Top 13 # X Là Một Tetrapeptit Cấu Tạo Từ Một / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Cấu Tạo Một Từ Tiếng Hàn Quốc / 2023

Với bài viết Bảng chữ cái Hàn Quốc, chúng ta đã biết được rằng: hiện nay, trong hệ thống bảng chữ  Hangul có tất cả 40 chữ cái, với 21 nguyên âm và 19 phụ âm. Trong đó có 24 chữ cơ bản và 16 chữ được ghép từ các chữ cơ bản tạo thành.

Vậy thì hôm nay chúng ta đã có các nguyên liệu để tạo thành một từ trong tiếng Hàn rồi. Cũng giống như tiếng Việt, tiếng Hàn là loại ngôn ngữ ghép.

Trong một từ tiếng Hàn gồm 3 bộ phận:

phụ âm (có thể có hoặc không) + nguyên âm (bắt buộc) + phụ âm cuối hay còn gọi là patchim 받침 (có thể có hoặc không)

Trước khi bắt đầu, Trang muốn bắt đầu với một bảng phụ âm cuối mà trong bài viết trước của Trang chưa đề cập đến. Trong cấu tạo của một từ tiếng Hàn, các bạn sẽ thấy có một phụ âm cuối mà người ta gọi là patchim 받침. Patchim có là 2 loại gồm phụ âm cuối đơn và phụ âm cuối kép.

Với phụ âm cuối đơn ta sẽ có như sau:

ㄱ, ㅋ, ㄲ → [k]

ㄴ → [n]

ㄷ,ㅅ,ㅈ,ㅊ,ㅌ,ㅎ,ㅆ → [t]

ㄹ → [t]

ㅁ → [l]

ㅂ,ㅍ → [p]

ㅇ → [ng]

Với phụ âm cuối kép ta lại có chia làm 2 loại phát âm để phân chia:

Phát âm theo âm trước gồm: ㄵ, ㄶ, ㄼ, ㅄ

앉다 [안따] (động từ “ngồi”), 많다 [만타] (tính từ: “nhiều”), 없다[업따](động từ: “không có”), 값[갑](danh từ “giá”)

Phát âm theo âm sau: ㄺ, ㄻ

닭[닥](danh từ: “gà”), 밝다[[박다](tính từ: “sáng”), 맑다[말다](tính từ: “trong sáng”), 젊다[점다](tính từ: “trẻ”)

Cấu trúc: nguyên âm đơn

Đây là cấu trúc từ đơn giản nhất. Để có được một từ nguyên âm đơn thì trước nguyên âm chúng ta phải có “ㅇ”.

Ví dụ:

아이: em bé

여우: con cáo

오이: dưa leo, dưa chuột

왜: vì sao, tại sao

이: số 2

우유: sữa

2. Cấu trúc gồm: phụ âm + nguyên âm

Cấu trúc này sẽ gồm một phụ âm và một nguyên âm đơn hoặc kép đi cùng.

Ví dụ:

가 =ㄱ + ㅏ :động từ “đi”

하= ㅎ + ㅏ: động từ “làm”

과 = ㄱ + ㅘ : liên kết từ: “và”

3. Cấu trúc gồm: phụ âm + nguyên âm đơn hoặc kép + phụ âm cuối

Cấu trúc này gần như là cấu trúc đầy đủ của một từ trong tiếng Hàn. Bao gồm một phụ âm đứng đầu, tiếp theo là một nguyên âm đơn hoặc nguyên âm kép và cuối cùng sẽ gồm một phụ âm cuối hay còn được gọi là patchim (받침)

Ví dụ:

강 =ㄱ + ㅏ + ㅇ

공 = ㄱ + ㅗ + ㅇ

광 = ㄱ + ㅘ + ㅇ

4. Cấu trúc gồm: phụ âm + nguyên âm + hai phụ âm kết thúc

 Cấu trúc này khác với cấu trúc 3 ở điểm, phụ âm cuối kết thúc sẽ gồm 2 phụ âm gộp lại để tạo thành 1 phụ âm cuối hoàn chỉnh.

Ví dụ:

없 = ㅇ + ㅓ + ㅂ + ㅅ

많 = ㅁ + ㅏ + ㄴ + ㅎ

Share this:

Twitter

Facebook

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

Van Một Chiều Lò Xo Là Gì? Cấu Tạo Van Nước Một Chiều Lò Xo / 2023

Van một chiều lò xo là thiết bị không thể thiếu trong quá trình phòng cháy và chữa cháy. Nó giúp con người dập tắt đám cháy một cách tối ưu. Hạn chế những nguy hiểm gây ra do hỏa hoạn.

Van một chiều lò xo là gì?

Van một chiều lò xo tương tự như van một chiều lá lật là loại van giúp cho dòng chảy của nước hoặc chất khí chỉ có thể đi theo một hướng nhất định và không cho chúng đi theo hướng ngược lại. Van hoạt động một cách tự động nhờ vào áp suất của dòng nước và chất khí. Không cần kết nối thiết bị điều khiển. Van một chiều lò xo thường được kết nối vào hệ thống ống dẫn.

Các loại van một chiều hiện nay rất đa dạng. Có những loại van được thiết kế từ đồng, gang, inox. Và có những loại van xuất xứ từ Đài Loan, Việt Nam, Malyasia,..

Cấu tạo van nước một chiều lò xo

Van nước một chiều thường được cấu tạo bởi 4 thành phần chính.

Thân van thường được cấu tạo từ gang, inox, nhựa phù hợp với mục đích sử dụng của từng yêu cầu.

Ty van thường thấy là loại được làm từ inox với độ bền cao và không bị gỉ sét.

Lá van là loại đĩa tròn nằm bên trong thân van, có thể làm từ nhiều chất liệu, chống ăn mòn được bọc một lớp cao su EPDM bảo đảm nước, khí không bị lọt qua.

Lò xo nẵm giữa ty van và lá van thân trên van với độ bền cực cao không bi gỉ sét.

Thông số kỹ thuật của van một chiều lò xo

Nguyên lý hoạt động van nước một chiều lò xo

Khi có dòng nước hoặc khí đi qua van một chiều. Dưới tác dụng của áp suất và lực đẩy sẽ đẩy lò xo và ép lá van đến vị trí mơ cho dòng nước đi qua.

Khi dòng nước chảy nguôi lại lò xo sẽ trở về vị trí đóng và ngăn dòng chất lỏng, khí chảy ngược trở về.

Van hoạt động hoàn toàn tự động và kết nối 2 chiều trên mặt bích trên đường ống giúp dễ dang thay thế. Với thiết kế gọn nhẹ giúp van dễ dàng thay thế.

Được thiết kế bằng nhiều chất liệu khác nhau như, đồng, inox, nhựa giúp van phù hợp với nhiều môi trường. Và vận chuyển nhiều loại chất lỏng khác nhau. Cần lưu ý lắp đúng chiều dòng chảy cho van.

