Top 20 # Vi Cấu Trúc Là Gì / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 11/2022 # Top Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Vi Cấu Trúc Sandy Bridge / 2023

Nguyên tắc của chiến lược này rất đơn giản đó là họ nâng cấp quy trình sản xuất hoặc đưa ra vi cấu trúc mới . Chu kì của chiến lược này trong thời gian 02 năm .

Cuối năm 2008 , Intel giới thiệu vi cấu trúc Nehalem và trong đầu năm 2010 bắt đầu sản xuất những bộ vi xử lí Westmere bằng công nghệ 32nm , sau đó trong năm 2011 lại có một chu kì mới , cấu trúc mới .

Sandy Bridge là tên mã của vi cấu trúc mới sau Nehalem trong những bộ vi xử lí được sản xuất bằng công nghệ 32nm .

Đầu tiên đó là quy trình sản xuất những bộ vi xử lí Westmere phức tạp . Những CPU này có chứa hai khuôn ( Die ) bán dẫn dựa trên hai công nghệ sản xuất khác nhau được ghép chung vào một vỏ . Trong khi đó quy trình 32nm hiện thời đã đủ sức để cho phép sản xuất những bộ vi xử lí phức tạp hơn với sản lượng cao . Thứ hai những bộ vi xử lí Nehalem đã đạt tới tần số làm việc lớn nhất , do vậy rất khó để có thể chạy Overclock mà lại không vượt qua mức TDP chuẩn . Điều đó có nghĩa là cần tìm ra cách mới để tăng hiệu suất làm việc tức là cần một vi cấu trúc mới .

Hai năm đã qua , Intel đã làm rất tốt công việc tích hợp nhiều tính năng của Chipset vào trong CPU . Những bộ vi xử lí đầu tiên của cấu trúc Nehalem là Bloomfield , đã tích hợp mạch điều khiển bộ nhớ . Thế hệ tiếp theo là Lynnfield đã có thêm điều khiển Bus PCIe m bên cạnh điều khiển bộ nhớ . Sau đó Clarkdale tích hợp thêm lõi đồ họa , mặc dù lõi đồ họa là khuôn bán dẫn riêng bên trong gói CPU . Sandy Bridge đã làm công việc cuối cùng đó là tích hợp tất cả bằng một công nghệ sản xuất trên cùng khuôn bán dẫn bao gồm : lõi x86 , lõi đồ họa , mạch điều khiển bộ nhớ và mạch điều khiển Bus PCIe .

Khuôn bán dẫn của Sandy Bridge có kích thước 225mm 2 , nhỏ hơn so với Lynnfield hoặc Bloomfield 4-lõi hoặc thậm chí cả Gulftown 6-lõi 32nm . Những CPU Sandy Bridge sẽ có 2- hoặc 4-lõi , hỗ trợ công nghệ Hyper-Threading , 8MB Cache L3 , hỗ trợ bộ nhớ DDR3 2-kênh , sẽ hỗ trợ 16 Lane PCIe 2.0 , lõi đồ họa hỗ trợ DirectX 10.1 .

Bên cạnh tích hợp nhiều thành phần khác , trong vi cấu trúc Sandy Bridge cũng có những sự cải tiến đáng kể . Cấu trúc x86 trong Sandy Bridge đã được thay đổi để bảo đảm chạy nhanh hơn so với những bộ vi xử lí thế hệ trước khi chạy cùng tốc độ xung nhịp , nhưng chúng lại có mức độ tiêu thụ điện năng ít hơn do vậy mà những CPU Sandy Bridge sẽ có thể chạy với tốc độ cao hơn .

Hơn thế nữa trong vi cấu trúc x86 mới lại hỗ trợ những lệnh AVX (Advanced Vector Extensions) mới , được sử dụng nhiều trong những thuật toán của Multimedia , tài chính hoặc khoa học . AVX khác với những tập lệnh SSE Vector trước kia như có độ rộng phép toán cao hơn 256-bit thay vì 128-bit , do đó mà chúng sẽ cho phép xử lí dữ liệu lớn hơn trong khi mức độ tiêu hao tài nguyên ít hơn .

