Top 10 # Ví Dụ Nguyên Tắc Lợi Ích Bảo Hiểm Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Các Nguyên Tắc Trong Bảo Hiểm

1. Nguyên tắc trung thực tuyệt đối (utmost good faith):

– Đối với bảo hiểm nhà: Nguyên, vật liệu xây nhà loại gì, thiết kế như thế nào, nhà được xây dựng ở đâu,…

– Đối với bảo hiểm con người: độ tuổi, nghề nghiệp, tiền sử ốm đau của người được bảo hiểm, hồ sơ sức khoẻ của người trong gia đình,…

– Đối với bảo hiểm ô tô: Thời gian đã sử dụng của xe, tuổi lái xe, tiền sử tai nạn,…

– Trong bảo hiểm tài sản, Người mua bảo hiểm có một số liên hệ với đối tượng bảo hiểm được pháp luật công nhận. Mối liên hệ đầu tiên được pháp luật công nhận là: chủ sở hữu. Mối liên hệ thứ hai là quyền lợi và trách nhiệm trước tài sản đó. Ví dụ, một người có quyền lợi bảo hiểm đối với đồ vật người đó mượn bởi vì nếu chúng bị mất hoặc bị hư hại, người đó sẽ phải thực hiện thay thế, sửa chữa, đền tiền hay khôi phục lại.

– Trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự: quyền lợi bảo hiểm phải căn cứ theo quy định của luật pháp về ràng buộc trách nhiệm dân sự.

Theo quan điểm mới về quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ, có thể hiểu một cách chung nhất: Quyền lợi có thể được bảo hiểm là mối quan hệ giữa bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm. Trong đó, rủi ro xảy ra với người được bảo hiểm sẽ gây tổn thất, thiệt hại về tài chính hoặc tinh thần đối với bên mua bảo hiểm. Theo đó có thể thấy: Mọi cá nhân đều có quyền lợi bảo hiểm không giới hạn đối với tính mạng của chính mình, do vậy họ có thể bảo hiểm tính mạng của mình với bất cứ giá trị nào mong muốn, miễn là có đủ tiền đóng phí bảo hiểm. Quyền lợi bảo hiểm cũng tồn tại đối với cha/mẹ, vợ/chồng, con cái, anh/chị/em của người đó hoặc những người có trách nhiệm nuôi dưỡng hoặc giám hộ hợp pháp của người đó. Quyền lợi có thể được bảo hiểm cũng tồn tại đối với Bên mua bảo hiểm là tổ chức trong các trường hợp: Một tổ chức mua bảo hiểm cho người lao động đang làm việc cho tổ chức đó; các tổ chức tín dụng, ngân hàng mua bảo hiểm cho những khách hàng vay tiền của ngân hàng, tổ chức tín dụng đó.

Để đảm bảo nguyên tắc này, trước khi phát hành hợp đồng bảo hiểm, công ty bảo hiểm phải kiểm tra giữa người tham gia bảo hiểm và đối tượng bảo hiểm có tồn tại quyền lợi có thể được bảo hiểm theo nguyên tắc và theo quy định của hợp đồng bảo hiểm đó hay không.

Theo quy luật này, nếu thực hiện việc nghiên cứu trên một lượng đủ lớn đối tượng nghiên cứu, người ta sẽ tính toán được xác suất tương đối chính xác khả năng xảy ra trong thực tế của một biến cố.

Quy luật số lớn là cơ sở khoa học quan trọng của bảo hiểm. Quy luật này giúp các Công ty bảo hiểm ước tính xác suất rủi ro nhận bảo hiểm, nhằm giúp tính phí và quản lý các quỹ dự phòng chi trả, bởi: Công ty bảo hiểm chỉ bảo đảm cho các sự cố ngẫu nhiên, nếu tính riêng từng trường hợp đơn lẻ, việc bảo hiểm có thể giống như một trò chơi may rủi; Song tính trên một số lớn đối tượng được bảo hiểm, Công ty bảo hiểm có thể dự đoán được về khả năng xảy ra sự cố ở mức độ tương đối chính xác có thể chấp nhận được.

Theo nguyên tắc bồi thường, khi có tổn thất xảy ra, người bảo hiểm phải bồi thường như thế nào đó để đảm bảo cho người được bảo hiểm có vị trí tái chính như trước khi có tổn thất xảy ra, không hơn không kém. Các bên không được lợi dụng bảo hiểm để trục lợi. Mục đích của nguyên tắc bồi thường là khôi phục lại một phần hoặc toàn bộ tình trạng tài chính như trước khi xảy ra tổn thất cho người được bảo hiểm. Nguyên tắc bồi thường đảm bảo người được bảo hiểm không thể nhận được số tiền chi trả nhiều hơn giá trị tổn thất mà họ gánh chịu. Trách nhiệm bồi thường của công ty bảo hiểm cũng chỉ phát sinh khi có thiệt hại do rủi ro được bảo hiểm gây ra. Nguyên tắc bồi thường chỉ áp dụng cho hai loại bảo hiểm là bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự, không áp dụng cho bảo hiểm nhân thọ và các nghiệp vụ bảo hiểm con người.

Một số trường hợp cần lưu ý:

– Theo nguyên tắc này, trong trường hợp người được bảo hiểm được nhận tiền bồi thường từ nhiều hợp đồng bảo hiểm khác nhau, có thể từ các công ty bảo hiểm khác nhau hoặc của cùng một công ty bảo hiểm, tổng số tiền bồi thường của tất cả các hợp đồng bảo hiểm sẽ không vượt quá giá trị tổn thất.

