bả vinh hoa lừa gã công khanh. Giấc Nam Kha khéo bất bình, Bừng con mắt dậy thấy mình tay không.”

Chẳng những thế, mấy đoạn thơ sau đây của thi hào Nguyễn Gia Thiều còn diễn tả thân phận khổ đau của các hạng người chỉ biết chạy theo danh lợi phù du giả tạo, suốt đời trút hết tiềm năng nhựa sống cho bả danh hư mùi phú quý, rốt cuộc thân phận của mình như bọt nước, như mây trôi chẳng được chút gì, để rồi vóc hình của mình trở nên đầu bạc da nhăn, bùn pha sắc xám, chỉ chuốc lấy hoàn cảnh phũ phàng, vẫn mang đau khổ chồng chất:

“Gót danh lợi bùn pha sắc xám, Mặt phong trần nắng rám mùi dâu, Nghĩ thân phù thế mà đau, Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê”

b) Kế đến thi hào Nguyễn Du với tác phẩm “Đoạn trường tân thanh”, thi hào căn cứ theo tác phẩm “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân bên Tàu sáng tác thành thi phẩm để gửi gắm tâm sự của mình. Thanh Tâm Tài Nhân thì căn cứ theo học thuyết Thiên Mệnh của Nho giáo tạo dựng tác phẩm “Kim Vân Kiều truyện”. Học thuyết Thiên Mệnh trong “Kim Vân Kiều truyện” là:

“Trời bắt phong trần phải phong trần Muốn thanh cao mới được phần thanh cao”

Nghĩa là Trời đã định sẵn số mệnh của nàng Kiều là phải chết dưới sông Tiền Đường để chấm dứt cuộc đời hồng nhan bạc mệnh.

Ngược lại thi hào Nguyễn Du thì chống đối lại học thuyết Thiên Mệnh của Nho giáo mà Thanh Tâm Tài Nhân tin tưởng, bằng cách nương theo học thuyết Nhân Quả – Nghiệp Báo của Phật giáo xây dựng nên tác phẩm “Đoạn trường tân thanh”. Học thuyết Nhân Quả – Nghiệp Báo trong “Đoạn trường tân thanh” chính là:

“Đã mang lấy nghiệp vào thân Chớ đừng trách lẫn trời gần trời xa Thiện căn bởi tại lòng ta Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”

Học thuyết Nhân Quả – Nghiệp Báo đã thay thế học thuyết Thiên Mệnh ở chỗ là không cho nàng Kiều kết thúc cuộc đời bạc mệnh dưới sông Tiền Đường mà phải được sống để tái hợp với Kim Trọng qua sự cứu vớt của sư Giác Duyên. Theo học thuyết Nhân Quả Nghiệp Báo, mối tình đầu giữa nàng Kiều và Kim Trọng chính là Nghiệp Nhân và nàng Kiều được tái hợp với Kim Trọng chính là Nghiệp Quả mà sư Giác Duyên là biểu tượng cho học thuyết của Phật giáo làm gạch nối trợ duyên.

Đại ý cốt truyện của hai tác phẩm vừa trình bày trên nhằm diễn tả những tư tưởng sai biệt của hai học thuyết Phật giáo và Nho giáo; những tư tưởng của hai học thuyết này qua cốt truyện của hai tác phẩm thì luôn luôn nghịch biến với nhau, đồng thời cùng nhau viễn tiến trên hai đường thẳng song song không bao giờ gặp nhau. Điều thông minh nhất của thi hào Nguyễn Du ở chỗ, ngoài những áng văn chương linh hoạt ra, thi hào còn khéo léo chuyển đổi từ từ cốt truyện đã được xây dựng trên học thuyết Thiên Mệnh lần lần biến sang học thuyết Nhân Quả – Nghiệp Báo mà không thấy chút kẻ hở khuyết điểm nào, cho nên các đọc giả mỗi khi nghiên cứu đến tác phẩm “Đoạn trường tân thanh” nếu không để ý thì chẳng thấy được những chỗ độc đáo đó.

Đọc văn cầu lý, chúng ta nhờ nhìn thấy được sự dụng ý độc đáo của thi hào Nguyễn Du trong “Đoạn trường tân thanh” thì vô cùng thán phục và tôn vinh thi hào Nguyễn Du với danh nghĩa xứng đáng là một Thi Hào và cũng là một Văn Hào đáng giá của thời đại.

c) Nền “Văn học Lý Trần” là những chứng tích hùng hồn nhất về sự đóng góp vĩ đại của Phật giáo cho nền văn hóa Việt Tộc và những chứng tích này nói lên được sự phát triển cao độ của văn hóa Phật giáo qua văn hóa Việt Tộc. Dù bất cứ thời đại nào, hoặc thương hay ghét cũng không thể chối bỏ được sự đóng góp này của Phật giáo trong sự tô điểm phồn vinh cho nền văn hóa Việt Tộc trên lĩnh vực độc lập và tự trị. Người nào nếu như có ý bóp méo sự thật về nền văn học Lý Trần thì người đó vô tình đã chà đạp lên nền văn hóa Việt Tộc một cách trắng trợn và người đó cũng là kẻ phản bội dân tộc Việt Nam.