Bằng việc phát hành Sandy Bridge hồi đầu năm nay , Intel hy vọng những bộ vi xử lí này sẽ nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường trong hầu hết những phân khúc giá cả khác nhau từ 100-300$ với những Chip Core i3 / i5 và i7 . Cuối năm 2011 , Intel sẽ đưa ra những Chip Sandy Bridge rẻ tiền hơn .

Bên cạnh những bộ vi xử lí trên , Intel cũng có những Chip Sandy Bridge tiết kiệm điện năng cho hệ thống mobile với TDP 45W hoặc 65W

Nếu xét về giá những bộ vi xử lí Nehalem vẫn sẽ thống trị trong những sản phẩm giá cao với những CPU Bloomfield và Gulftown LGA1366 và có thể bị thay thế từ cuối năm nay . Intel sẽ đưa ra nền tảng máy chủ để bàn LGA2011 đó là cấu trúc Sandy Bridge E đặc biệt với 8-lõi , 16MB Cache L3 , điều khiển bộ nhớ 4-kênh , 32 Lane PCIe 2.0 .

Sandy Bridge không phải có tất cả những bộ phận hoàn toàn mới khi so sánh với Clarkdale , nhưng nó lại dùng Socket LGA1155 trên những Motherboard mới .

Cùng với Sandy Bridge , Intel cũng có họ Chipset mới : P67 và H67 với đồ họa tích hợp . Như những Chipset LGA1156 , P67 và H67 mới rất đơn giản vì bây giờ những chức năng của North Bridge đã được chuyển vào bên trong CPU vì vậy chỉ còn một Chip South Bridge với những tính năng thông thường . Chúng sẽ hỗ trợ 02 cổng SATA 6.0Gbps

Thật không may khi mà những Chipset mới lại không hỗ trợ USB 3.0 vì thế những nhà sản xuất Motherboard LGA1155 sẽ dùng Chip điều khiển của nhà sản xuất khác như NEC , VIA để hỗ trợ USB 3.0 .

Tuy nhiên Sandy Bridge lại có mức độ tiêu thụ điện năng thấp hơn 25% .

Các kỹ sự Intel khẳng định Sandy Bridge có hiệu suất làm việc tăng lên trong khi mức độ tiêu thụ điện năng giảm đi . Sandy Bridge không phải chỉ cải tiến dựa trên cấu trúc Nehalem mà nó mượn nhiều ý tưởng từ dự án Pentium 4 thất bại . Tất nhiên vi cấu NetBurst , trong Pentium 4 , là sự thất bại của Intel nhất là việc nó tiêu thụ điện năng quá lớn , nhưng một số bộ phận trong Pentium 4 vẫn có mặt trong Core i3 , i5 và i7 mới .

Chúng ta bắt đầu chú ý tới sự thay đổi đáng kể trong vi cấu trúc Sandy Bridge bắt đầu từ Pipeline : khi những lệnh x86 được giải mã hóa thành những vi lệnh ( micro-ops ) đơn giản hơn . Bộ phận giải mã tương tự như trong Nehalem , nó xử lí 04 lệnh trong mỗi chu kì xung nhịp và hỗ trợ những công nghệ Micro-Fusion và Macro Fusion . Tuy nhiên những lệnh xử lí chuyển thành vi lệnh không chỉ được chuyển tới tầng xử lí tiếp theo mà nó còn được giữ lại ở mức độ Cache L0 . Nói một cách khác , bên cạnh bộ nhớ Cache L1 32KB thông thường cho những lệnh như trong hầu hết các bộ vi xử lí x86 , Sandy Bridge còn có thêm Cache L0 để lưu trữ những kết quả đã được giải mã . Cache này được lấy lại từ ý tưởng của vi cấu trúc NetBurst , nguyên lí hoạt động của nó tương tự như Execute Trace Cache .