– Trường hợp người được bảo hiểm cũng được một bên thứ ba có trách nhiệm chi trả thiệt hại. Ví dụ như nhận tiền bồi thường từ người điều khiển ô tô đã đâm phải mình. Khi đó, tổng số tiền bồi thường của bên thứ ba và công ty bảo hiểm cũng không vượt quá giá trị tổn thất mà người được bảo hiểm phải gánh chịu. Nếu người được bảo hiểm đã nhận tiền bồi thường của công ty bảo hiểm, người được bảo hiểm phải có trách nhiệm bảo lưu và chuyển quyền đòi bồi thường người thứ ba cho công ty bảo hiểm.

Theo nguyên tắc thế quyền, người bảo hiểm sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm, có quyền thay mặt người được bảo hiểm để đòi người thứ ba trách nhiệm bồi thường cho mình. Trong bảo hiểm thiệt hại, nguyên tắc bồi thường đã xác định người được bảo hiểm không thể nhận được số tiền bồi thường nhiều hơn giá trị tổn thất mà mình gánh chịu.Ví dụ: Ô tô du lịch 4 chỗ được bảo hiểm đúng giá trị, bị xe tải đâm va gây thiệt hại phải sửa chữa, thay thế như trước lúc xảy ra tai nạn và được công ty bảo hiểm bồi thường với số tiền bảo hiểm 35.000.000 đồng. Lỗi cảnh sát giao thông xác định xe tải 70%, xe con 30%. Ở đây, công ty bảo hiểm đã hoàn thành cam kết của mình với người được bảo hiểm là bồi thường đúng giá trị tổn thất. Sau khi đã nhận đủ tiền bồi thường, người được bảo hiểm phải bảo lưu quyền đòi lại phần trách nhiệm của bên thứ ba (ở ví dụ trên là phía xe tải) cho công ty bảo hiểm.

Như vậy, thế quyền đòi bồi hoàn là nguyên tắc mà theo đó: Sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm mà một bên khác (bên thứ 3) phải chịu trách nhiệm về chi phí, tổn thất đó, Công ty bảo hiểm sẽ được hưởng mọi quyền lợi hợp pháp của người được bảo hiểm để giảm bớt tổn thất. Nguyên tắc thế quyền không áp dụng cho bảo hiểm con người.

Đây cũng là một nguyên tắc rất quan trọng đòi hỏi công ty bảo hiểm và người được bảo hiểm phải hiểu đúng và thực hiện; tránh việc người tham gia bảo hiểm trục lợi trong bảo hiểm và công ty bảo hiểm bị thiệt khi phải bồi thường số tiền vượt quá trách nhiệm thực tế mà mình phải gánh chịu theo cam kết.

Nguyên tắc đóng góp quy định: khi một đối tượng được bảo hiểm bởi nhiều công ty bảo hiểm – gặp tổn thất thì các công ty bảo hiểm sẽ có nghĩa vụ cùng đóng góp bồi thường theo tỷ lệ phần trách nhiệm đã nhận bảo hiểm. Nguyên tắc này không áp dụng cho các hợp đồng bảo hiểm con người.

Nguyên tắc khoán là nguyên tắc thường được áp dụng để giải quyết quyền lợi bảo hiểm trong các hợp đồng bảo hiểm con người nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng. Theo nguyên tắc khoán, khi xảy ra các sự kiện bảo hiểm, công ty bảo hiểm căn cứ vào số tiền bảo hiểm của hợp đồng đã ký kết và các quy định đã thoả thuận trong hợp đồng để trả tiền cho người thụ hưởng. Khoản tiền này không nhằm mục đích bồi thường thiệt hại mà chỉ mang tính chất thực hiện cam kết của hợp đồng theo mức khoán đã quy định.

Lưu ý:- Khoản tiền mà công ty bảo hiểm trả không phải để bồi thường thiệt hại, mà là thực hiện cam kết trong hợp đồng bảo hiểm với bên mua bảo hiểm.

– Người được bảo hiểm cùng lúc có quyền nhận quyền lợi bảo hiểm từ nhiều hợp đồng bảo hiểm con người khác nhau.

”Nguyên nhân gần” là nguyên nhân chủ động, hữu hiệu và chi phối sự việc dẫn đến tổn thất cho đối tượng được bảo hiểm. ”Nguyên nhân gần” không nhất thiết phải là nguyên nhân đầu tiên hay nguyên nhân cuối cùng mà nó là nguyên nhân chi phối, nguyên nhân chủ động gây ra tổn thất. Nếu có những tác động của một số nguyên nhân, ”nguyên nhân gần” sẽ là nguyên nhân chi phối hoặc nguyên nhân mạnh nhất gây ra hậu quả dẫn tới tổn thất. Trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm, đối tượng được bảo hiểm thường gặp những rủi ro gây ra tổn thất. Song có những tổn thất xảy ra do nhiều nguyên nhân, trong đó có cả nguyên nhân đã được loại trừ không thuộc trách nhiệm bảo hiểm. Vậy điều quan trọng là phải xác định được nguyên nhân đó có thuộc trách nhiệm bảo hiểm không.

Khi có hai hay nhiều sự kiện xảy ra đồng thời trong đó có sự kiện được bảo hiểm và tổn thất mang tính độc lập, công ty bảo hiểm sẽ chịu trách nhiệm đối với tổn thất do rủi ro được bảo hiểm gây ra. Tuy nhiên, nếu tổn thất không thể phân loại, công ty bảo hiểm sẽ chịu trách nhiệm đối với toàn bộ các tổn thất.

Khi có một chuỗi các sự kiện liên tục xảy ra thì công ty bảo hiểm sẽ chịu trách nhiệm cho tổn thất đầu tiên gây ra bởi rủi ro được bảo hiểm trong hợp đồng, miễn là không có rủi ro loại trừ nào xảy ra trước rủi ro được bảo hiểm.

Ví dụ:

+ Trường hợp không có rủi ro loại trừ: Một người có tham gia bảo hiểm trong khi băng qua đường bị xe cán và chết. Việc đâm xe dẫn đến chết người này là nguyên nhân gần nhất và công ty bảo hiểm phải chịu trách nhiệm giải quyết quyền lợi bảo hiểm.