II. Sự đóng góp của Phật giáo cho nền văn hóa Việt tộc

Trong tất cả văn hóa của các tôn giáo, văn hóa Phật giáo đối với nền văn hóa Việt Tộc rất hãnh diện là không có điểm nào xấu xa tội lỗi đã ghi đậm trong lịch sử Việt Nam, nghĩa là văn hóa Phật giáo chưa bao giờ làm tay sai cho bất cứ thế lực vô minh ngoại lai nào chà đạp lên nền văn hóa Việt Tộc, không dựa theo bạo lực phi nhân xây dựng trên xương máu của dân tộc Việt Nam mà còn đóng góp rất lớn cho nền văn hóa Việt Tộc trải dài suốt hai ngàn năm lịch sử kể từ khi lập quốc.

Nguyên do Phật giáo đến với dân tộc Việt Nam trên tình thương và hòa bình, đã chung sống với dân tộc Việt Nam trong sự bao dung, cùng chia sẻ những thăng trầm vinh nhục với dân tộc Việt Nam trải dài hơn hai ngàn năm lịch sử. Dân tộc Việt Nam rất cần sự có mặt của Phật giáo như cần hơi thở, cần cơm ăn áo mặc. Muốn chứng minh những điều nói trên, chúng ta hãy duyệt xét lại sự có mặt cũng như trưởng thành của Phật giáo trên đất nước Việt Nam.

A. Sự có mặt của Phật giáo đất nước Việt Nam

Một số người cho rằng, Phật giáo có mặt đầu tiên trên đất nước Việt Nam là do Phật giáo Trung Hoa truyền vào qua các thời đại thống trị của Trung Quốc. Nguyên vì họ thấy nghi lễ của Phật giáo Việt Nam giống như nghi lễ của Phật giáo Trung Hoa và lễ phục cũng như cách thờ tự của Phật giáo Việt Nam không khác cho mấy về lễ phục và cách thờ tự của Phật giáo Trung Hoa. Họ hiểu như thế là hoàn toàn sai lầm và cạn cợt về nguồn gốc lịch sử Việt Nam. Một số người có ý đồ muốn chối bỏ sự ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa trong Phật giáo Việt Nam, nhưng họ lại bị ảnh hưởng văn hóa ngoại lai khác và văn hóa đó hoàn toàn xa lạ không có chút nào quan hệ với văn hóa Việt Tộc.

Phải hiểu rằng theo nguồn gốc giống nòi, chủng tộc Việt Nam từ thuở xa xưa là giống Viêm Tộc một trong cộng đồng đa chủng của nước Trung Hoa, bốn ngàn năm trước kỷ nguyên, chủng tộc Viêm Tộc thời đó đã lập quốc ở Động Đình Hồ thuộc hạ lưu sông Dương Tử nằm giữa nước Tàu với danh xưng là Bách Việt. Chủng tộc Viêm Tộc phát nguồn từ giống Mésopotamie và Turkestan (“Lịch sử văn minh Trung Quốc” của Will Dutant do Nguyễn Hiến Lê dịch, Văn Nghệ xuất bản, trang 19 – 20). Đặc tính chủng tộc Viêm Tộc có thể ảnh hưởng rất nhiều đặc tính của cộng đồng đa chủng nước Trung Hoa. Cho nên sự thông minh của dân tộc Việt Nam không thua sự thông minh của người Trung Hoa.

Qua những dữ kiện đó, chúng ta đừng ngạc nhiên khi thấy sự sinh hoạt của dân tộc Việt Nam tại sao lại giống với sự sinh hoạt của người Trung Hoa về mọi lĩnh vực như tình cảm, ăn mặc, tín ngưỡng..v..v…. đấy là sắc thái văn hóa tổng hợp của Việt Tộc. Riêng về Phật giáo, văn hóa của Phật giáo Việt Nam cũng là một loại văn hóa tổng hợp của hai nền văn hóa Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo Trung Hoa. Muốn biết sự tổng hợp như thế nào của hai nền văn hóa Ấn Hoa, chúng ta trước hết phải khảo sát thời gian sự có mặt của Phật giáo Ấn Độ trên đất nước Việt Nam và trên đất nước Trung Hoa để ấn định giá trị. Thời gian có mặt của Phật giáo Ấn Độ trên hai đất nước này được nhận định như sau:

1. Theo sử liệu, Phật giáo có mặt trên đất nước Việt Nam so với Trung Quốc kể từ đầu kỷ nguyên Tây Lịch trở về trước thì cách xa khoảng hơn 300 năm. Theo quyển “Đạo Phật và dòng sử Việt” của Hòa thượng Đức Nhuận, trang 18 – 19 ghi: Phật giáo phát nguồn từ Ấn Độ đầu tiên được truyền đến Việt Nam vào khoảng 300 năm trước Tây Lịch do phái đoàn của vua A Dục tổ chức và hai vị sư cầm đầu phái đoàn tên là Soma và Uttara. Tại Đồ Sơn thuộc Giao Chỉ, cách Hải Phòng 12 cây số, có một bảo tháp tên là A Dục Vương (Asoka) do hai nhà sư Ấn Độ của phái đoàn nói trên xây dựng nên.