Khi lắp đặt van một chiều lò xo cần lưu ý những gì?

Khi lắp đặt cần lắp đặt theo chiều mũi tên được kí hiệu trên thân van

Cần kiểm tra xem khoảng cách từ đầu van đến cuối thân van có vừa với chỗ thay thế hay không

Để tăng độ kín khi lắp đặt có thể thêm đẹm cao su hoặc gioăng cao su vào

tùy vào nhu cầu sử dụng của bạn để lắp đặt van theo phương nằm ngang hoặc phương thẳng đứng.

Gọi ngay 0965 848 555 để được hỗ trợ và tư vấn miễn phí

Tại sao nên dùng van một chiều lò xo?

Với khả năng hoạt động hoàn toàn tự động, dựa trên lực đẩy của dòng chảy. Giúp tiết kiệm điện một cách tối đa.

Với thiết kế nhỏ gọn, van rất dễ dàng để lắp đặt và không tốn diện tích

Van có độ bền cao, an toàn cho người sử dụng. Được làm từ các vật liệu chống gỉ và chống ăn mòn cao.

Với tính năng vượt trội, loại van này luôn được người sử dụng tin tưởng. Loại van này là một trong những loại bán chạy nhất thị trường Việt Nam hiện nay. Cũng chính vì những tính năng vượt trội này mà loại van này trở nên rất phổ biến trên thị trường. Vậy nên mua van một chiều lò xo ở đâu thì uy tín?

Nếu bạn đang muốn chọn một đơn vị cung cấp uy tín, chất lượng mà giá cả lại hợp lý phải chăng thì BAT Group là lựa chọn hàng đầu. Chúng tôi luôn cung cấp cho khách hàng những sản phẩm chính hãng, chất lượng. Các sản phầm đều đảm bảo đầy đủ tem kiểm định, các giấy tờ CO/CQ khi giao đến khách hàng. Đồng thời chúng tôi còn đảm bảo các chính sách bảo hành và hậu mãi cho khách hàng. Đến với BAT Group bạn có thể hoàn toàn yên tâm và trải nghiệm các dịch vụ hàng đầu của chúng tôi. Rất hân hạnh được phục vụ!

Cấu Tạo Của Một Động Cơ Xăng / 2023

Động cơ xăng bao gồm các bộ phận chính và các hệ thống phụ.

Bộ phận chính bao gồm: Thân máy, nắp máy, piston, thanh truyền, trục khuỷu, bánh đà… và cơ cấu phân phối khí.

Các hệ thống phụ gồm: Hệ thống làm trơn, hệ thống làm mát, hệ thống nạp và thải, hệ thống nhiên liệu và hệ thống điện động cơ.

Bộ phận chính có thể chia làm các bộ phận cố định, các bộ phận di động và cơ cấu phân phối khí.

Bộ phận chính

Thân máy và nắp máy.

Các piston và các thanh truyền.

Trục khuỷu và bánh đà.

Cơ cấu phân phối khí.

Các-te chứa nhớt.

Hệ thống phụ

Hệ thống làm trơn.

Hệ thống làm mát.

Hệ thống nạp và thải.

Hệ thống nhiên liệu.

Hệ thống điện động cơ.

Các bộ phận cố định bao gồm: Nắp máy, thân máy, các-te.

Thân máy là thành phần chính của động cơ, nó được chế tạo bằng gang hoặc hợp kim nhôm.

Thân máy có chức năng như một cái khung, nó dùng để bố trí các chi tiết và để giải nhiệt. Thân máy chứa các xy lanh và piston chuyển động lên xuống trong xy lanh.

Thân máy được đậy kín bởi nắp máy, ở giữa chúng có một joint làm kín. Hộp trục khuỷu được bố trí bên dưới thân máy, nó chứa đựng trục khuỷu. Các-te chứa nhớt được kết nối ở bên dưới thân máy. Mạch dầu làm trơn được bố trí bên trong thân máy. Một số động cơ, thân máy còn chứa trục cam, trục cân bằng và một số chi tiết khác.

Thân máy có dạng thẳng hàng hoặc chữ V tuỳ theo cách bố trí xy lanh. Ở động cơ chữ V các xy lanh được bố trí theo hai nhánh hình V nhưng chúng chỉ có một trục khuỷu. Người ta chế tạo động cơ chữ V với mục đích rút ngắn chiều dài thân máy. Số xy lanh ở loại này có thể là 6 hoặc 8 đôi khi có tới 12…

1.1.1/ Ống lót xylanh

Động cơ xăng, xy lanh thường được chế tạo liền với thân máy. Ở động cơ Diesel thường dùng ống lót xy lanh.

Ống lót xy lanh được chế tạo bằng thép cứng và được ép vào thân máy. Có hai loại ống lót xy lanh, đó là ống lót ướt và ống lót khô.

Ống lót ướt được lắp tiếp xúc với nước làm mát. Loại này phải làm kín tốt để ngăn ngừa nước làm mát rò rỉ xuống hộp trục khuỷu. Ống lót ướt rất dễ dàng sửa chữa thay thế.

1.1.2/ Hộp đỡ trục khuỷu

Hộp đỡ trục khuỷu dùng để gá lắp trục khuỷu. Số lượng các ổ trục chính để gá lắp trục khuỷu phụ thuộc vào chiều dài của trục khuỷu và sự bố trí xy lanh.

1.3/ Joint nắp máy

Joint nắp máy được đặt giữa khối xy lanh và nắp máy. Nó dùng để làm kín buồng đốt, làm kín đường nước làm mát và dầu nhớt làm trơn.

Joint nắp máy chịu được nhiệt độ cao và áp suất lớn. Cấu trúc của nó gồm một lớp thép mỏng đặt ở giữa , hai bề mặt của tấm thép được phủ một lớp carbon và một lớp bột chì để ngăn cản được sự kết dính giữa joint với bề mặt khối xy lanh và thân máy. Nó cũng được chế tạo bằng thép, aminian bọc đồng hoặc nhôm…

Nắp máy được bố trí trên thân máy, phần lõm bên dưới nắp máy chính là các buồng đốt của động cơ. Nắp máy chịu áp lực và nhiệt độ cao trong suốt quá trình động cơ hoạt động.

Nó được chế tạo bằng hợp kim gang hoặc bằng hợp kim nhôm. Trong nắp máy có bố trí các dường nước làm mát. Các bu gi, xú pap, trục cam, đường ống nạp, đường ống thải… được bố trí và gá lắp trên nắp máy.

Tuỳ theo sự bố trí các xú pap và số lượng của chúng, buồng đốt trên nắp máy có các dạng cơ bản sau:

1.4.1/ Buồng đốt kiểu hình bán cầu

Loại này có đặc điểm là diện tích bề mặt buồng đốt nhỏ gọn. Trong buồng đốt bố trí một xú pap nạp và một xú pap thải. Hai xú pap này bố trí về hai phía khác nhau. Trục cam bố trí ở giữa nắp máy và dùng cò mổ để điều khiển sự đóng mở của xú pap. Sự bố trí này rất thuận lợi cho việc nạp hỗn hợp khí và thải khí cháy ra ngoài.