Cache vi lệnh đã được giải mã có dung lượng 6KB và có thể lưu trữ được 1500 vi lệnh , trợ giúp rất nhiều cho Bộ phận giải mã ( Decoder ) . Nếu như Decoder phát hiện ra những lệnh đã được giải mã trước đó và bây giờ đang được lưu trữ trong Cache L0 thì nó sẽ không cần phải thực thi quá trình giải mã mới . Bộ nhớ đệm Cache L0 này hỗ trợ rất nhiều để giảm bớt tải công việc Decoder , đó là phần tiêu thụ nhiều điện năng trong CPU . Theo Intel 80% những lệnh lưu trữ trong Cache L0 được sử dụng lại trong hầu hết các ứng dụng . Bên cạnh đó khi Decoder trong Sandy Bridge nghỉ nó sẽ bị tạm thời vô hiệu hóa để tiết kiệm điện năng.

Cải tiến quan trọng thứ hai trong những tầng Pipeline đầu tiên đó chính là Bộ phận dự đoán rẽ nhánh – BPU ( Branch Prediction Unit ) .

Bạn có thể không đánh giá hết được tầm quan trọng khi mà BPU làm việc . Mỗi khi dự đoán rẽ nhánh bị sai nó sẽ yêu cầu dừng lại và xóa hoàn toàn Pipeline . Kết quả là dự đoán rẽ nhánh sai không chỉ ảnh hưởng tới hiệu suất làm việc mà lại tốn điện năng để thực hiện lại toàn bộ Pipeline . Intel đã thiết kế BPU để nó có thể làm việc cực kì hiệu quả trong những bộ vi xử lí mới . Tuy nhiên Intel đã thay đổi tất cả những bộ đệm của Sandy Bridge dùng để lưu trữ những Địa chỉ Rẽ nhánh và những Lịch sử Dự đoán bằng cách tăng thêm khoảng trống để lưu trữ dữ liệu này . Kết quả là Sandy Bridge có thể lưu trữ Lịch sử Dự đoán nhiều hơn mà không cần phải tăng kích thước của cấu trúc dữ liệu dùng trong BPU .Theo đánh giá của Intel , nhờ đó là BPU trong Sandy Bridge đã dự đoán chính xác nhiều hơn 5% so với những vi cấu trúc trước kia .

Nhưng bộ phận quan trọng trong tất cả các bộ vi xử lí OOO ( Out-of-Order ) chính là OOO Cluster , nó thay đổi đáng kể . Ở đây vi cấu trúc Sandy Bridge và NetBurst có vẻ như gần gũi với nhau nhất . Những kỹ sư của Intel đã mang PRF ( Physical Register File ) quay lại trong Sandy Bridge . PRF không được dùng trong vi cấu trúc Nehalem mà tập trung cải tiến RRF (Retirement Register File ) . Trước kia , khi chúng sắp xếp lại những vi lệnh , chúng dùng để lưu trữ tất cả thanh ghi sao lưu lại của mỗi hoạt động trong bộ đệm . Bây giờ chúng dùng liên kết tới những giá trị thanh ghi lưu trữ trong PRF . Cách làm này cho phép không chỉ hạn chế truyền dữ liệu thừa , mà nó còn ngăn chặn việc sao lưu những thanh ghi có cùng nội dung và như vậy tiết kiệm được không gian .

Kết quả là OOO Cluster trong Sandy Bridge có thể giữa được 168 vi lệnh tại cùng một thời điểm , còn trong Nehalem chỉ có thể lưu trữ được 128 vi lệnh trong ROB ( ReOrder Buffer ) . Bên cạnh đó một số điện năng cũng được tiết kiệm . Tuy nhiên việc thay thế giá trị thực tế bằng những liên kết tới đó cũng có mặt hạn chế đó là : Pipeline thực hiện cần có thêm tầng mới cho con trỏ ( Pointer ) để quả lí những liên kết .

Mặc dù vậy những nhà phát triển thực sự không có nhiều sự lựa chọn trong Sandy Bridge . Cấu trúc này hỗ trợ những lệnh AVX mới với những thanh ghi 256-bit . Việc thay đổi này cũng có mặt lợi là hại vì phải bù đắp bằng những công việc khác nhưng Intel đã bảo đảm những lệnh mới trong Sandy Bridge thực thi đủ nhanh . Trong trường hợp này để bảo đảm tận dụng hết những ưu điểm thì những nhà phát triển phần mềm sẽ phải chấp nhận dùng những lệnh mới trong ứng dụng của mình . AVX mới tăng thực thi những lệnh song song thông qua những tính toán vector .