+ Trường hợp có rủi ro loại trừ: Một bình khí a-xê-ty-len dùng để hàn bị nổ và bắt lửa sang một cửa hàng sửa chữa xe máy. Cửa hàng này và các vật dụng bên trong được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm cháy. Bình khí a-xê-ty-len được dùng cho mục đích thương mại (không phải phục vụ mục đích sinh hoạt). Do đó vụ nổ bình khí này là một rủi ro loại trừ. Rủi ro này xảy ra trước một rủi ro khác là “cháy” (rủi ro được bảo hiểm) thì công ty bảo hiểm sẽ không chịu trách nhiệm cho bất cứ tổn thất nào gây ra bởi hoả hoạn. Tuy nhiên, nếu vụ nổ bình khí a-xê-ty-len xảy ra sau vụ hoả hoạn nào đó thì công ty bảo hiểm sẽ phải chịu trách nhiệm cho tổn thất cháy trước khi xảy ra vụ nổ.

– Chuỗi các sự kiện gián đoạn

Khi có một chuỗi các sự kiện gián đoạn thì nguyên nhân gần nhất của tổn thất là nguyên nhân xảy ra ngay sau sự gián đoạn cuối cùng. Ví dụ: Người được bảo hiểm tham gia hợp đồng bảo hiểm tai nạn cá nhân. Trong khi đi thuyền qua một con sông, không may anh ta ngã xuống sông. Cùng lúc đó, anh ta bị một cơn đau tim và sau đó đã bị chết đuối. Trong trường hợp này, việc chết đuối là nguyên nhân gần nhất chứ không phải việc đau tim vì có một sự gián đoạn trong chuỗi các sự cố giữa cơn đau tim và việc chết đuối. Công ty bảo hiểm sẽ chịu trách nhiệm thanh toán các quyền lợi mà người này được hưởng theo hợp đồng bảo hiểm tai nạn cá nhân.

Định Nghĩa &Amp; Các Nguyên Tắc Trong Bảo Hiểm

2. Theo Monique Gaullier: Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm. Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê.

3. Tập đoàn bảo hiểm AIG của Mỹ định nghĩa: Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này, một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm.

4. Luật Kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (2000): Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.

Bản chất của bảo hiểm: Là việc phân chia tổn thất của một hoặc một số người cho tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu. Bảo hiểm hoạt động dựa trên Quy luật số đông (the law of large numbers)

– Người được bảo hiểm cùng lúc có quyền nhận quyền lợi bảo hiểm từ nhiều hợp đồng bảo hiểm con người khác nhau.

+ Trường hợp không có rủi ro loại trừ: Một người có tham gia bảo hiểm trong khi băng qua đường bị xe cán và chết. Việc đâm xe dẫn đến chết người này là nguyên nhân gần nhất và công ty bảo hiểm phải chịu trách nhiệm giải quyết quyền lợi bảo hiểm.

+ Trường hợp có rủi ro loại trừ: Một bình khí a-xê-ty-len dùng để hàn bị nổ và bắt lửa sang một cửa hàng sửa chữa xe máy. Cửa hàng này và các vật dụng bên trong được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm cháy. Bình khí a-xê-ty-len được dùng cho mục đích thương mại (không phải phục vụ mục đích sinh hoạt). Do đó vụ nổ bình khí này là một rủi ro loại trừ. Rủi ro này xảy ra trước một rủi ro khác là “cháy” (rủi ro được bảo hiểm) thì công ty bảo hiểm sẽ không chịu trách nhiệm cho bất cứ tổn thất nào gây ra bởi hoả hoạn. Tuy nhiên, nếu vụ nổ bình khí a-xê-ty-len xảy ra sau vụ hoả hoạn nào đó thì công ty bảo hiểm sẽ phải chịu trách nhiệm cho tổn thất cháy trước khi xảy ra vụ nổ.

– Chuỗi các sự kiện gián đoạn

Khi có một chuỗi các sự kiện gián đoạn thì nguyên nhân gần nhất của tổn thất là nguyên nhân xảy ra ngay sau sự gián đoạn cuối cùng. Ví dụ: Người được bảo hiểm tham gia hợp đồng bảo hiểm tai nạn cá nhân. Trong khi đi thuyền qua một con sông, không may anh ta ngã xuống sông. Cùng lúc đó, anh ta bị một cơn đau tim và sau đó đã bị chết đuối. Trong trường hợp này, việc chết đuối là nguyên nhân gần nhất chứ không phải việc đau tim vì có một sự gián đoạn trong chuỗi các sự cố giữa cơn đau tim và việc chết đuối. Công ty bảo hiểm sẽ chịu trách nhiệm thanh toán các quyền lợi mà người này được hưởng theo hợp đồng bảo hiểm tai nạn cá nhân.

Nguyên Tắc Thế Quyền Trong Bảo Hiểm Tài Sản Là Gì?

1. Thế nào là nguyên tắc thế quyền trong mỗi hợp đồng bảo hiểm tài sản?

Nguyên tắc thế quyền trong bảo hiểm tài sản, hay người ta còn gọi là nguyên tắc chuyển quyền đòi bồi thường quyền lợi từ công ty bảo hiểm. Đây là sự mở rộng và hệ quả từ nguyên tắc bồi thường bảo hiểm. Với nguyên tắc này, người mua bảo hiểm được phép yêu cầu bồi thường số tiền từ bên thứ 3 (người gây ra tổn thất). Nguyên tắc này cũng có giá trị pháp lý, cho phép phía doanh nghiệp/công ty bảo hiểm yêu cầu người gây ra tổn thất trả lại số tiền tương ứng.