1.4.2/ Buồng đốt kiểu hình nêm

Loại này có đặc điểm diện tích bề mặt tiếp xúc nhiệt nhỏ. Buồng đốt mỗi xy lanh được bố trí một xú pap thải và một xú pap nạp, đồng thời hai xú pap bố trí cùng một phía. Đối với loại này trục cam được bố trí ở thân máy hoặc bố trí trên nắp máy. Sự điều khiển sự đóng mở của các xú pap qua trung gian của cò mổ.

Kiểu này mỗi buồng đốt bố trí một xú pap thải và một xú pap nạp. Hai xú pap bố trí lệch cùng một phía và các xú pap đặt thẳng đứng. Kiểu này có khuyết điểm, đường kính đầu xú pap bị hạn chế nên việc nạp và thải kém.

Ngày nay, loại buồng đốt này được sử dụng khá phổ biến, mỗi xy lanh động cơ được bố trí hai xú pap nạp và hai xú pap thải. Bu gi được đặt thẳng đứng và ở giữa buồng đốt giúp cho quá trình cháy được xảy ra tốt hơn. Hai trục cam bố trí trên nắp máy, một trục điều khiển các xú pap nạp và trục cam còn lại điều khiển các xú pap thải.

2/ Các bộ phận di động

Các bộ phận di động bao gồm: Piston, xéc măng, trục piston, thanh truyền, trục khuỷu và bánh đà.

2.1/ Trục khuỷu

Trục khuỷu là chi tiết quan trọng và phức tạp của động cơ. Nó tiếp nhận lực đẩy của thanh truyền và truyền cho bánh đà.

Trục khuỷu làm bằng thép rèn chất lượng cao để đảm bảo được độ cứng vững và mài mòn tốt.

Trục khuỷu được đặt trong các ổ trục chính ở thân máy. Để dễ dàng tháo lắp trục khuỷu, ổ trục chính chia làm hai nửa và được lắp ghép lại với nhau bằng vít.

Đầu trục khuỷu được lắp bánh xích hoặc bánh đai răng để dẫn động cơ cấu phân phối khí. Ngoài ra, nó còn dẫn động bơm trợ lực lái, máy nén hệ thống điều hoà, bơm nước, máy phát điện…

Đuôi trục khuỷu có mặt bích để lắp bánh đà và để đỡ đầu trục sơ cấp hộp số.

Các cổ trục chính và chốt khuỷu được gia công rất chính xác và có độ bóng cao. Dầu nhờn từ thân máy được dẫn tới các ổ trục chính để bôi trơn các cổ trục và các bạc lót.

Chốt khuỷu dùng để gá lắp đầu to thanh truyền. Ở động cơ chữ V, trên cùng một chốt khuỷu được gá lắp hai thanh truyền. Dầu nhờn bôi trơn chốt khuỷu được dẫn từ cổ trục chính qua đường ống.

Đối trọng dùng để cân bằng lực quán tính và mô men quán tính.

Trong quá trình làm việc trục khuỷu sinh ra dao động xoắn. Tần số dao động xoắn là 5 lần/s. Khi tăng tốc và có tải, tần số dao động từ 25 đến 30 lần trong một giây. Để giảm dao động xoắn, ở đầu trục khuỷu người ta lắp bộ giảm chấn. Bộ giảm chấn thường là pu li dẫn động các hệ thống bên ngoài.

Bạc lót chính dùng để đỡ cổ trục chính của trục khuỷu. Các bạc lót chính được chia làm hai nửa hình tròn bao xung quanh cổ trục chính.

Nửa phía trên của bạc lót có một hoặc nhiều lỗ dầu dùng để dẫn nhớt từ thân máy đến cổ trục. Nó được gá lắp vào nửa ổ trục trên thân máy.

Nửa phía dưới được lắp vào nắp của bợ trục. Thông thường nửa bạc lót trên và dưới không th? lắp lẫn với nhau được. Trên mỗi nửa bạc lót có vấu định vị để chống xoay.

Lớp hợp kim chịu ma sát là vật liệu mềm, nó có thể là hợp kim trắng, Kelmet hoặc hợp kim nhôm.

Hợp kim trắng: Vật liệu hợp kim chịu ma sát gồm thiếc, chì, antimon, kẽm và một số loại khác. Loại này chịu ma sát tốt, nhưng độ bền thấp, do đó nó được sử dụng ở động cơ có tải nhỏ.

Hợp kim Kelmet: Loại này trên miếng thép được phủ một lớp đồng và hợp kim chì. Có khả năng chịu áp suất và chịu mỏi lớn hơn loại dùng hợp kim trắng. Nó được sử dụng trong động cơ có số vòng quay cao và tải trọng lớn.

Hợp kim nhôm: Lớp hợp kim chịu ma sát gồm hợp kim nhôm và thiếc. Loại này có khả năng chịu mòn rất cao và truyền nhiệt lớn hơn hợp kim trắng và kelmet. Vì vậy, nó được sử hầu hết trong các loại động cơ xăng.

Các bạc lót thanh truyền giống như bạc lót cổ trục chính về mặt kết cấu. Một nửa miếng bạc lót lắp trên thanh truyền và nửa còn lại lắp trên nắp đầu to thanh truyền.

2.1.3/ Hạn chế chuyển động dọc

Ở một trong các cổ trục chính người ta có lắp một bạc chận để hạn chế chuyển động dọc của trục khuỷu. Bạc chận có thể được chế tạo liền với bạc lót chính hoặc chế tạo rời gồm 4 mảnh. Nó được lắp ráp ở hai đầu của cổ trục chính, trên bạc chận có gia công các rãnh thoát nhớt.

2.1.4/ Khe hở dầu

Trong quá trình làm việc phải đảm bảo có một lớp nhớt mỏng bôi trơn nằm giữa các bạc lót và cổ trục, để trục và bạc lót không ma sát trực tiếp với nhau khi trục khuỷu chuyển động. Do đó, phải tồn tại một khe hở bé giữa cổ trục và bạc lót để hình thành màng dầu làm trơn. Khe hở này được gọi là khe hở dầu. Trị số khe hở tuỳ thuộc vào kiểu động cơ, thông thường nó nằm trong khoảng 0,02 đến 0,06mm.

Dòng dầu nhớt ổn định chảy qua bạc lót, có tác dụng làm trơn, làm mát và cuốn đi các mạt kim loại và chất bẩn ra khỏi bề mặt bạc lót.

2.2/ Thanh truyền

Thanh truyền kết nối giữa trục piston và chốt khuỷu. Nó dùng để biến chuyển động lên xuống của piston thành chuyển động quay tròn của trục khuỷu và ngược lại.