Về sau bảo tháp này bị hư hoại và đến khoảng giữa thế kỷ XI Tây Lịch, vua Lý Thánh Tông lại xây một bảo tháp khác nơi bảo tháp nói trên lấy tên là Tháp Tường Long, nhưng ngày nay ngôi bảo tháp Tường Long được cải biến thành ngôi chùa mang nhãn hiệu là Chùa Tường Long. Tiểu sử về hai ngọn bảo tháp A Dục Vương và Tường Long còn để lại một bài thơ với nhan đề là ” Tháp sơn hoài cổ ” và bài thơ này tả cảnh về hai bảo tháp nói trên. Bài thơ đó được dịch nghĩa như sau:

“Tháp xưa lau cỏ tốt bời bời, Vua Dục đi vua sau cũng đổ rồi! Chuông nặng ngàn cân kêu đáy nước, Chú tiều dựng củi nằm đo đá, Trẻ mục lùa trâu vội xuống đồi. Lên núi muốn cùng Sư giảng kệ, Chuông đâu mà đánh thử một hồi?!”

Cũng trong “Đạo Phật và dòng sử Việt” của Hòa thượng Đức Nhuận, trang 20 – 21 ghi rằng: Vào khoảng 435 trước Tây Lịch, phò mã Chữ Đồng Tử và công chúa Tiên Dung Mỵ Nương, cháu của Hùng Vương đời thứ 3, thọ giáo với sư Phật Quang (Sư Bần) tại chùa Hang nơi Đồ Sơn thuộc cửa biển của sông Thái Bình, tỉnh Hưng Yên. Hiện nay tỉnh Hưng Yên có đền thờ Chữ Đồng Tử bên bờ sông Thái Bình.

Trong thời gian từ 300 năm trước Tây Lịch vừa kể trên, Trung Quốc hoàn toàn chưa biết gì về Phật giáo cả. Mãi đến năm 67 Tây Lịch, Trung Quốc mới bắt đầu có Phật giáo với những tác phẩm Tứ Thập Nhị Chương, Thập Địa Đoạn Kết Kinh, Pháp Hải Tạng Kinh, Phật Bản Hạnh Kinh, Phật Bản Sinh Kinh, Nhị Bách Lục Thập Giới Hợp Dị do hai vị sư Ma Đằng và Trúc Pháp Lan người Tây Vực dịch ra chữ Hán tại chùa Bạch Mã. Hai vị sư này do Hán Linh Đế thỉnh từ Tây Vực sang để truyền bá Phật giáo tại nước này.

2. Song song với Phật giáo Trung Quốc vào đầu kỷ nguyên Tây Lịch, theo “Việt Nam Phật giáo sử luận” của Nguyễn Lang, quyển I, trang 12 – 13: Phật giáo Việt Nam đã phát triển lớn mạnh tại Giao Châu với một trung tâm gọi là trung tâm Luy Lâu, hiện nay trung tâm này thuộc phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Trung tâm Luy Lâu được các nhà sư Ấn Độ từ nơi hai trung tâm Amaravati và Nagarjunakonda thuộc Phật giáo Đại thừa đến đây xây dựng và trung tâm Luy Lâu này đã đào tạo rất nhiều nhân tài lỗi lạc. Vào khoảng thế kỷ thứ II Tây Lịch, một nhân vật nổi tiếng xuất thân từ trung tâm Luy Lâu chính là Mâu Bác với tác phẩm “Lý hoặc Luận” mang tính chất tư tưởng Đại thừa và tác phẩm này có giá trị tuyệt đỉnh, lý luận sắc bén, phát huy giáo nghĩa cao thâm của Phật giáo.

Bên Trung Quốc, sau Ma Đằng và Trúc Pháp Lan, khoảng thời gian 80 năm sau Tây Lịch vào thời đại Hậu Hán, có ngài An Thế Cao và ngài Chi Lâu Ca Sấm từ Ấn Độ sang Trung Quốc tiếp tục truyền bá Phật giáo tại nước này (“Lịch sử Phật giáo Trung Quốc” của Thích Thanh Kiểm, trang 7 và 8).