Những lệnh AVX không khác hơn những lệnh SSE , khi tăng kích thước của thanh ghi vector SIMD lên 256-bit . Những lệnh AVX mới cho phép thực hiện lệnh mà không phá hủy có nghĩa là dữ liệu đầu tiên trong thanh ghi không bị mất . Kết quả là tập lệnh AVX , như là một sự cải tiến của cấu trúc được coi như là sự sáng tạo để tăng hiệu suất làm việc và tiết kiệm điện năng bởi vì chúng cho phép thực hiện nhiều thuật toán đơn giản và dùng vài lệnh để hoàn thành nhiệm vụ . Những lệnh AVX hoàn toàn có lợi với những tính toán nặng tính dấu phảy động như Multimedia , những ứng dụng khoa học và tài chính .

Những Bộ phận thực hiện ( Execution Unit ) cũng đã được thiết kế lại nhất là để cho những lệnh 256-bit thực hiện một cách hiệu quả . Thiết kế lại chủ yếu làm việc với hai cặp Execution 128-bit để xử lí gói dữ liệu 2567-bit một cách hiệu quả . Mỗi cổng ( Port ) thực thi trong ba cổng trong Sandy Bridge ( như Nehalem ) có những bộ phận để làm việc cùng một lúc với ba kiểu dữ liệu 64-bit , 128-bit nguyên và 256-bit thực . Và điều quan trọng nhất đó là sự sắp xếp lại này không ảnh hưởng tới băng thông của Execution Unit .

Sandy Bridge được thiết kế để làm việc với những lệnh Vector 256-bit vì thế mà những nhà phát triển của Intel đã phải chú tâm tới hiệu suất của những Bộ phận chức năng thực hiện việc Tải và Lưu trữ dữ liệu . Trong Nehalem có 03 cổng và chúng cũng vẫn được dùng trong Sandy Bridge , tuy nhiên để tăng hiệu quả công việc , Intel đã hợp nhất hai trong ba cổng này ( màu vàng trong hình dưới ) dùng để phục vụ Tải và Lưu trữ dữ liệu . Cổng thứ ba không thay đổi chỉ làm nhiệm vụ lưu trữ dữ liệu .

Mỗi cổng có thể cho phép 16-byte / chu kì đồng hồ và tất cả đều qua bộ nhớ Cache L1 dữ liệu . Kết quả là Sandy Bridge cho phép tải 32-byte dữ liệu và lưu trữ 16-byte dữ liệu trong một chu kì đồng hồ .

Nếu chúng ta so sánh những điều đã mô tả trên sẽ thấy Sandy Bridge có cấu trúc thay đổi đáng kể . Những sự thay đổi này sẽ cho phép sửa đổi những nút thắt cổ chai dữ liệu trong Nehalem

Hành Vi Là Gì? Khái Niệm Hành Vi Là Gì? / 2023

Trong cuộc sống thường ngày thì mỗi chúng ta đều đã‚ đang và sẽ thực hiện rất nhiều hành vi‚ có thể là những hành vi tốt đẹp‚ mang tính tích cực hoặc cũng có thể là những hành vi xấu‚ chưa đúng chuẩn mực của xã hội‚ mang tính tiêu cực ở mức độ khác nhau.

Trong phạm vi bài viết này‚ chúng ta chỉ đề cập đến hành vi của con người.

Khái niệm hành vi của con người nếu xét trên phương diện về sinh học‚ tâm lý học thì có nghĩa là cách thể hiện suy nghĩ của một người ra bên ngoài thông qua hành động hoặc cử chỉ‚ trạng thái trong một hoàn cảnh nhất định và trong một khoảng thời gian cụ thể.

Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi

Hành vi có thể bị chịu tác động từ 2 yếu tố cơ bản là: yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan

– Yếu tố khách quan ở đây có thể là: môi trường sống‚ môi trường làm việc‚ môi trường học tập‚ giáo dục‚ v.v…

– Yếu tố chủ quan cụ thể đó là: khả năng nhận thức cũng như khả năng điều chỉnh hành vi của mỗi người là khác nhau.

Như chúng ta cũng đã nói đến ở phần Hành vi là gì? Khái niệm hành vi là gì? thì hành vi được biểu hiện dưới 2 dạng chính là: Hành động và không hành động

– Hành vi biểu hiện qua hành động: là những hành vi được nhận biết thông qua những việc làm cụ thể mà một người nào đó thực hiện.

– Hành vi biểu hiện dưới dạng không hành động: là những hành vi có thể được xác định thông qua ý nghĩ‚ trạng thái‚ mục đích hướng tới của một người nào đó.

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì có thể phân chia hành vi thành 4 loại cơ bản đó là: hành vi kỹ xảo‚ hành vi bản năng‚ hành vi trí tuệ và hành vi đáp ứng.

Trong đó:

– Hành vi kỹ xảo là những hành vi được tạo nên qua quá trình học tập‚ rèn luyện của mỗi người‚ nó mang tính chất linh hoạt‚ mềm dẻo.

Hành vi này khi được hình thành trên vỏ não thì sẽ mang tính bền vững‚ khó có thể thay đổi trong tương lai và giúp mỗi chúng ta thích nghi với môi trường sống một cách dễ dàng‚ thuận tiện.

Ví dụ một số hành vi như là: Viết chữ‚ làm xiếc‚ ảo thuật‚ v.v …

– Hành vi bản năng tức là hành vi mang tính chất di truyền của những người thân‚ người cùng huyết thống trong từng gia đình hoặc mang tính lịch sử và truyền thống văn hóa của mỗi quốc gia‚ dân tộc hay vùng miền khác nhau.

Ví dụ như: hành vi cầm bút‚ cầm đũa bằng tay trái; hành vi cúng bái tổ tiên trong các ngày lễ tết của người Việt; v.v…

– Hành vi trí tuệ là những hành vi được hình thành từ các hoạt động trí tuệ‚ tiếp thu những kiến thức ở mức độ khó‚ trừu tượng như là hoạt động nghiên cứu khoa học‚ v.v…

Những người có khả năng và hành vi trí tuệ này là những người hiểu được các quy luật của hiện tượng sự vật xung quanh chúng ta và bản chất của từng mối quan hệ trong xã hội‚ qua đó họ có thể phát minh ra công nghệ mới để cải tạo‚ phát triển thế giới.

– Hành vi đáp ứng: là những hành vi được tạo ra để ứng phó với hoàn cảnh‚ tình huống thực tế nhất thời‚ với mục đích là để tồn tại và tiếp tục phát triển.

Những hành vi này thường được tạo ra không theo ý thức tự nguyện và sự lựa chọn của bản thân.

Ví dụ như: hành vi cưỡng dâm‚ cưỡng chế thu hồi tài sản‚ v.v…

Tác giả

Phạm Kim Oanh

Bà Oanh hiện đang làm việc tại Bộ phận Sở hữu trí tuệ của Công ty Hoàng Phi phụ trách các vấn đề Đăng ký xác lập quyền cho khách hàng trong lĩnh vực sáng chế, giải pháp hữu ích và kiểu dáng công nghiệp. Đây là một trong những dịch vụ khó, đòi hỏi khả năng chuyên môn cao của người tư vấn.

CHÚNG TÔI LUÔN SẴN SÀNG LẮNG NGHE – TƯ VẤN – GIẢI ĐÁP CÁC THẮC MẮC

1900 6557 – “Một cuộc gọi, mọi vấn đề”

Mũi Cấu Trúc Là Gì ? / 2023

Tôi đã nghe nói đến mũi cấu trúc nhưng không biết mũi cấu trúc là gì và liệu nâng mũi có thể có được dáng mũi này không? Xin tư vấn thêm cho tôi hiểu rõ hơn về vấn đề này. (Minh Loan – Long An).