Số lượng thanh truyền sử dụng bằng với số xy lanh của động cơ. Thanh truyền được chia làm 3 phần: Đầu nhỏ thanh truyền kết nối với trục piston, đầu to thanh truyền được chia làm hai nửa được lắp ghép với chốt khuỷu, phần nối giữa đầu nhỏ và đầu to thanh truyền được gọi là thân thanh truyền.

Dầu nhờn từ cổ trục chính đi qua đường ống dẫn trong trục khuỷu đến bôi trơn đầu to thanh truyền, sau đó đi ra hai mép đầu to để bôi trơn xy lanh-piston dưới tác dụng của lực li tâm.

Bánh đà chế tạo bằng gang và được bố trí ở đuôi trục khuỷu. Động cơ sử dụng hộp số tự động, nó là một vành mỏng kết hợp với biến mô thuỷ lực. Khi số xy lanh của động cơ càng cao, khối lượng của bánh đà càng nhỏ.

Bánh đà dùng để ổn định số vòng quay trục khuỷu ở tốc độ bé nhất. Ngoài ra, nó còn dùng để khởi động và truyền công suất đến hệ thống truyền lực.

Đầu piston bao gồm đỉnh piston và vùng chứa xéc măng. Trên đầu piston có lắp các xéc măng để làm kín buồng cháy. Trong quá trình làm việc, một phần nhiệt từ piston truyền qua xéc măng đến xy lanh và ra nước làm mát.

Tình trạng chịu nhiệt của piston là không đều, nhiệt độ của đầu piston cao hơn phần thân rất nhiều nên nó giãn nở nhiều hơn khi làm việc. Do vậy, người ta chế tạo đường kính đầu piston hơi nhỏ hơn phần thân một chút ở nhiệt độ bình thường, dạng này được gọi là dạng côn của piston.

Đuôi piston là phần còn lại của piston, nó dùng để dẫn hướng. Sự mài mòn nhiều nhất của phần thân xảy ra theo phương vuông góc với tâm trục piston.

Thân piston có dạng oval, dường kính theo phương vuông góc với trục piston hơi lớn hơn đường kính theo phương song song với trục piston, để bù lại sự giãn nở nhiệt do phần kim loại bệ trục piston dày hơn các chỗ khác. Khi piston làm việc ở nhiệt độ bình thường thì nó có dạng hình trụ.

Khi piston chịu tác dụng của nhiệt độ, nó sẽ giãn nở làm cho đường kính của piston gia tăng. Do Đó, cần thiết phải có một khe hở để đảm bảo piston chuyển động trong xy lanh khi làm việc. Khe hở này được gọi là khe hở piston. Khe hở này phụ thuộc vào kiểu động cơ, nó nằm trong khoảng 0,02 mm đến 0,12 mm.

2.4.2/ Độ lệnh tâm

Trong quá trình nén, thanh truyền đẩy piston đi lên. Dưới tác dụng của lực ngang, làm cho piston tiếp xúc với xy lanh ở bên phải theo hình vẽ. Ở kỳ nổ, dưới tác dụng của áp suất cháy, lực ngang sinh ra hướng trái làm cho piston thay đổi chiều đột ngột. Nguyên nhân này làm cho piston va đập mạnh vào vách xy lanh sinh ra tiếng gõ.

Ở động cơ piston lệch tâm, khi thanh truyền đẩy piston đi lên ở kỳ nén, dưới tác dụng của lực ngang sẽ làm cho piston tiếp xúc với vách xy lanh ở bên phải.

Các xéc măng được bố trí bên trong các rãnh của piston. Đường kính ngoài của xéc măng hơi lớn hơn đường kính ngoài của piston. Khi lắp cụm piston-xéc măng vào xy lanh, lực đàn hồi của xéc măng sẽ làm cho bề mặt làm việc của xéc măng áp sát vào vách xy lanh. Vật liệu chế tạo xéc măng là vật liệu chống mài mòn cao, nó thường là gang hợp kim hoặc thép hợp kim.

Ở quá trình nạp, piston chuyển động đi xuống, mép dưới của xéc măng làm kín gạt dầu bám vào vách xy lanh mà xéc măng dầu chưa gạt hết. Ở quá trình nén và thải, xéc măng làm kín lướt trên màng dầu sao cho dầu không đẩy vào buồng đốt. Ở quá trình cháy, xéc măng làm kín làm kín hoàn toàn buồng đốt.

Xéc măng lắp vào xy lanh phải tồn tại khe hở miệng. Khe hở này phải nhỏ để đảm bảo làm kín khi nhiệt độ động cơ đạt bình thường. Khe hở miệng của xéc măng nằm trong khoảng 0,2 đến 0,5mm.

2.6/ Trục Piston

Trục piston kết nối piston với đầu nhỏ thanh truyền. Nó dùng để truyền chuyển động từ piston đến thanh truyền và ngược lại. Có hai kiểu lắp ghép trục piston.

Cố định trục piston trong đầu nhỏ thanh truyền bằng cách ghép độ dôi hoặc dùng bu lông.

Kiểu ghép thứ hai: trục piston xoay được trong lỗ trục piston và đầu nhỏ thanh truyền. Đối với loại này phải hạn chế chuyển động dọc của trục piston bằng cách dùng khoen chận ở hai đầu trục.

Một Số Mô Hình Cấu Tạo Từ Ghép Chính Phụ Trong Tiếng Việt / 2023

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN

HOÀNG THỦY TIÊN

MỘT SỐ MÔ HÌNH CẤU TẠO TỪ GHÉP CHÍNH PHỤ TRONG TIẾNG VIỆT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. LÊ THỊ LAN ANH

HÀ NỘI – 2015

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN

HOÀNG THỦY TIÊN

MỘT SỐ MÔ HÌNH CẤU TẠO TỪ GHÉP CHÍNH PHỤ TRONG TIẾNG VIỆT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. ĐỖ THỊ THU HƢƠNG

HÀ NỘI – 2015

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN ……………………………………………………………………………………… 4 LỜI CAM ĐOAN ………………………………………………………………………………… 5 MỞ ĐẦU …………………………………………………………………………………………….. 6 1. Lý do chọn đề tài ………………………………………………………………………………. 6 2. Lịch sử vấn đề ………………………………………………………………………………….. 7 3. Nhiệm vụ nghiên cứu ………………………………………………………………………… 7 4. Phạm vi nghiên cứu …………………………………………………………………………… 7 5. Mục đích nghiên cứu …………………………………………………………………………. 7 6. Phƣơng pháp nghiên cứu ……………………………………………………………………. 7 7. Đóng góp …………………………………………………………………………………………. 8 8. Cấu trúc khóa luận ……………………………………………………………………………. 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ……………………………………………………………. 9 1.1. Định nghĩa từ Tiếng Việt ………………………………………………………………… 9 1.1.1. Từ Tiếng Việt trùng với âm tiết (hay tiếng) ………………………………… 9 1.1.2. Từ tiếng Việt không hoàn toàn trùng âm tiết………………………………. 9 1.2. Đặc điểm từ tiếng Việt ………………………………………………………………….. 10 1.3. Đặc điểm cấu tạo từ tiếng Việt …………………………………………………… 6 1.3.1. Đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt …………………………………………………….. 6 1.3.2. Phương thức cấu tạo từ tiếng Việt ……………………………………………. 9 1.3.3. Các kiểu cấu tạo từ tiếng Việt ………………………………………………… 10 1.4. Phân biệt từ ghép với cụm từ tự do …………………………………………………. 21