3. Cũng theo “Việt Nam Phật giáo sử luận” của Nguyễn Lang, trang 73 và 76: Vào khoảng thế kỷ thứ III Tây Lịch, Thiền tông Việt Nam có trước Thiền tông Trung Quốc và người đầu tiên sáng lập Thiền tông Việt Nam là Thiền sư Khương Tăng Hội với quyển kinh An Ban Thủ Ý làm kim chỉ nam. Thiền sư Khương Tăng Hội xuất thân từ trung tâm Luy Lâu. Trong thời gian này, Trung Quốc chỉ có Thiền học mà chưa có Thiền tông do nhóm người của ngài An Thế Cao đầu tiên phát huy. Mãi đến thế kỷ thứ VII Tây Lịch, Trung Quốc mới có Thiền tông xuất hiện do Bồ Đề Đạt Ma chủ trương.

4. Có một số người lầm lẫn rất lớn cho rằng Tỳ Ni Đa Lưu Chi là đệ tử của Tăng Xán và những người quan niệm như thế là chịu ảnh hưởng sâu đậm theo lối nhận thức của người Trung Quốc thống trị; người Trung Quốc thống trị luôn luôn chủ trương rằng tất cả phong tục, tập quán,..v..v…. kể cả văn hóa Phật giáo Việt Nam đều do Tàu bang ân huệ cho. Trên thực tế Tỳ Ni Đa Lưu Chi không phải là đệ tử của Tăng Xán, mặc dù hai vị có yết kiến với nhau. Tỳ Ni Đa Lưu Chi là người của Mật tông Ấn Độ với ba quyển kinh Tượng Đầu, Báo Nghiệp Sai Biệt và Tổng Trì, lẽ dĩ nhiên trong Mật tông cũng có phương pháp thiền định, nhưng phương pháp thiền định của họ theo kiểu Mật giáo.

Tỳ Ni Đa Lưu Chi mục đích đến Trung Quốc là muốn nương tựa Thiền viện của Thiền tông Trung Hoa để truyền bá tư tưởng Mật tông nên mới diện kiến với Tăng Xán để giao duyên sơ ngộ. Khi gặp Tăng Xán, Tỳ Ni Đa Lưu Chi tỏ ra lịch sự liền chấp tay chào hỏi ba lần. Hiện tượng ngồi yên không trả lời của Tăng Xán là tỏ thái độ không chấp nhận sự có mặt của Tỳ Ni Đa Lưu Chi nơi thiền viện vì ông này không đồng tư tưởng với mình. Theo phép xã giao, Tỳ Ni Đa Lưu Chi kính trọng bằng cách đảnh lễ ba lạy với hy vọng Tăng Xán cởi mở tâm tình chấp nhận cho mình được nương tựa nơi thiền viện. Không ngờ Tăng Xán quá tự phụ và còn đuổi khéo bảo Tỳ Ni Đa Lưu Chi nên về phương Nam để truyền đạo.

Tỳ Ni Đa Lưu Chi đảnh lễ Tăng Xán không có nghĩa là thọ giáo làm đệ tử, nguyên vì Tỳ Ni Đa Lưu Chi khi sang Việt Nam chỉ trao truyền Mật tông cho Pháp Hiền mà không bao giờ trao truyền Thiền tông theo kiểu Tăng Xán. Điểm đáng ghi nhận trong Thiền tông, Bồ Đề Đạt Ma thì gối đầu kinh Lăng Già Tâm Ấn làm phương châm cho phái Thiền, Tăng Xán thì gối đầu “Tam Luận Tôn” làm phương châm, Hoằng Nhẫn và Huệ Năng thì gối đầu kinh Kim Cang làm phương châm, Tỳ Ni Đa Lưu Chi thì gối đầu Tổng Trì làm phương châm và Khương Tăng Hội thì gối đầu kinh An Ban Thủ Ý làm phương châm.

B. Sự đóng góp của Phật giáo cho đất nước Việt Nam

Trên con đường dựng nước và phát triển đất nước từ Nam Quan đến Cà Mau, ba tông phái có công rất lớn cho nền văn hóa Việt Tộc chính là Thiền tông, Mật tông và Tịnh độ tông. Ba tông phái này như cái đỉnh ba chân đứng vững vàng trên đất nước Việt Nam và cũng là nền tảng cho các phái Thiền khác nảy nở và phát triển trong mảnh đất thân yêu của dân tộc Việt Nam.

1. Trong thời kỳ lập quốc, Thiền tông Vô Ngôn vào thế kỷ thứ IX Tây Lịch đầu tiên đã đóng góp công trình rất lớn vào việc lập quốc qua nhân vật lịch sử nổi tiếng là Thiền sư Khuông Việt. Thiền sư Khuông Việt tên là Ngô Chân Lưu cố vấn chính trị cho Đinh Bộ Lĩnh lập nên đế nghiệp với chức vụ Khuông Việt Thái sư và tiếp theo được Đinh Tiên Hoàng tấn phong chức Tăng Thống để lãnh đạo Phật giáo. Ngoài ra Thiền phái này còn sản xuất rất nhiều nhân tài lỗi lạc như, Thái Tông, Thánh Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ..v..v….. đã tạo được thế đứng cho tông phái Thiền trong lòng dân tộc qua các triều đại.