Chào bạn!

Nhiều người thường nghĩ rằng chỉ cần một dáng mũi cao, thon gọn là đạt được tiêu chuẩn thẩm mỹ của hiện đại. Nhưng điều quan trọng không chỉ là những yếu tố này mà bạn cần phải đạt được sự hài hòa với các đường nét chung trên khuôn mặt thì mới tạo được một diện mạo cuốn hút.

Vậy, mũi cấu trúc là gì ?

Mũi cấu trúc là gì cũng là thắc mắc của nhiều người. Trên thực tế, đây là dáng mũi đạt được sự hài hòa về cấu trúc của dáng mũi, bao gồm từ chân mũi, sống mũi và đầu mũi. Vì vậy, mũi cấu trúc cũng được rất nhiều người ưa chuộng và mong muốn sở hữu.

Hiện nay, với sự phát triển không ngừng của công nghệ thẩm mỹ hiện đại thì việc nâng mũi cấu trúc để sở hữu dáng mũi hoàn hảo hơn là điều hoàn toàn có thể thực hiện được một cách đơn giản hơn.

Vậy thì cách để có được mũi cấu trúc là gì ? Đó chính là phương pháp nâng mũi cấu trúc. Điểm khác biệt của phương pháp này so với các phương pháp nâng mũi trước đây đó là có thể tiến hành chỉnh sửa lại các khuyết điểm trên mũi một cách toàn diện nhất. Do đó, dáng mũi sau khi nâng không chỉ đạt đẹp, cao ráo thon gọn và còn rất hài hòa với tổng thể của khuôn mặt.

Nâng mũi cấu trúc là phương pháp không quá phức tạp nhưng để đảm bảo có được tính an toàn và thẩm mỹ cao thì việc tìm được địa chỉ thực hiện uy tín là điều cần thiết.

Đầu tiên là tiến hành thăm khám để biết được khuyết điểm mà bạn cần khắc phục là gì

Tiếp theo, mô phỏng dáng mũi bằng công nghệ 3D để cho khách hàng xem trước được dáng mũi cũng như giúp bác sĩ lên kế hoạch thực hiện kỹ thuật nâng mũi cấu trúc là gì.

Bạn sẽ được kiểm tra sức khỏe và tiến hành nâng mũi trong phòng phẫu thuật đảm bảo điều kiện nghiêm ngặt về vô trùng an toàn.

Sau khi kết thúc, bạn có thể ở lại nghỉ ngơi tại Bệnh viện hoặc ra về nhà và chăm sóc tại nhà.

Bệnh viện KIM với đội ngũ bác sĩ giàu kinh nghiệm cùng hệ thống máy móc thiết bị hiện đại sẽ giúp bạn có được kết quả phù hợp và đẹp tự nhiên nhất.

Website Nâng mũi KIM: http://nangmuikimhospital.com/

Cấu Trúc Bên Trong Vi Điều Khiển 8051 / 2023

Bộ NHỚ CHƯƠNG TRÌNH- BỘ NHỚ ROM

Bộ nhớ ROM dùng để lưu chương trình do người viết chương trình viết ra. Chương trình là tập hợp các câu lệnh thể hiện các thuật toán để giải quyết các công việc cụ thể, chương trình do người thiết kế viết trên máy vi tính, sau đó được đưa vào lưu trong ROM của vi điều khiển, khi hoạt động, vi điều khiển truy xuất từng câu lệnh trong ROM để thực hiện chương trình. ROM còn dùng để chứa số liệu các bảng, các tham số hệ thống, các số liệu cố định của hệ thống. Trong quá trình hoạt động nội dung ROM là cố định, không thể thay đổi, nội dung ROM chỉ thay đổi khi ROM ở chế độ xóa hoặc nạp chương trình (do các mạch điện riêng biệt thực hiện).

Bộ nhớ ROM được tích hợp trong chip Vi điều khiển với dung lượng tùy vào chủng loại cần dùng, chẳng hạn đối với 89S52 là 8KByte, với 89S53 là 12KByte.