1.4.1. Dựa vào đặc điểm nghĩa và mối quan hệ giữa các yếu tố………………… 21 1.5. Các tiêu chí xác định các kiểu cấu tạo từ trong tiếng Việt …………………. 23 1.5.1. Cấu tạo theo một phƣơng thức nhất định và mang một ý nghĩa nhất định …………………………………………………………………………………………… 23 1.5.2. Hiện tƣợng chuyển di kiểu cấu tạo từ trong tiếng Việt ……………………. 24 CHƢƠNG 2: CÁC KIỂU CẤU TẠO TỪ GHÉP CHÍNH PHỤ TRONG TIẾNG VIỆT ……………………………………………………………………………………… 19 2.1. Kết quả thống kê ………………………………………………………………………….. 19 2.2. Miêu tả các mô hình ghép chính phụ trong tiếng Việt ……………………….. 20 2.2.1. Hình vị chính kết hợp với hình vị phụ chỉ màu sắc ……………………. 20 2.2.2. Hình vị chính kết hợp hình vị phụ chỉ hình dáng …………………….. 24 2.2.3. Mô hình ghép chính phụ hình vị chính kết hợp với hình vị phụ chỉ mùi vị ………………………………………………………………………………………………… 30 2.2.4. Mô hình ghép chính phụ hình vị chính kết hợp hình vị phụ chỉ nguyên liệu cấu tạo …………………………………………………………………………………. 32 2.2.5. Mô hình ghép hình phụ vị chính kết hợp hình vị phụ chỉ đặc điểm tính chất ……………………………………………………………………………………… 34 2.2.6. Mô hình ghép chính phụ hình vị chính kết hợp hình vị phụ chỉ đặc điểm vận hành ……………………………………………………………………………… 36 2.2.7. Mô hình ghép chính phụ hình vị chính kết hợp thành vị phụ chỉ đặc điểm chức năng ……………………………………………………………………………. 31 2.2.8. Mô hình ghép chính phụ hình vị chính kết hợp với hình vị phụ chỉ địa danh ……………………………………………………………………………………… 40

2.2.9. Mô hình ghép chính phụ hình vị chính kết hợp với hình vị phụ vay mượn tiếng nước ngoài………………………………………………………………….. 35 KẾT LUẬN ……………………………………………………………………………………….. 39 TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………………………………. 40

LỜI CẢM ƠN Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, tôi chân thành cảm ơn cô giáo – Tiến sĩ Đỗ Thị Thu Hƣơng, đã tận tình, trực tiếp hƣớng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này. Tôi xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám hiệu trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2, Phòng Quản lý khoa học, Phòng đào tạo, các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn cùng các phòng ban chức năng đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã có nhiều cố gắng nhƣng không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong và nhận đƣợc ý kiến đóng góp của các thầy cô và các bạn độc giả, để cho khóa luận đƣợc hoàn thiện hơn. Hà Nội, tháng 05 năm 2015 Sinh viên Hoàng Thủy Tiên

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan khóa luận này đƣợc hoàn thành là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dƣới sự giúp đỡ của TS. Đỗ Thị Thu Hƣơng. Khóa luận này chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khác. Hà Nội, tháng 05 năm 2015 Sinh viên

Hoàng Thủy Tiên

MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Nhƣ chúng ta biết, tiếng Việt vô cùng phong phú và đa dạng (bao gồm: từ đơn, từ phức, trong từ đơn lại có đơn âm và đơn đa âm, trong từ phức có từ ghép và từ láy, trong từ ghép và từ láy lại có những hệ thống nhỏ hơn,…). Do đó, việc tìm hiểu về từ trong tiếng Việt là rất rộng. Trong khóa luận này chúng tôi tìm hiểu về: Một số mô hình cấu tạo từ ghép chính phụ trong tiếng Việt. Trong số phƣơng thức ghép tiếng Việt, từ ghép chính phụ có khả năng sản sinh cao, mô hình cấu tạo từ chính phụ có khả năng đáp ứng nhu cầu giao tiếp của ngƣời Việt Nam. Việc sử dụng từ ghép chính phụ đạt hiệu quả cao trong nhu cầu giao tiếp luôn là mối quan tâm của mỗi chúng ta. Để hiểu đúng – hiểu trúng ý của ngƣời nói – ngƣời nghe, ngƣời viết với bạn đọc, trƣớc hết ngƣời giao tiếp phải giải nghĩa đƣợc các từ ghép chính phụ ấy. Do vậy, việc mở rộng vốn từ nâng cao sự hiểu biết về nghĩa của từ vựng tiếng Việt nói chung, từ ghép và từ ghép chính phụ nói riêng có vai trò rất quan trọng trong quá trình giao tiếp. Để đáp ứng nhu cầu giao tiếp của ngƣời Việt cũng nhƣ việc tìm hiểu về từ ghép từ ghép chính phụ và ý nghĩa của nó cho đến nay vẫn là một câu hỏi đối với chúng ta. Trƣớc thực trạng đó, ngƣời viết đi vào tìm hiểu đề tài này với mong muốn đƣợc học hỏi, nâng cao tri thức cho bản thân đồng thời để mọi ngƣời thấy đƣợc cái hay, cái đẹp của từ ghép – từ ghép chính phụ trong tiếng Việt, thấy đƣợc rõ mô hình cấu tạo của từ ghép chính phụ trong tiếng Việt ta. 2. Lịch sử vấn đề Tìm hiểu về “từ ghép” là đề tài lớn đã có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu và có những công trình nghiên cứu khác nhau. Các công trình này tập trung nghiên cứu phƣơng diện lý thuyết của từ ghép. Nói đến từ ghép chính phụ có thể kể đến một số công trình nghiên cứu nổi tiếng nhƣ: “Ngữ pháp tiếng Việt – Từ ghép – Đoản ngữ” tập hợp một số bài giảng về ngữ pháp tiếng Việt hiện đại cho sinh viên chuyên ngành ngôn