Công ty bảo hiểm cung cấp sản phẩm bảo hiểm tài sản sau khi thực hiện bồi thường cho người được bảo hiểm, có thể thay mặt người được bảo hiểm đứng ra khiếu nại bên thứ 3 bồi thường lại những tổn thất dọ người đó gây ra. Và người được bảo hiểm có trách nhiệm uỷ quyền, cũng như cung cấp các chứng từ cần thiết như: hoá đơn, thư từ, biên bản, bằng chứng… cho phía doanh nghiệp/công ty bảo hiểm để tiến hành khiếu nại.

Như vậy, nguyên tắc thế quyền mang đến sự đảm bảo quyền lợi cho cả bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp/công ty bảo hiểm.

Ví dụ: Xe ô tô của chủ sở hữu hợp đồng bảo hiểm bị bên thứ 3 đâm va thì người được bảo hiểm sẽ nhận bồi tường từ công ty bảo hiểm. Sau đó, công ty bảo hiểm sẽ đứng ra đòi tiền bồi thường bảo hiểm từ bên thứ 3.

2. Cơ sở hình thành nguyên tắc phân quyền

Pháp luật Việt Nam cho phép công ty bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm áp dụng nguyên tắc này nhằm tránh việc kiếm lời bất hợp pháp trong việc kinh doanh bảo hiểm. Theo đó, trong Luật Dân sự (2005) của nước ta cũng đã có quy định cụ thể về việc chuyển quyền như sau:

Thứ nhất, nếu bên thứ 3 (bên gây ra tổn thất) có lỗi, gây thiệt hại cho bên mua bảo hiểm, và công ty bảo hiểm đã bồi thường cho người được bảo hiểm thì có quyền yêu cầu bên thứ 3 thanh toán lại khoản bồi thường đó. Lúc này, bên được bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ các bằng chứng, tài liệu đang có để công ty bảo hiểm yêu cầu chi trả từ bên thứ 3.

Thứ hai, nếu bên được bảo hiểm được bên thứ ba bồi thường thiệt hại trực tiếp, nhưng số tiền bồi thường ít hơn số tiền mà bên công ty bảo hiểm phải trả, thì công ty bảo hiểm chỉ cần bồi thường khoản tiền chênh lệch giữa số tiền bên thứ 3 trả so với số tiền bảo hiểm, trừ khi có những thoả thuận khác. Lúc này, bên bảo hiểm có quyền yêu cầu bên thứ 3 trả lại số tiền chênh lệch đã bồi thường cho bên được bảo hiểm.

Thứ 3, nếu bên bảo hiểm đã được công ty bảo hiểm bồi thường nhưng số tiền ít hơn so với thiệt hại bên thứ 3 gây ra, thì bên được bảo hiểm có quyền yêu cầu bồi thường phần chênh lệch giữa tiền bồi thường thiệt hại so với số tiền bảo hiểm từ bên thứ 3.

Từ đó, có thể đưa ra cở sở của nguyên tắc thế quyền như sau:

+ Khoản tiền bảo hiểm bồi thường cho bên mua bảo hiểm không vượt quá tổn thất trên thực tế của họ.

+ Công ty bảo hiểm yêu cầu tiền bảo hiểm từ bên thứ 3 không được vượt quá khoản tiền bồi thường đã trả cho bên mua bảo hiểm.

+ Nguyên tắc này có thể thực hiện trước hoặc sau khi bồi thường tổn thất đều được.

+ Người được bảo hiểm cần cung cấp biên bản, thư từ, giấy tờ, hoá đơn cho công ty bảo hiểm để thực hiện nguyên tắc này.

+ Nếu bên thứ 3 không được yêu cầu phải bồi thường thì người gây ra tổn thất sẽ không phải chịu trách nhiệm về những tổn thất do họ gây ra. Điều này không công bằng nên quyền đòi bồi thường phải được chuyển cho công ty bảo hiểm để đảm bảo tính công bằng.

3. Điều kiện thực hiện nguyên tắc thế quyền

+ Bên thứ 3 là người gây ra tổn thất và phải chịu trách nhiệm bồi thường.

+ Rủi ro, tổn thất mà người được bảo hiểm phải chịu thuộc phạm vi sự kiện bảo hiểm theo quy định ở hợp đồng bảo hiểm.

+ Doanh nghiệp/công ty bảo hiểm đã thực hiện bồi thường bảo hiểm cho người được bảo hiểm.

+ Nguyên tắc thế quyền chỉ áp dụng cho bảo hiểm tài sản.

4. Tác dụng của nguyên tắc thế quyền

+ Đối với bên mua bảo hiểm tài sản: Người được bảo hiểm sẽ không nhận bồi thường 2 lần từ bên thứ 3 và công ty bảo hiểm với cùng một tổn thất.

+ Đối với doanh nghiệp/công ty bảo hiểm: Hỗ trợ công ty bảo hiểm bù đắp lại phần tài chính mà công ty đã thực hiện bồi thường khi người được bảo hiểm xảy ra tổn thất.

5. Minh hoạ nguyên tắc thế quyền khi tham gia bảo hiểm tài sản

Minh hoạ 1:

Anh A (bên mua bảo hiểm) nhận hàng hoá ở cảng (bên thứ 3) nhận hàng hoá nhưng bị thiết hụt, hư hỏng và đổ vỡ. Như vậy, anh A phải nhanh chóng lập biên bản liệt kê các tổn thất rồi báo cho doanh nghiệp/công ty bảo hiểm mà anh A đã tham gia bảo hiểm tài sản. Biên bản bao gồm các tổn thất:

+ Tổn thất rõ rệt: là các tổn thất nhìn thấy được. Thông báo tổn thất phải được thực hiện bằng biên bản dỡ hàng, được lập bởi cảng và người nhận hàng.

+ Tổn thất không rõ rệt: là các tổn thất chưa thể phát hiện trong thời điểm nhận hàng. Thông báo tổn thất phải được thực hiện trong vòng 3 ngày, tính từ ngày giao hàng; hoặc 15 ngày liên tục tính từ ngày giao hàng. Và thông báo này sẽ gửi đến người chuyên chở.