Bộ nhớ bên trong Vi điều khiển 89Sxx là bộ nhớ Flash ROM cho phép xóa bộ nhớ ROM bằng điện và nạp vào chương trình mới cũng bằng điện và có thể nạp xóa nhiều lần

Bộ nhớ ROM được định địa chỉ theo từng Byte, các byte được đánh địa chỉ theo số hex-số thập lục phân, bắt đầu từ địa chỉ 0000H, khi viết chương trình cần chú ý đến địa chỉ lớn nhất trên ROM, chương trình được lưu sẽ bị mất khi địa chỉ lưu vượt qua vùng này. Ví dụ: AT89S52 có 8KByte bộ nhớ ROM nội, địa chỉ lớn nhất là 1FFFH, nếu chương trình viết ra có dung lượng lớn hơn 8KByte các byte trong các địa chỉ lớn hơn 1FFFH sẽ bị mất.

Ngoài ra Vi điều khiển còn có khả năng mở rộng bộ nhớ ROM với việc giao tiếp với bộ nhớ ROM bên ngoài lên đến 64KByte(địa chỉ từ 0000H đến FFFFH).

1.5.BỘ NHỚ DỮ LIỆU- BỘ NHỚ RAM

Bộ nhớ RAM dùng làm môi trường xử lý thông tin, lưu trữ các kết quả trung gian và kết quả cuối cùng của các phép toán, xử lí thông tin. Nó cũng dùng để tổ chức các vùng đệm dữ liệu, trong các thao tác thu phát, chuyển đổi dữ liệu. RAM nội trong Vi điều khiển được tổ chức như sau:

Các vị trí trên RAM được định địa chỉ theo từng Byte bằng các số thập lục phân (số Hex)

Các bank thanh ghi có địa chỉ 00H đến 1FH

210 vị trí được định địa chỉ bit

các vị trí RAM bình thường

Các thanh ghi có chức năng đặc biệt có địa chỉ từ 80H đến FFH.

Các byte RAM 8 bit của vi điều khiển được gọi là , nếu các ô nhớ có chức năng đặc biệt thường được gọi là , nếu là bit thì được gọi là “bit nhớ”.

Các bank thanh ghi có địa chỉ byte từ 00H đến 1FH, có 8 thanh ghi trong mỗi bank, các thanh ghi được đặt tên từ R0-R7, các thanh ghi này được đặt mặc định trong bank 1. Có 4 bank thanh ghi và tại mỗi thời điểm chỉ có một bank thanh ghi được truy xuất với các thanh ghi từ R0 đến R7, để thay đổi việc truy xuất các thanh ghi trên các bank thanh ghi, người dùng phải thay đổi giá trị các bit chọn bank trong thanh ghi trạng thái PSW bằng các câu lệnh trong chương trình. Các lệnh dùng các thanh ghi từ R0 đến R7 mất khoảng không gian lưu trữ ít hơn và thời gian thực hiện nhanh hơn so với các lệnh dùng các ô nhớ RAM khác, ngoài ra các thanh ghi này còn có thêm một số chức năng đặc biệt khác, vì lí do này các dữ liệu sử dụng thường thường được người viết chương trình đưa vào lưu trong các thanh ghi này. Ngoài ra, có thể truy xuất thanh ghi trên các bank thanh ghi như với các ô nhớ bình thường khác. Ví dụ: nguời dùng có thể truy xuất đến thanh ghi R7 bằng ô nhớ 07H.

1.5.2. Vùng RAM truy xuất từng bit

1.5.3. Vùng RAM bình thường

Vùng RAM này có địa chỉ byte từ 30H đến 7FH, dùng để lưu trữ dữ liệu, được truy xuất theo từng byte.

1.5.4. Các thanh ghi có chức năng đặc biệt

Các thanh ghi này được định địa chỉ byte, một số được định thêm địa chỉ bit, có địa chỉ của các thanh ghi này nằm trong khoảng 80H đến FFH. Các thanh ghi đặc biệt này này được dùng để xác lập trạng thái hoạt động cần thiết cho Vi điều khiển.