Nhìn về quá khứ của hệ phái Thiền trong tiến trình hệ thống truyền thừa kể từ Ấn Độ cho đến Việt Nam được ghi nhận, trước hết đức Phật Thích Ca truyền thừ phái Thiền bằng cách Tải Vật Ấn Ký, nghĩa là đức Phật cầm một vật gì đưa lên trước đại chúng và vị nào trong đại chúng ngộ được ý của Phật qua vật đó là chứng được Thiền, trường hợp như đức Phật thọ ký tổ đầu tiên cho phái Thiền là ngài Ca Diếp với phương pháp Tải Vật Ấn Ký nói trên. Về sau các Tổ kế tiếp truyền thừa phái Thiền bằng cách Dùng Kệ Ấn Ký, nghĩa là các thiền sinh sáng tác những bài Kệ Tụng liền đệ trình lên Tổ và Tổ ấn ký cho bài kệ tụng nào thì vị sáng tác bài kệ tụng đó liền được chứng Thiền.

Thiền tông khi đến Trung Quốc thì có phần hơi khác về cách truyền thừa. Cách truyền thừa của Thiền tông Trung Quốc kể từ nơi Bồ Đề Đạt Ma là sử dụng Y Bát trao truyền để định mức giá trị chứng đắc của các đệ tử gọi là Tổ Tổ Tương Truyền và cách truyền thừa này truyền mãi đến ngài Huệ Năng mới bỏ phương pháp Y Bát Truyền. Sang Việt Nam, Thiền Tông Vô Ngôn thì truyền thừa bằng phương pháp Gia Phả, nghĩa là sử dụng Điệp Phái ghi danh sự chứng đắc của đệ tử để trao sự nghiệp kế thừa Tổ Truyền. Về sau mãi đến năm 1712 Tây Lịch, Thiền tông Lâm Tế thuộc phái Nguyên Thiều mới đổi phương pháp truyền thừa theo lối Thi Kệ, nghĩa là các đệ tử trình lên Tổ những bài Thi Kệ và Tổ ấn ký bài thi kệ nào là vị đó chứng Thiền.

Khi được chứng Thiền, vị được ấn ký nói trên liền trở thành Tổ và có quyền thành lập một hệ phái Thiền riêng theo bài thi kệ đắc pháp của mình, nghĩa là vị Tổ đã được chứng Thiền liền sử dụng những chữ trong bài thi kệ đắc pháp tuần tự đặt Pháp Danh cho đệ tử theo dòng kệ vừa được ấn ký để truyền thừa. Bao nhiêu dữ kiện vừa trình bày trên cũng đủ nói lên được những điểm đặc sắc của hệ phái Thiền từ Ấn Độ cho đến Việt Nam.

2. Kế đến Mật tông Tỳ Ni cũng tiếp theo sự nghiệp của Thiền tông Vô Ngôn, đào tạo rất nhiều long tượng xứng đáng, thông bác mọi mặt như văn hóa, chính trị, ngoại giao, tôn giáo..v..v…. hậu thuẫn cho các triều đại kể từ triều đại Tiền Lê cho đến triều đại Nhà Tiền Lý suốt hơn 215 năm phát triển quốc gia. Riêng trong triều đại Tiền Lê, vào khoảng 980 Tây Lịch, một nhân vật nổi bậc nhất với danh nghĩa Quốc sư Pháp Thuận xuất thân từ Mật tông Tỳ Ni; theo “Việt sử toàn thư” của Phạm Văn Sơn, từ trang 161 đến trang 168, người đã đưa Lê Đại Hành từ địa vị Tiết Độ Sứ Giao Châu lên đến chức vị Nam Bình Vương.

Tiếp theo cũng trong Mật tông Tỳ Ni, một nhân vật thứ hai vô tiền khoáng hậu là Quốc sư Vạn Hạnh, người đã tạo thế đứng kiên cố nhất cho dòng họ đời Lý suốt 215 năm. Quốc sư Vạn Hạnh ngoài sự chứng đắc về Mật giáo, còn thông bác cả chính trị và ngoại giao, khéo liên kết và dung hợp các khuynh hướng văn hóa, chính trị và tôn giáo biến thành chất liệu keo sơn để làm nền tảng vững chắt cho triều đại nhà Lý xây dựng đất nước. Theo “Thiền học Việt Nam” của Nguyễn Đăng Thục, trang 207 đến 222, dưới triều đại nhà Lý, nước Việt Nam lúc bấy giờ với danh xưng là Đại Cồ Việt đã có bảy trào lưu văn hóa và tín ngưỡng khác nhau như:

a.Văn hóa Động Cổ cũng gọi là Văn hóa Đông Sơn,

b.Văn hóa Cổ Mộ cũng gọi là Văn hóa Lạch Trường,

c.Văn hóa Phật Ấn của Tỳ Ni Đa Lưu Chi,

d.Văn hóa Phật Hoa của Vô Ngôn Thông,

e.Văn hóa Bà La Môn của Chiêm Thành và Chân Lạp,

f.Văn hóa Hán Nho của Chư Tử và Sĩ Nhiếp,

g.Văn hóa Lạt Ma Tây Tạng của Nam Chiếu.