1

ngữ khoa Ngữ Văn Đại học tổng hợp Hà Nội, trong thời gian 1961 – 1969 của giáo sƣ Nguyễn Tài Cẩn. Hay cuốn giáo trình “Từ vựng ngữ nghĩa” của giáo sƣ Đỗ Hữu Châu. Công trình nghiên cứu của Đỗ Việt Hùng “Nhận thức cộng đồng người Việt về thế giới thông qua phương thức định danh sự vật hiện tượng của từ ghép chính phụ”. Bên cạnh đó không thể không kể đến cuốn “Từ điển tiếng Việt” của tác giả Hoàng Phê chủ biên. Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu về từ ghép trong tác phẩm văn học. Nhƣ vậy việc tìm hiểu từ ghép chính phụ còn chƣa nhiều và nó vẫn là một đề tài mới mẻ khơi nguồn cho nhiều cây bút. Có thể nói việc nghiên cứu từ ghép chính phụ trong tiếng Việt là đề tài chƣa ai bàn tới. Để hiểu rõ và thấy đƣợc cái hay của từ ghép, ngƣời viết xin phép đƣợc tìm hiểu về một số mô hình cấu tạo từ ghép chính phụ trong tiếng Việt. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Nắm vững vấn đề lí thuyết về từ trong tiếng Việt, đặc điểm về từ Tiếng Việt, đặc điểm cấu tạo từ tiếng Việt. Khảo sát thống kê các mô hình cấu tạo từ ghép chính phụ trong tiếng Việt. Phân tích các mô hình ghép chính phụ trong tiếng Việt. 4. Phạm vi nghiên cứu Khóa luận tập trung nghiên cứu về một số mô hình cấu tạo từ ghép chính phụ trong tiếng Việt. Ngữ liệu phục vụ cho mục đích nghiên cứu đƣợc thống kê trong từ điển tiếng Việt. Ngoài ra, để thấy đƣợc sự phát triển của từ ghép chính phụ tiếng Việt, chúng tôi còn thống kê ngữ liệu trong một số tờ báo nhƣ Tạp chí ngôn ngữ và đời sống…Các từ ghép chính phụ đƣợc thống kê là những từ ghép đƣợc cấu tạo từ 2 đến 3 hình vị. 5. Mục đích nghiên cứu Khóa luận này tập trung nghiên cứu về các mô hình từ ghép chính phụ trong tiếng Việt. Qua nghiên cứu từ ghép nói chung và từ ghép chính phụ nói riêng để thấy đƣợc cách định danh sự vật và lối suy nghĩ của ngƣời Việt trong cách gọi tên sự vật. 6. Phƣơng pháp nghiên cứu

2

Trong khóa luận này chúng tôi sử dụng một số phƣơng pháp sau đây: – Phƣơng pháp thống kê, phân loại – Phƣơng pháp phân tích – tổng hợp – Phƣơng pháp so sánh – đối chiếu 7. Đóng góp 7.1. Đóng góp về lý luận Đề tài góp phần miêu tả một số mô hình cấu tạo từ ghép chính phụ trong tiếng Việt, từ đó giúp cho việc nghiên cứu và phân tích từ ghép thêm đầy đủ hơn. Qua việc phân tích các mô hình ghép chính phụ, dề tài góp phần thấy đƣợc cách định danh sự vật của ngƣời Việt. 7.2. Đóng góp về thực tiễn Các kết quả nghiên cứu của đề tài là một nguồn tƣ liệu bổ ích đối với hoạt động dạy và học từ vựng nói chung, từ ghép nói riêng. 8. Cấu trúc khóa luận Ngoài phần Mở đầu, kết luận và phụ lục, khóa luận gồm 2 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận Chƣơng 2: Các kiểu cấu tạo từ ghép chính phụ trong Tiếng Việt.

3

CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1. Định nghĩa từ Tiếng Việt Cho đến nay, trong ngôn ngữ cách định nghĩa về từ đƣợc đặt ra rất nhiều. Các định nghĩa ấy, về mặt này hay mặt khác đều đúng, nhƣng đều không đủ và không bao gồm đƣợc hết tất cả các đơn vị đƣợc coi là từ trong các ngôn ngữ và ngay cả trong từng ngôn ngữ cũng vậy. Trong khóa luận này tác giả đã tìm hiểu đƣợc một số định nghĩa về từ tiếng Việt của một số nhà nghiên cứu tên tuổi. 1.1.1. Từ Tiếng Việt trùng với âm tiết (hay tiếng) Tiêu biểu cho khuynh hƣớng này là M.B.Emenneu, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thiện Giáp. Theo Emeneaus định nghĩa: Từ bao giờ cũng tự do về mặt âm vị học, nghĩa là có thể miêu tả bằng những danh từ của sự phân phối các âm vị và bằng những thanh điệu [8, 5]. Theo Cao Xuân Hạo: Chúng ta hiểu tính đa dạng về tên gọi mà các tác giả khác nhau đã đề nghị cho đơn vị khác thường đó của các ngôn ngữ đơn lập là: tiết vị (syllabophoneme), hình tiết (morphosyllabeme), từ tiết (wordsyllabe), đơn tiết (monosyllabe) hoặc đơn giản là từ (word). Thực ra, nó chính là âm, hình vị hoặc từ và tất cả là đồng thời. Nếu chúng ta so sánh với các ngôn ngữ Châu Âu về cơ cấu xoay quanh ba trục được tạo thành bởi các đơn vị cơ bản là âm vị, hình vị và từ, thì cơ cấu của Tiếng Việt hầu như là sự kết hợp ba trục đó thành một trục duy nhất, âm tiết [8, 4]. 1.1.2. Từ tiếng Việt không hoàn toàn trùng âm tiết: Theo Trƣơng Văn Chình, Nguễn Hiến Lê: Từ là âm có nghĩa, dùng trong ngôn ngữ để diễn đạt một ý đơn giản nhất, nghĩa là ý không thể phân tích ra đƣợc. Ví dụ: Bàn, ghế, thợ, thuyền, gia đình,…

4

Theo Nguyễn Văn Tu: Từ là đơn vị nhỏ nhất và độc lập, có hình thức vạt chất, (vỏ âm thanh là hình thức) và có nghĩa, có tính chất biện chứng và lịch sử. Theo Nguyễn Kim Thản: Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ có thể tách khỏi đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa từ vựng, ngữ pháp và chức năng ngữ pháp. Theo Hồ Lê: Từ là đơn vị ngữ ngôn có chức năng định danh phi liên kết hiện thực, hoặc chức năng mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa [19, 9]. Theo Đỗ Hữu Châu: Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, có một ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức (hoặc kết cấu tạo) nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong từ vựng và nhỏ nhất để tạo câu [4, 1]. Tóm lại, đứng từ các góc độ nghiên cứu đồng đại hay lịch đại khác nhau, do cách hiểu về khái niệm hình vị trong ngôn ngữ học đại cƣơng khác nhau, dẫn đến cách chọn đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt của các tác giả khác nhau, và theo đó, quan niệm về từ và cách xác định các kiểu cấu tạo từ cũng khác nhau. Phần tổng kết trên đã phần nào khái quát lên đƣợc tính phức tạp của tình hình nghiên cứu về từ trong tiếng Việt. Cho đến nay quan niệm có tính chất dung hòa nhất, phổ biến nhất, đƣợc nhiều ngƣời tán đồng, đặc biệt là phù hợp với chƣơng trình giảng dạy ở phổ thông là ý kiến của các tác giả thuộc nhóm 2. Trong đề tài này chúng tôi đồng quan điểm với GS.Đỗ Hữu Châu 1.2. Đặc điểm của từ tiếng Việt Từ tiếng Việt có những đặc điểm sau đây: Từ tiếng Việt có thể biến thể ngữ âm hoặc ngữ nghĩa nhƣng không có biến thể hình thái học. Trong các ngôn ngữ Ấn – Âu, có thể biến thể về mặt hình thái. Thí dụ: to go có thể có các biến thể goes, going, gone, went theo các quan hệ ngữ pháp khác nhau trong câu. Nhƣng trong tiếng Việt không có