TÌM HIỂU MỘT SỐ Ô NHỚ CÓ CHỨC NĂNG ĐẶC BIỆT

1.5.6.Các thanh ghi có địa chỉ 80H, 90H, A0H, B0H:

Đây là các thanh ghi kiểm tra và điều khiển mức logic của các Port, có thể truy xuất và xác lập các thanh ghi này với địa chỉ byte hoặc tên riêng lần lượt là P0, P1, P2, P3 tương ứng với các Port xuất. Chẳng hạn để tất cả các chân của Port 0 lên mức logic 1, cần làm cho các bit của thanh ghi có địa chỉ 80H lên mức 1.

Thanh ghi A là thanh ghi quan trọng, dùng để lưu trữ các toán hạng và kết quả của phép tính. Thanh ghi A có độ dài 8 bits, có địa chỉ là E0H.

Thanh ghi B ở địa chỉ F0H, được dùng với thanh ghi A để thực hiện các phép toán số học. Khi thực hiện lệnh chia với thanh ghi A, số dư được lưu trữ ở thanh ghi B. Ngoài ra thanh ghi B còn được dùng như một thanh ghi đệm có nhiều chức năng.

Con trỏ ngăn xếp SP là một thanh ghi có địa chỉ 81H, giá trị của nó được tăng,giảm tự động khi thực hiện các lệnh PUSH, CALL,POP con trỏ SP dùng quản lí và xử lí các nhóm dữ liệu liên tục.Giá trị mặc định của SP là 07H.

1.5.10. Con trỏ dữ liệu DPTR.

Con trỏ dữ liệu DPTR là thanh ghi 16 bit duy nhất của Vi điều khiển 8051 được tạo thành từ hai thanh ghi DPL (byte thấp-địa chỉ byte 82H) và DPH (byte cao-địa chỉ byte 83H). Hai thanh ghi DPL và DPT có thể truy xuất độc lập bởi người sử dụng. Con trỏ dữ liệu DPTR thường được sử dụng khi truy xuất dữ liệu từ bộ nhớ ROM hoặc bộ nhớ từ bên ngoài.

1.5.11.Thanh ghi trạng thái chương trình PSW (địa chỉ byte D0H)

Chức năng từng bit trong thanh trạng thái PSW

:Cờ được sử dụng trong các lệnh toán học: C=1 nếu phép toán cộng xảy ra tràn hoặc phép trừ có mượn C=0 nếu phép toán cộng không tràn hoặc phép trừ không có mượn.

Cờ nhớ phụ AC: Cờ AC được dùng trong các phép toán cộng hai số BCD.Khi cộng số BCD: Nếu kết quả 4 bit lớn hơn 09H thì AC=1 Nếu kết quả 4 bit dưới 09H thì AC=0.

Cờ 0 hay cờ nhớ Z: Cờ Z = 0 khi thanh ghi A có giá trị khác 0 Cờ Z =1 khi A thanh ghi A có giá trị là 0

Các bit chọn bank thanh ghi: Hai bit RS1 và RS2 dùng để xác lập bank thanh ghi được sử dụng, mặc định RS1=0 và RS2=0

Được sử dụng trong các phép toán cộng có dấu, với các phép toán cộng không dấu cờ tràn OV được bỏ qua, không cần quan tâm đến OV. Nếu: Phép cộng hai số có dấu lớn hơn +127 thì OV=1 Hoặc phép trừ hai số có dấu nhỏ hơn -127 thì OV=1 Các trường hợp còn lại OV=0

Cờ chẵn lẻ P tự động được đặt bằng 1 hoặc 0 sao cho tổng số bit mang giá trị 1 trên thanh ghi A với cờ P luôn là một số chẵn. Cờ chẵn lẻ được dùng để xử lí dữ liệu trước khi truyền đi theo kiểu nối tiếp hoặc xử lí dữ liệu trước khi nhận vào theo kiểu nối tiếp (hạn chế lỗi phát sinh trong quá trình truyền).

Các thanh ghi khác sẽ được đề cập trong các bài sau