Theo nguyên tắc bồi thường bảo hiểm, công ty bảo hiểm không được đòi bồi thường từ bên thứ 3 một khoản tiền vượt quá số tiền đã bồi thường cho bên mua bảo hiểm. Các chi phí phát sinh trong quá trình đòi bồi thường từ bên thứ 3 thì doanh nghiệp/công ty bảo hiểm tự chi trả.

Minh hoạ 2

Một chiếc ô tô 5 chỗ bị container đâm va nên phải sửa chữa, cải tạo như trước lúc xảy ra tai nạn. Lúc này, công ty bảo hiểm bồi thường cho chủ sở hữu ô tô với số tiền là 55 triệu đồng. Trong đó, lỗi xe container là 70%, lỗi ô tô là 30%.

Dựa trên nguyên tắc thế quyền, doanh nghiệp/công ty bảo hiểm đã hoàn thành nghĩa vụ bồi thường giá trị tổn thất cho bên mua bảo hiểm theo cam kết. Sau khi nhận bồi thường, chủ ô tô phải bảo lưu quyền yêu cầu bồi thường của xe container cho doanh nghiệp/công ty bảo hiểm.

Như vậy, có thể thấy rõ mối quan hệ mật thiết giữa nguyên tắc bồi thường và thế quyền. Công ty bảo hiểm chỉ thực hiện thế quyền tương đương với số tiền cần bồi thường, và không được phép yêu cầu bên thứ 3 trả nhiều hơn số tiền mà công ty bảo hiểm đã bồi thường. Điều này sẽ đảm bảo tính công bằng tối ưu trong việc tham gia bảo hiểm tài sản.

Quán Triệt Nguyên Tắc “Bảo Đảm Lợi Ích Tối Cao Của Quốc Gia

Quán triệt nguyên tắc “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia – dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, cùng có lợi” trong quan hệ đối ngoại thời kỳ hội nhập quốc tế

Lợi ích quốc gia – dân tộc là vấn đề có nội hàm rộng, bao hàm trong đó tất cả những gì tạo thành điều kiện cần thiết cho sự trường tồn của cộng đồng với tư cách quốc gia – dân tộc có chủ quyền, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời, thể hiện sự phát triển đi lên về mọi mặt của quốc gia dân tộc theo hướng làm cho đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng ngày càng phong phú, tốt đẹp hơn; cho sự nâng cao không ngừng sức mạnh tổng hợp, năng lực cạnh tranh quốc gia trên trường quốc tế, vị trí, vai trò, uy tín quốc tế của quốc gia, dân tộc. Các dân tộc trên thế giới đều coi lợi ích quốc gia – dân tộc căn bản nhất là Tổ quốc độc lập, thống nhất, giàu mạnh, lãnh thổ toàn vẹn (bao gồm vùng đất, vùng trời, vùng biển, hải đảo, thềm lục địa), nhân dân làm chủ đối với Tổ quốc mình. Lợi ích quốc gia – dân tộc chính đáng trong thế giới văn minh thường được xác định trong luật pháp quốc gia và phù hợp với luật pháp, thông lệ quốc tế, được công luận đồng tình. Tuy nhiên, trên thực tế, không phải tất cả những gì mà các chính phủ tuyên bố là “lợi ích quốc gia” đều là “lợi ích dân tộc” chính đáng. Cá biệt có không ít trường hợp giới cầm quyền ở một số nước sẵn sàng từ bỏ lợi ích dân tộc cơ bản để phục vụ lợi ích giai cấp, lợi ích phe nhóm. Điển hình như: Năm 1870, thủ đô Paris của nước Pháp bị quân Phổ bao vây. Lúc đó lợi ích quốc gia đòi hỏi giới cầm quyền tập trung mọi lực lượng của dân tộc để tổ chức kháng chiến, nhưng chính phủ Chie của giai cấp tư sản, vốn tự xưng là “chính phủ quốc phòng”, đã không làm thế. Tác phẩm “Nội chiến ở Pháp”, C.Mác viết: “Trong khi phải chọn giữa hai điều: nghĩa vụ dân tộc và lợi ích giai cấp thì chính phủ quốc phòng đã không hề do dự một phút nào mà biến ngay thành một chính phủ phản quốc”1.

Ở Việt Nam, vấn đề lợi ích quốc gia – dân tộc đã được dân tộc ta khẳng định từ rất sớm. Dưới thời chế độ phong kiến, lợi ích cốt lõi của quốc gia – dân tộc là độc lập dân tộc và chủ quyền lãnh thổ. Khi đất nước được trị vì bởi các vị vua sáng, tôi hiền, danh tướng lỗi lạc, như: Ngô Quyền, Lê Đại Hành, Lý Thái Tổ, Lê Thánh Tông, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi… lợi ích của giới cầm quyền và lợi ích dân tộc được kết hợp hài hòa, nên khi quốc gia hữu sự đã huy động được sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc nhất tề khởi nghĩa đánh bại mọi cuộc chiến tranh xâm lược của ngoại bang, bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc. Những bài thơ bất hủ: Nam quốc sơn hà, Bình Ngô đại cáo được xem như là “Bản Tuyên ngôn độc lập” và những chiến công hiển hách: Trận tuyến sông Như Nguyệt, Bạch Đằng, Chi Lăng… đã minh chứng cho bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần quyết chiến, quyết thắng của dân tộc Việt Nam bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc. Tuy nhiên, vào nửa cuối thế kỷ XVIII, trong bối cảnh chế độ phong kiến suy tàn, giới vua, chúa triều đình phong kiến hoặc bất lực không bảo vệ được lợi ích quốc gia – dân tộc, hoặc vì quyền lợi riêng mà bán rẻ lợi ích dân tộc. Trong cuộc giao tranh với Tây Sơn, để cầu xin viện trợ của thực dân Pháp, Nguyễn Ánh đã đem lợi ích của Đại Việt ra thương thảo với Pháp quốc (Hiệp ước 1787), nhường cho Pháp cửa Hội An, đảo Côn Lôn độc quyền buôn bán. Đây là bước mở đầu cho thời kỳ thực dân Pháp xâm lược nước ta. Trong thời đại Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, lợi ích giai cấp được quy tụ thống nhất, nhằm thực hiện mục tiêu xuyên suốt là Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc. Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản”.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 30, tháng 8/2018. Ảnh: baoquocte.vn