5

biến thể hình thái học. Đi, học, nói … bất biến trong mọi quan hệ ngữ pháp và chức năng ngữ pháp trong câu. Ngƣời miền Nam có thể nói trăng, trời uốn lƣỡi, trong khi ngƣời miền Bắc nói giăng, giời, nhƣng đấy không phải là biến thể hình thái học mà chỉ là sự biến âm do thói quen phát âm của địa phƣơng. Ý nghĩa ngữ pháp của từ không đƣợc biểu hiện trong nội bộ từ, mà đƣợc biểu hiện trong quan hệ giữa các từ trong câu. Trong các ngôn ngữ biến hình, nhìn vào hình thái của từ, ngƣời ta có thể xác định đƣợc ý nghĩa ngữ pháp của chúng (thí dụ: danh từ, dựa vào các hậu tố nhƣ -ion, -er, -ment…; tính từ dựa vào ive, -ful, -al…). Trong tiếng Việt, từ không có những dấu hiệu hình thức giúp xác định ý nghĩa ngữ pháp mà phải dựa vào các loại từ hay phó từ nhƣ con, cái, chiếc (đối với danh từ), đã, đang, sẽ, rất, hơi, khá…(đối với động từ và tính từ). Ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp có quan hệ chặt chẽ. Chẳng hạn, ý nghĩa từ vựng của từ võng khác nhau trong những câu sau đây: a. Võng anh đi trước, võng nàng theo sau. b. Người ta võng anh ấy đến bệnh viện c. Tấm ván võng xuống 1.3. Đặc điểm cấu tạo từ tiếng Việt 1.3.1. Đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt 1.3.1.1. Xác định đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt, chúng tôi chọn “tiếng” làm đơn vị cấu tạo từ của tiếng Việt. Về mặt phát âm, mỗi tiếng đƣợc tạo ra do một luồng hơi phát ra tự nhiên, kèm theo một thanh điệu nhất định. Về mặt văn tự, mỗi tiếng đồng nhất với một chữ. Ví dụ: ăn học, nhà, cao, cửa, rộng, thiên, địa, đại, tiểu, vô, hữu… Có thể chọn tiếng làm đơn vị cơ sở cấu tạo từ trong tiếng Việt bởi các lý do sau: Tiếng là đơn vị dễ nhận diện, quen thuộc đối với ngƣời Việt. Nói theo Nguyễn Thiện Giáp, đấy là đơn vị tâm lý ngôn ngữ học. Đối với ngƣời Việt,

6

việc xác định số lƣợng âm tiết hay tiếng trong một câu văn, câu thơ không phải là một việc làm khó khăn. Ví dụ câu thơ: Trong đầm gì đẹp bằng sen, Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng Chúng ta dễ dàng xác định đƣợc ngay 14 tiếng bằng cách dựa vào số lần luồng hơi đi ra, hay dựa vào số lƣợng thanh điệu. Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập, âm tiết tính. Về hình thức, hầu hết những đơn vị nhỏ nhất có nghĩa trong tiếng Việt (tƣơng đƣơng một hình vị trong các ngôn ngữ ấn – Âu) đều trùng với âm tiết. Thí dụ: nhà xe, tập, viết,… quốc, gia, sơn, hữu, vô… Kể cả các trƣờng hợp nhƣ dàng trong dễ dàng, dãi trong dễ dãi, xao trong xanh xao, xắn trong xinh xắn… ta đều có thể giải thích đƣợc ý nghĩa của chúng. Nghĩa của những đơn vị nhƣ: nhà xe, tập, viết,… ta dễ dàng xác định đƣợc. Còn nghĩa của quốc, gia, sơn, hữu, vô,… (những yếu tố Hán – Việt), ta có thể xác định đƣợc bằng cách đối chiếu từng đơn vị với hàng loạt từ có cùng yếu tố cấu tạo. Thí dụ đối chiếu quốc kì, quốc gia, tổ quốc, ái quốc,… ta xác định được quốc có nghĩa là nước; gia đình, tư gia, gia thất, gia chủ…, ta xác định được gia có nghĩa là nhà. Đối với các trƣờng hợp nhƣ dàng, dãi trong dễ dàng, dễ dãi, tuy bản thân chúng không có nghĩa rõ rệt nhƣng ta có thể lí giải đƣợc nghĩa của chúng bằng phép trừ kết hợp với phƣơng pháp đối chiếu. Thí dụ: nếu cho nghĩa của dễ dãi là x, nghĩa của dễ dàng là y, nghĩa của dễ là z, thì có thể xác định nghĩa của dãi bằng sai số x – z, và nghĩa của dàng bằng sai số y – z. Riêng các đơn vị cà, phê, rem trong cà phê, cà rem là những tiếng tự thân đều vô nghĩa, và ngay cả khi đặt chúng vào trong mối quan hệ với cả từ cũng không giải thích đƣợc ý nghĩa của chúng. Đấy là những trƣờng hợp đƣợc vay mƣợn từ các ngôn ngữ Ấn – Âu hoặc một ngôn ngữ nào khác mà ta chƣa xác định rõ nguồn gốc. Xét về mặt số lƣợng, những trƣờng hợp

7

8

Những tiếng không độc lập và tự thân không mang nghĩa từ vựng, chỉ kết hợp hạn chế với một hay vài yếu tố khác. Thí dụ: xôi trong xa xôi; sẽ trong sạch sẽ; a, xít trong a xít; mì, chính trong mì chính… Kết hợp tiêu chí ý nghĩa và tiêu chí ngữ pháp có thể tổng kết các loại tiếng trong tiếng Việt nhƣ sau: Tiếng độc lập Tiếng có nghĩa thực

nhà (nhà cửa),…

Tiếng không có nghĩa thực

Tiếng không độc lập quốc (quốc phòng) dãi (dễ dãi), cà (cà phê)