Quốc sư Vạn Hạnh đưa ra triết lý Dung Tam Tế nhằm mục đích dung hợp bảy trào lưu văn hóa tín ngưỡng dị biệt vừa kể trên tạo thành “Trung Lưu Chỉ Trụ”, nghĩa là nền văn hóa Việt Tộc đứng vững giữa dòng sông tư tưởng để làm nền tảng căn bản cho triều đại nhà Lý phát triển.

Về sau Vua Lý Nhân Tông (1072-1127) có làm bài thơ ca ngợi Quốc sư Vạn Hạnh:

Quốc sư Vạn Hạnh dung thông được ba cõi (cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô Sắc), Đúng với phù hiệu tiên tri của thời cổ xưa, Quê hương danh tiếng là Cổ Pháp (kinh đô Phật giáo Việt Nam thời xưa), Quốc sư đem gậy Mật giáo bảo vệ lãnh thổ quốc gia.

3. Tịnh độ tông thì góp mặt trên đất nước Việt Nam tự bao giờ không có lịch sử, nhưng hiện nay đã trở thành tín ngưỡng của dân gian. Người đời sở dĩ biết đến tông phái này là nhờ tín ngưỡng Quan Thế Âm. Tín ngưỡng Quan Thế Âm có thể phát xuất từ văn hóa Nam Chiếu và cũng có thể phát xuất từ văn hóa Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Văn hóa Nam Chiếu theo sử liệu thì chịu ảnh hưởng văn hóa Tây Tạng và văn hóa Tây Tạng lại tôn vinh đức Quan Thế Âm trên hết. Hơn nữa biểu tượng cho văn hóa Quan Thế Âm chính là chùa Một Cột mà chùa Một Cột đã được vua Lý Thái Tông xây dựng vào năm 1049 Tây Lịch và chùa này thì lại thờ đức Quan Thế Âm với hình tướng đức Phật Chuẩn Đề.

Theo Mật tông đức Phật Chuẩn Đề là hóa thân của đức Quan Thế Âm và chùa Một Cột lại được xây dựng dưới sự chỉ đạo của hệ phái Mật tông Tỳ Ni trong triều đại Nhà Lý. Do đó tín ngưỡng Quan Thế Âm có thể xác định là xuất phát từ văn hóa Nam Chiếu và văn hóa Mật tông Tỳ Ni. Những nơi còn quan hệ thêm nữa với giai thoại Quan Thế Âm như giai thoại Quan Thế Âm cũng là tín ngưỡng của dân Chiêm Thành và cũng là tín ngưỡng của dân Trung Hoa Mạc Cửu tại miền Nam Việt Nam. Bao nhiêu dữ kiện vừa trình bày qua cũng đủ chứng minh cho sự có mặt của Tịnh độ tông trên đất nước Việt Nam.

Ngoài ra Tịnh độ tông trở thành niềm tin mạnh nhất của dân tộc Việt Nam cũng có thể một phần nào chịu ảnh hưởng trực tiếp từ Tịnh độ tông của triều đại nhà Đường và Tịnh độ tông của nhà Đường hòa nhập vào Việt Nam qua cánh cửa tín ngưỡng Quan Thế Âm trong thời gian lệ thuộc nước Tàu. Cụ thể hơn nữa Tịnh độ tông sau này trở thành văn hóa Việt Tộc phải nói đến là nhờ công lao lớn nhất của Chúa Nguyễn Hoàng ra tay xây dựng.

Vào khoảng năm 1528, Chúa Nguyễn Hoàng vào Nam lập quốc, sống trên đất tín ngưỡng của Chiêm Thành và Thủy Chân Lạp, liền chủ trương “Thiền Tịnh song tu” để xây dựng và mở mang đất nước miền Nam. Theo chủ thuyết “Thiền Tịnh song tu” của Chúa Nguyễn, Thiền tông thì có bổn phận chỉ đạo và Tịnh độ tông thì có bổn phận kết hợp và dung hóa để tạo thành tài nguyên sung túc làm hậu thuẩn cho nhà Nguyễn trên con đường mở nước. Thiền tông của Chúa Nguyễn chính là Thiền tông dùng kệ truyền thừa của Lâm Thế Nguyên Thiều mà không phải là Thiền tông Trúc Lâm Tam Tổ và cũng không phải là Thiền tông Thảo Đường.

Tịnh độ tông của Chúa Nguyễn đi vào văn hóa Việt Tộc với hai biểu tượng song hành chính là chùa làng và đình làng, hai biểu tượng này đã được xây dựng trải khắp miền Nam Việt Nam, từ thành thị đến nông thôn, nghĩa là chỗ nào có làng là chỗ đó chùa và có đình. Về sau chủ thuyết “Thiền Tịnh song tu” của Chúa Nguyễn phát triển lan tràn ra miền Bắc trở thành văn hóa toàn diện là khi nhà Nguyễn thống nhất đất nước.