Lợi ích cốt lõi quốc gia – dân tộc Việt Nam hiện nay là Độc lập dân tộc, chủ quyền lãnh thổ và chế độ xã hội (xã hội chủ nghĩa); xây dựng nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, góp phần tích cực vào xây dựng một thế giới hòa bình, độc lập, tự do và phát triển bền vững. Điều đó được thể hiện rõ nét thông qua sự kế thừa, phát triển sáng tạo, liên tục bổ sung, hoàn chỉnh đường lối đối ngoại của Đảng. Nổi bật hơn cả là, từ khi Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Hội nghị Trung ương 3 khóa VII (tháng 6/1992) khẳng định, mục tiêu “hòa bình và phát triển” trở thành chuẩn mực trong hoạt động quốc tế của Việt Nam, phục vụ cho lợi ích cao nhất của quốc gia – dân tộc là “nhanh chóng ra khỏi khủng hoảng, giữ vững, tăng cường ổn định chính trị, phát triển kinh tế – xã hội, làm cho dân giàu, nước mạnh, bảo vệ vững chắc độc lập và tự do của Tổ quốc”2. Trên tinh thần đó, “công tác đối ngoại phải phục vụ lợi ích đó của dân tộc… coi lợi ích dân tộc là cao nhất và thiêng liêng nhất”3. Tiếp đó, Hội nghị Trung ương 8 khóa IX (tháng 7/2003) Đảng ta chỉ rõ: “Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, lấy việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế – xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa là lợi ích cao nhất của Tổ quốc”4. Đại hội XI của Đảng (năm 2011) xác định, mục tiêu của đối ngoại Việt Nam trong thời kỳ mới là “vì lợi ích quốc gia, dân tộc” và “vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh”5.

Kế thừa, phát triển đường lối đối ngoại của các kỳ đại hội trước và quan điểm đối ngoại trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Nghị quyết Đại hội XII của Đảng một lần nữa khẳng định: “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia – dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, cùng có lợi”. Điều này đã thể hiện tầm nhìn xa, trông rộng của Đảng trong hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại; phản ánh tư duy lô-gíc, khoa học về giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích quốc gia – dân tộc Việt Nam với các quốc gia trên thế giới trong tiến trình hội nhập quốc tế. Đồng thời, khẳng định sự kiên định nguyên tắc cao nhất “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong các hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước và ngoại giao nhân dân: lấy lợi ích cốt lõi quốc gia – dân tộc là Độc lập dân tộc, chủ quyền lãnh thổ và chế độ xã hội (xã hội chủ nghĩa) – “bất biến”, làm cơ sở gốc, kim chỉ Nam để ứng xử một cách có nguyên tắc nhưng rất linh hoạt – “vạn biến” khi quan hệ đối ngoại thời kỳ hội nhập quốc tế.

1. “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia – dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, cùng có lợi” trong quan hệ đối ngoại thời kỳ hội nhập quốc tế – cơ sở quan trọng thực hiện thắng lợi bài học “phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Tiến trình phát triển của mỗi quốc gia dân tộc luôn có sự gắn kết chặt chẽ với những nhân tố quốc tế. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam là thắng lợi của sự kết hợp thành công nhân tố dân tộc với nhân tố thời đại, sức mạnh quốc gia với sức mạnh quốc tế. Trong cách mạng giải phóng dân tộc, Việt Nam đã phát huy tối đa sức mạnh quốc tế, sức mạnh thời đại kết hợp một cách vô cùng hiệu quả với sức mạnh dân tộc, làm thay đổi tương quan lực lượng ngày càng có lợi trong chiến đấu và chiến thắng thực dân, đế quốc, các thế lực phản động, làm nên một trong những bản hùng ca đẹp nhất của loài người tiến bộ trong thế kỷ XX. Sau gần 35 năm đổi mới, một lần nữa bài học kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại lại để lại dấu ấn đặc sắc qua các kết quả, thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; trong đó, tư duy mới về đường lối đối ngoại của Đảng là một nguyên nhân quan trọng làm nên kết quả đó. Từ chỗ bị bao vây, cấm vận ngặt nghèo, đến nay, nước ta là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế: Có quan hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, thiết lập quan hệ đối tác với 16 quốc gia, quan hệ đối tác toàn diện với 14 quốc gia; là nước duy nhất trong ASEAN đã thiết lập khuôn khổ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 5 nước thành viên thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, với toàn bộ các nước trong nhóm phát triển (G7), với 17/20 nước và tổ chức trong Nhóm các nền kinh tế mới nổi và phát triển hàng đầu thế giới (G20). Đồng thời, tham gia vào 70 tổ chức quốc tế và khu vực, ký trên 40 hiệp định thương mại song phương; có quan hệ kinh tế – thương mại với trên 220/255 quốc gia và vùng lãnh thổ; kim ngạch ngoại thương nhiều năm qua đạt từ 150 – 200% quy mô GDP, thu hút 270 tỷ USD đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và gần 90 tỷ USD viện trợ phát triển chính thức (ODA) được cam kết. Nhờ có đường lối đối ngoại đúng đắn, đến nay, nước ta đã tham gia hầu hết các thiết chế liên kết khu vực và toàn cầu, như: AFTA, APEC, ASEM, TPP, WTO…; đảm nhiệm ngày càng nhiều chức trách trong ASEAN, Liên hợp quốc và một số tổ chức quốc tế khác. Những kết quả, thành tựu đó đã đem lại cho đất nước môi trường quốc tế hòa bình, hữu nghị và các điều kiện thuận lợi kết hợp với các nguồn lực nội sinh trong nước, tạo nên sức mạnh tổng hợp để làm nên những thành tựu chung của công cuộc đổi mới. Nhờ đó, chế độ xã hội trụ vững trước các thách thức lịch sử thời kỳ hậu Xô viết; đất nước khắc phục được khủng hoảng và ra khỏi tình trạng kém phát triển; kinh tế tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực; xã hội ổn định, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt; hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường; quốc phòng và an ninh được giữ vững; vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao, “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”. Đó là cơ sở vững chắc tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục vững bước phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa.