1.3.2. Phương thức cấu tạo từ tiếng Việt 1.3.2.1 Các phương thức cấu tạo từ tiếng Việt. Phƣơng thức cấu tạo từ là phƣơng thức mà ngôn ngữ tác động vào hình vị để cho ta các từ. Từ tiếng Việt sử dụng ba phƣơng thức sau đây: Từ hóa hình vị , ghép hình vị , láy hình vị . Từ hóa hình vị là phƣơng thức tác động vào bản thân một hình vị, làm cho nó có đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa của từ, biến hình vị thành từ mà không them bớt gì cả vào hình thức của nó. Những từ nhƣ: Nhà, xe, áo, người, mì chính, lốp (xe đạp)… là những từ hình thành do sự từ hóa các hình vị nhà, xe, lốp, mì chính… Hiện nay phƣơng thức này chỉ tác động vào các hình thức ngữ âm mô phỏng âm thanh và các yếu tố vay mƣợn. Ví dụ: Từ cạch vốn mô phỏng tiếng động không vang khi hai vật rắn va chạm vào nhau. Nay, thông qua phƣơng thức từ hóa mang ý nghĩa: ” bắn súng cối bằng cách thả đạn vào nòng súng” và mang đặc điềm ngữ pháp của các từ bắn, phóng, phát, lao… để trở thành một từ. Các từ khác nhƣ bịch (đấm vào ngực), đốp (đốp vào mặt) đét (đét cho một roi) đều thuộc trƣờng hợp này. Các từ nhƣ lốp, săm, phanh, ti vi, mì chính, căn…là do sự từ hóa các yếu tố nƣớc ngoài. Ghép là phƣơng thức tác động vào một hoặc hơn hai hình vị có nghĩa, kết hợp chúng với nhau để sản sinh ra một từ mới (mang đặc điểm ngữ pháp

9

10

11

thành tố. Thí dụ, đất nước không phải chỉ đất và nƣớc nói chung hay chỉ đất hoặc nƣớc, mà hai yếu tố đƣợc hợp lại để chỉ lãnh thổ của một quốc gia trong đó có những nét tiêu biểu là đất và nƣớc. Trƣờng hợp non sông, sông núi, sơn hà cũng vậy. Một ví dụ khác, ruột thịt không phải chỉ ruột hay thịt nói chung mà cả hai hợp lại hợp lại để chỉ quan hệ máu mủ, huyết thống. Hay gan dạ để chỉ sự mạnh mẽ, không lùi bƣớc trƣớc nguy hiểm cũng là một trƣờng hợp tƣơng tự. 1.3.3.2.2. Từ ghép chính phụ: Là những từ ghép mà ở đó có ít nhất một thành tố cấu tạo nằm ở vị trí phụ thuộc vào một thành tố cấu tạo khác, tức trong kiểu từ ghép này thƣờng có một yếu tố chính và một yếu tố phụ về mặt ngữ pháp. Loại này có những đặc điểm sau: Xét về mặt ý nghĩa, nếu từ ghép đẳng lập có khuynh hƣớng gợi lên các sự vật, tính chất có ý nghĩa khái quát, tổng hợp, thì kiểu cấu tạo từ này có khuynh hƣớng nêu lên các sự vật theo mang ý nghĩa cụ thể. Trong từ ghép chính phụ, yếu tố chính thƣờng giữ vai trò chỉ loại sự vật, đặc trƣng hoặc hoạt động lớn, yếu tố phụ thƣờng đƣợc dùng để cụ thể hóa loại sự vật, hoạt động hoặc đặc trƣng đó. Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa, có thể chia từ ghép chính phụ thành hai tiểu loại: Từ ghép chính phụ dị biệt: là từ ghép trong đó yếu tố phụ có tác dụng phân chia loại sự vật, hoạt động, đặc trƣng lớn thành những loại sự vật, hoạt động, đặc trƣng, cụ thể. Vì vậy có thể nói tác dụng của yếu tố phụ ở hiện tƣợng này là tác dụng phân loại. Thí dụ :

 Máy may, máy bay, máy bơm, máy nổ, máy tiện,…  Làm việc, làm thợ, làm duyên, làm ruộng, làm dâu,…  Vui tính, vui tai, vui mắt, vui miệng,… Chú ý, ở kiểu từ ghép này trật tự của các yếu tố trong từ ghép thuần Việt, hoặc Hán – Việt Việt hóa khác từ ghép Hán – Việt, ở hai trƣờng hợp đầu,

12

yếu tố chính thƣờng đứng trƣớc, ở trƣờng hợp cuối, yếu tố phụ thƣờng đứng trƣớc. Ví dụ:

 Vùng biển, vùng trời, xe lửa, nhà thơ,…  Hải phận, không phận, hỏa xa, thi sĩ,… Từ ghép chính phụ sắc thái hóa: là những từ ghép trong đó thành tố phụ có tác bổ sung một sắc thái ý nghĩa nào đó khiển cho cả từ ghép này khác với thành tố chính khi nó đứng một mình nhƣ một từ rời, hoặc khiến cho từ ghép sắc thái hóa này khác với từ ghép sắc thái hóa khác về ý nghĩa. Thí dụ , so sánh xanh lè với xanh và xanh biếc. 1.3.3.3. Từ láy Cho đến nay, nhiều vấn đề về từ láy vẫn còn để ngỏ.Về phƣơng thức cấu tạo của từ láy, tồn tại hai ý khác nhau: Ý kiến thứ nhất: Từ láy là từ đƣợc hình thành do sự lặp lại của tiếng gốc có nghĩa. Ý kiến thứ hai: Từ láy là từ đƣợc hình thành bằng cách ghép các tiếng dựa trên quan hệ ngữ âm giữa các thành tố. Theo ý kiến thứ nhất chỉ có thể lý giải đƣợc một số từ láy xác định đƣợc tiếng gốc, bên cạnh những từ ấy còn rất nhiều từ hiện không xác định đƣợc tiếng gốc ( ví dụ: bâng khuâng, lẩm cẩm, lã chã,…), hoặc những từ có dạng láy nhƣng thật ra chúng vốn đƣợc tạo ra từ phƣơng thức ghép ( ví dụ như hỏi han, chùa chiền, dông dài, tang tóc,…).Nhìn từ láy theo ý kiến thứ hai lại không có tác dụng giúp ta thấy đƣợc những nét độc đáo về mặt ngữ nghĩa của cấu tạo từ này, không thấy đƣợc nét riêng của dân tộc ta trong việc sáng tạo những từ ngữ mới nhằm định danh sự vật mới một cách tiết kiệm mà lại có khả năng miêu tả sinh động ,biểu cảm nhất. Có thể nói ý kiến thứ nhất đã nêu đƣợc những từ láy chân chính trong tiếng Việt. Tuy nhiên cần nhận thức đƣợc rằng ngôn ngữ khong đứng yên mà luôn vận động, thay đổi theo sự phát triển của xã hội. Trong quá trình đó, những từ ghép có dạng láy cũng khó phát

13