Thiền tông Trúc Lâm là thiền phái thuần túy của Việt Nam do người Việt Nam sáng lập mà tổ đầu tiên tạo dựng thiền phái này vào khoảng năm 1228 Tây Lịch chính là Trần Thái Tông. Thiền tông Trúc Lâm là biểu tượng sự tiến hóa của nền văn hóa Phật giáo trên đất nước Việt Nam mà nó không phải là thiền phái hội nhập vào văn hóa Việt Tộc, nguyên vì thiền phái này chỉ dành riêng cho giai cấp thượng lưu trí thức đương thời tu tập và nó không có tính cách phổ quát trong mọi tầng lớp dân gian.

Hơn nữa suốt 180 năm của thời đại Nhà Trần, Nho giáo mới chính là chính thống nhập thế tích cực, đóng vai trò chủ yếu của truyền thống văn hóa Việt Tộc và trong thời gian đó vai trò Phật giáo mà đại biểu là Thiền tông Trúc Lâm thì có tính cách yếm thế tiêu cực, chỉ dành riêng cho những hạng hưu trí hồi quan nương thân vào thiền môn để an thân thủ phận. Thiền phái này chỉ truyền thừa được ba đời thì chấm dứt gọi là “Trúc Lâm Tam Tổ”, mặc dù về sau cũng còn một vài ngôi chùa nối tiếp sự nghiệp Thiền phái Trúc Lâm, nhưng rồi cũng chìm trong quên lãng, vì họ không tạo được thế đứng trong tâm hồn dân gian.

5. Riêng Thiền tông Thảo Đường thì được thành lập vào khoảng năm 1069 Tây Lịch và người thành lập chính là Thiền sư Thảo Đường, đệ tử của Thiền sư Tuyết Đậu Minh Giác bên Tàu. Người được truyền thừa tâm ấn của Thiền sư Thảo Đường chính là vua Lý Thánh Tông, tổ thứ hai của Thiền tông Thảo Đường. Đặc biệt hơn hết từ xưa đến nay ở Việt Nam, Thiền tông Thảo Đường thuộc về loại thiền mang sắc thái Nghệ Thuật và Thi Ca. Trong văn học Việt Nam có rất nhiều tác phẩm thi thơ mang chất liệu văn hóa thiền qua nghệ thuật âm nhạc, hội họa, điêu khắc, kiến trúc..v..v… và tất cả đều chịu ảnh hưởng sâu xa của Thiền tông Thảo Đường.

Theo “Việt Nam Phật giáo sử lược” của Thích Mật Thể, Thiền tông Thảo Đường chỉ truyền thừa được năm đời và đắc đạo được mười chín người. Nhưng nghệ thuật, thi ca của Thiền phái Thảo Đường thì đã ăn sâu vào tâm hồn dân gian và từ đó biến thành văn hóa Việt Tộc không có ranh giới thời gian, không gian và được lưu truyền mãi mãi về sau. Hiện nay chất liệu văn hóa nghệ thuật thi ca của Thiền phái Thảo Đường vẫn còn sống dậy dạt dào trong tâm hồn dân gian Việt Nam. Điển hình như hiện giờ, nào là thơ thiền, hội họa thiền, điệu khắc thiền, kiến trúc thiền, dân ca thiền..v..v…. thi đua xuất hiện và tràn ngập khắp mọi nơi, truyền đến mọi tầng lớp dân gian và có thể nói tất cả đều chịu ảnh hưởng đậm đà của văn hóa Thiền phái Thảo Đường.

Qua những dữ kiện vừa chứng minh ở trước, Phật giáo Việt Nam vô cùng hãnh diện là Phật giáo Việt Nam đầu tiên không phải do Phật giáo Trung Quốc truyền sang mà chính là do Phật giáo Ấn Độ mang đến. Gần 3000 năm lịch sử, Phật giáo Ấn Độ đã mang đến cho dân tộc Việt Nam với bao tâm hồn thân thương, hòa ái, bao dung, che chở, đã tô đậm lên những nét son lịch sử sáng ngời.

Phật giáo Ấn Độ đi vào mảnh đất Việt Nam trong sự vinh quang tuyệt đỉnh, tưới lên chất liệu từ bi, hun đúc địa linh nhân kiệt, tạo nên sinh mệnh giống nòi, đem nguồn trí tuệ sáng soi, dẫn dắt con dân nước Việt khai thông sinh lộ, mở mang bờ cõi, bồi dưỡng ý chí kiên cường bất khuất cho con Lạc cháu Hồng bằng chất liệu dũng cảm tinh tấn, đủ sức kiên trì nhẫn nhục, vượt qua mọi gian nguy, vun xới cơ đồ, giữ gìn gia nghiệp muôn thuở để lại cho con cháu mai sau.