2. “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia – dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, cùng có lợi” trong quan hệ đối ngoại thời kỳ hội nhập quốc tế – sự cụ thể hóa tư duy mới của Đảng về đối tác, đối tượng trong tình hình mới.

Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế là xu hướng thời đại hiện nay. Nếu đứng ngoài xu thế đó, đất nước không thể phát triển và khó bảo vệ được vững chắc. Tuy nhiên, tham gia vào tiến trình hội nhập quốc tế, bên cạnh những mặt tích cực là chủ yếu, cũng có những mặt tiêu cực. Vì vậy, để hội nhập quốc tế đạt được hiệu quả, đòi hỏi chúng ta phải có chiến lược, kế hoạch tổng thể, xác định nội dung, lộ trình phù hợp; trong đó, nhận thức về đối tác, đối tượng là vấn đề rất quan trọng. Bởi, chỉ có nhận thức đúng về đối tác, đối tượng, chúng ta mới xác định đúng giải pháp, phương châm chỉ đạo đối với các vấn đề về đối ngoại, đối nội, các tình huống phức tạp, nhạy cảm một cách hiệu quả trong quá trình hội nhập. Thực tế cho thấy, trước đây, nhất là trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, quan điểm về đối tác, đối tượng (bạn, thù) của cách mạng Việt Nam chỉ rõ ai là bạn, ai là thù, nhưng hiện nay, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, quan hệ quốc tế có những phát triển mới, tư duy về đối tác, đối tượng đã được Đảng ta phát triển theo hướng biện chứng, linh hoạt. Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” xác định: Những ai tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; bất kỳ thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của chúng ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng.

Quán triệt và thực hiện nguyên tắc “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia – dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, cùng có lợi” không chỉ giúp ta có nhận thức đúng đối tác, đối tượng theo nguyên tắc, tiêu chí quy định, mà quan trọng hơn là để ta vận dụng đúng đắn quan điểm về đối tác, đối tượng vào thực tiễn quan hệ đối ngoại trong từng thời điểm, giai đoạn của cách mạng. Đồng thời, thấy rõ tính biện chứng, sự tồn tại đan xen và chuyển hóa lẫn nhau rất linh hoạt giữa đối tác và đối tượng trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế hiện nay. Trên cơ sở đó, có chủ trương, biện pháp tranh thủ mặt tích cực của đối tượng, hạn chế mặt tiêu cực của đối tác, phục vụ cho lợi ích quốc gia – dân tộc, theo phương châm: “… Trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác; trong mỗi đối tác có thể có mặt mâu thuẫn với lợi ích của ta cần phải đấu tranh”. Đây là định hướng rất quan trọng để các cấp, ngành, lĩnh vực xử lý các vấn đề, các tình huống trong quan hệ hợp tác quốc tế một cách đúng đắn, linh hoạt, sáng tạo, tích cực, chủ động vừa hợp tác, vừa đấu tranh với từng đối tác, đối tượng trong từng thời điểm cụ thể một cách có hiệu quả. Qua đó, tăng mặt đồng thuận, giảm thiểu bất đồng trong quan hệ quốc tế – “thêm bạn, bớt thù”, nhằm mục tiêu vì lợi ích quốc gia – dân tộc, đưa nước ta không ngừng phát triển, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, góp phần giữ vững hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới để xây dựng, phát triển đất nước.

3. “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia – dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, cùng có lợi” trong quan hệ đối ngoại thời kỳ hội nhập quốc tế – nền tảng bảo đảm hòa bình, an ninh và ổn định phục vụ phát triển bền vững.

Hiện nay, không chỉ ở Việt Nam mà tất cả các nước trên thế giới đều coi trọng lợi ích quốc gia – dân tộc khi thực thi chính sách đối ngoại. Tuy nhiên, do mục tiêu phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc khác nhau, nên lợi ích quốc gia – dân tộc của mỗi nước cũng không hoàn toàn giống nhau. Vì vậy, để có môi trường hòa bình, an ninh và ổn định phục vụ phát triển bền vững cho mỗi quốc gia, dân tộc và thế giới, vấn đề cốt lõi đặt ra cần phải tìm cho được “một chữ đồng”. Chữ “đồng” ở đây chính là sự tôn trọng luật pháp quốc tế – các nguyên tắc và quy phạm pháp luật được các quốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế thỏa thuận tạo dựng nên, trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, nhằm điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa quốc gia và các chủ thể đó trong mọi lĩnh vực của đời sống quốc tế. Đó là các nguyên tắc và quy phạm áp dụng chung mà không có sự phân biệt về tính chất, hình thức hay vị thế của từng quốc gia khi thiết lập quan hệ quốc tế giữa những chủ thể này với nhau. Hiểu một cách khác, trong hội nhập và mở rộng quan hệ quốc tế, mọi quốc gia, tổ chức, cá nhân bên cạnh việc không được xem nhẹ lợi ích của quốc gia – dân tộc, đặt lợi ích quốc gia – dân tộc mình lên trên hết, trước hết, thì cũng cần phải chấp hành nghiêm thông lệ quốc tế, các nguyên tắc, định chế của các tổ chức quốc tế trong quan hệ đối ngoại; tránh những tư tưởng, hành động vì lợi ích cục bộ, dân tộc chủ nghĩa, dân tộc cực đoan bất chấp luật pháp quốc tế.