Người Việt Nam đầu tiên hân hoan đón nhận hạt giống Bồ đề Phật giáo Ấn Độ mang chất liệu từ bi, trí tuệ và dũng mãnh, tinh tấn gieo trồng vào mảnh đất Việt Nam chính là phò mã Chữ Đồng Tử và công chúa Tiên Dung, cháu của Hùng Vương đời thứ III ngỏ hầu làm cây đại thọ chở che cho giống nòi tương tựa. Từ đó về sau con Lạc cháu Hồng cứ tiếp tục gieo trồng cây Bồ đề Phật giáo Ấn Độ lan rộng khắp nơi trên mảnh đất quê hương.

Chất liệu cây đại thọ Bồ đề Phật giáo Ấn Độ cũng từ đó kết tinh thành sinh mệnh của Việt Tộc mở cửa đón nhận tất cả trào lưu tư tưởng Phật giáo đến từ khắp nơi, dung hàa và tô bồi nền văn hóa Việt Tộc trở nên phong phú phồn vinh. Lúc bấy giờ sinh mệnh của Việt Tộc và sinh mệnh của Phật giáo cùng nhau hòa hợp xây dựng thành Phật giáo Việt Nam trải dài hơn hai ngàn năm lịch sử hun đúc thành những tuấn kiệt hùng anh, những long tượng phi phàm bao gồm cả quốc gia và Phật giáo góp phần công đức vô lượng vào việc vun xới cơ đồ mở mang bờ cõi phát huy chính pháp từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau.

Nhìn riêng về Phật giáo Việt Nam, vào thế kỷ thứ II Tây Lịch, những long tượng nổi bậc nhất xuất thân từ trung tâm Luy Lâu phải kể đến hai nhân vật Mâu Bác và Khương Tăng Hội. Theo “Phật giáo sử luận” của Nguyễn Lang, chương I, trang 14: Trung tâm Luy Lâu là trung tâm đầu tiên của Phật giáo, hiện nay thuộc phủ Thận Thành, tỉnh Bắc Ninh; trung tâm này đào tạo nên hai nhân vật nổi tiếng đương thời là Mâu Bác với tác phẩm “Lý hoặc Luận” thuộc luận học và Khương Tăng Hội với tác phẩm “An Ban Thủ Ý” thuộc thiền học. Hai vị đây đã phát huy chính pháp sáng rực một thời trong vòm trời Việt Nam.

Kế đến vào thời kỳ tự chủ nhà Đinh lấy móc câu từ 968 Tây Lịch trở về sau làm chuẩn đích, các hệ phái Phật giáo Việt Nam như Thiền tông, Mật tông, Tịnh độ tông..v..v…. suốt dòng lịch sử đã cùng nhau nối tiếp khai sơn phá thạch, vun xới cơ đồ phát huy chính pháp, đắp xây nền văn hiến Lạc Việt lưu truyền vĩnh cửu cho mai hậu.

Các hệ phái Thiền tông, Mật tông và Tịnh độ tông nói trên đã đào luyện rất nhiều long tượng tinh anh, như Khuông Việt Ngô Chân Lưu..v..v….thuộc hệ phái Vô Ngôn, như Quốc sư Pháp Thuận, Quốc sư Vạn Hạnh..v..v…. thuộc hệ phái Mật siáo, như Chúa Nguyễn Hoàng, Tổ Nguyên Thiều, Tổ Liễu Quán..v..v…. thuộc hệ phái Thiền Tịnh song tu, các vị đó đã từng lấy máu chép kinh, lấy xương làm bút viết lên những trang sử oai hùng trên con đường mở nước và phát huy chính pháp, nhất là Thiền Tịnh song tu đã vun bồi cho dòng máu Lạc Hồng, chuyển hóa sức sống Rồng Tiên, tô thắm nền văn hóa Việt Tộc sáng ngời muôn thuở.

Ngày nay, sau biến cố 75, con dân nước Việt ào ạt vượt biên ra nước ngoài đi tìm đất sống và đã định cư khắp năm châu bốn biển. Trên con đường tìm đất tự do, họ cũng mang theo nền văn hóa Việt Tộc đã được hun đúc chất liệu Thiền Tịnh song tu để làm sản phẩm tinh thần cho giống nòi phát triển.

Trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại đã có sẵn tài nguyên văn hóa Việt Tộc và cũng đã có sẵn chất liệu Thiền Tịnh song tu, chúng ta chỉ có nhiệm vụ nối tiếp tiền nhân, kết hợp chuyển hóa, khai thông sinh lộ, vun xới tài nguyên, tưới lên chất liệu Thiền Tịnh song tu, đắp xây vững bền nền văn hóa Việt Tộc để chuyên chở giống nòi Lạc Việt trưởng thành và tồn tại muôn đời trên mảnh đất tự do quê hương mới lập. Ưu tiên cho cộng đồng Việt Nam hải ngoại, những ai làm tròn nghĩa vụ vừa trình bày trên thì mới xứng đáng lưu danh kim cổ người con Phật chân chính, bậc tuấn kiệt hùng anh của con Lạc cháu Hồng.

Thích Thắng Hoan