Bạn bè quốc tế chúc mừng Phái đoàn Việt Nam tại LHQ sau khi Việt Nam trúng cử làm Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc với số phiếu gần như tuyệt đối (192/193). Ảnh: TTXVN

Đối với Việt Nam, luôn xác định rõ hơn vị trí của mình trong phân công lao động quốc tế, cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị, chuỗi sản xuất và cung ứng khu vực và toàn cầu. Đường lối, chính sách và mục tiêu trước sau như một của chúng ta luôn luôn phù hợp với xu thế lớn của thế giới; lợi ích quốc gia – dân tộc của chúng ta góp phần bảo đảm môi trường quốc tế thuận lợi để cùng phát triển. Thực tiễn cho thấy, trên cơ sở nhất quán đường lối đối ngoại “độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi”6, Việt Nam luôn nghiêm chỉnh tuân thủ các cam kết quốc tế mà mình tham gia, tận dụng hiệu quả các quy tắc, luật lệ quốc tế và tham gia các hoạt động của cộng đồng, khu vực và quốc tế. Đồng thời, chủ động tích cực đề xuất sáng kiến xây dựng, định hình các thể chế đa phương trên nguyên tắc cùng có lợi, với phương châm chuyển mạnh từ “tham dự” sang “chủ động tham gia”; là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, nhất là vào quá trình xây dựng và định hình các quy tắc, cơ chế hợp tác và những luật lệ mới, củng cố và nâng cao vai trò trong cộng đồng khu vực và quốc tế, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Việt Nam luôn đặt dân tộc mình vào dòng chảy của thời đại, nêu cao đại nghĩa của dân tộc, tranh thủ thiện cảm của nhân loại tiến bộ, nâng cao cả thực lực và vị thế của đất nước một cách bền vững nhất.

4. “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia – dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, cùng có lợi” trong quan hệ đối ngoại thời kỳ hội nhập quốc tế là phải kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn làm phương hại đến lợi ích quốc gia – dân tộc Việt Nam.

Các thế lực thù địch hiện đang triệt để lợi dụng xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế để chống phá cách mạng nước ta bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ. Do vậy, cùng với thực hiện đồng bộ những biện pháp bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với hoạt động đối ngoại; phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân; giữa kinh tế, đối ngoại và quốc phòng, an ninh… chúng ta phải kiên quyết đấu tranh với những âm mưu và hành động xâm hại đến lợi ích hợp pháp của dân tộc ta; kích động, chia rẽ Việt Nam với cộng đồng quốc tế, khu vực; tư tưởng cực đoan, dân tộc chủ nghĩa, “cá lớn nuốt cá bé”, v.v. Trong đó, chú trọng đấu tranh bảo vệ lợi ích trực tiếp thông qua luật pháp quốc tế, định chế trong các tổ chức quốc tế, khu vực mà nước ta tham gia và ký kết hợp tác. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giải quyết những bất đồng, tranh chấp bằng giải pháp hòa bình, trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế; nâng cao vị thế, uy tín của đất nước trên trường quốc tế; bảo vệ toàn vẹn lợi ích quốc gia – dân tộc, góp phần bảo vệ lợi ích của cộng đồng quốc tế trên các lĩnh vực.

Tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược, tham mưu về đối ngoại; đổi mới nội dung, phương pháp nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền đối ngoại, bảo hộ công dân và công tác về người Việt Nam ở nước ngoài. Chú trọng chăm lo đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại; bồi dưỡng kiến thức đối ngoại cho cán bộ chủ chốt các cấp. Tập trung nâng cao hiệu quả phối hợp giữa bộ, ban, ngành, địa phương. Đồng thời, phê phán và khắc phục kịp thời những biểu hiện chỉ thấy lợi ích trước mắt, không thấy lợi ích lâu dài, chỉ coi trọng lợi ích kinh tế, không thấy lợi ích chính trị, quốc phòng, an ninh trong quan hệ đối ngoại thời kỳ hội nhập quốc tế.

Việt Nam đang bước vào thời kỳ mới với thế và lực mới đã lớn mạnh hơn nhiều, cơ hội rất lớn, song thách thức cũng không nhỏ. Chúng ta tin tưởng rằng, với kinh nghiệm hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng của Đảng và đường lối đối ngoại đúng đắn “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia – dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, cùng có lợi” trong tình hình mới, sức mạnh Việt Nam sẽ tiếp tục được tỏa sáng trên trường quốc tế. Đây sẽ là cơ sở vững chắc cho phát huy sức sáng tạo, ý chí và khát vọng phát triển, sức mạnh toàn dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa kết hợp với sức mạnh thời đại để đẩy mạnh phát triển đất nước nhanh và bền vững, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, sớm đưa nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần to lớn thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh,  Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Theo Tạp chí Quốc phòng toàn dân Tâm Trang (st)

1. C.Mác và Ph.Ăng-ghen – Toàn tập, Tập 17, Nxb CTQG, H. 1994, tr. 422.2. Đổi mới về đối ngoại và hội nhập quốc tế, Nxb CTQG, H. 2009, tr. 65.3. Tạp chí Cộng sản, Tháng 12/1992, tr. 12.4. Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương – Tài liệu học tập Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX, Nxb CTQG, H. 2003, tr. 46 – 47.5. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 236.6. ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. CTQG, H. 2016, tr. 313.