Top 20 # Xác Định Kiểu Cấu Tạo Từ / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Các Kiểu Cấu·tạo Từ Tiếng Việt / 2023

Các Kiểu Cấu Tạo Từ Tiếng Việt

1. Từ đơn: là những từ được cấu tạo bằng một tiếng độc lập. Thí dụ: Nhà, xe, tập, viết, xanh,đỏ, vàng, tím,… – Xét về mặt lịch sử, hầu hết từ đơn là những từ đã có từ lâu đời. Một số từ có nguồn gốc thuần Việt, một số từ vay mượn từ các ngôn ngữ nước ngoài như tiếng Hán, tiếng Pháp, Anh, Nga,… – Xét về mặt ý nghĩa , từ đơn biểu thị những khái niệm cơ bản trong sinh hoạt của đời sống hàng ngày của người Việt, biểu thị các hiện tượng thiên nhiên, các quan hệ gia đình, xã hội , các số đếm,…

2. Từ ghép: là những từ có hai hoặc hơn hai tiếng được ghép lại với nhau dựa trên quan hệ ý nghĩa. Dựa vào quan hệ ngữ pháp giữa các yếu tố, có thể phân từ ghép ra làm 2 loại chính:

2.1. Từ ghép đẳng lập: Từ ghép đẳng lập có những đặc trưng chung là: A. – Quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố trong từ là quan hệ bình đẳng. B. – Xét về mặt quan hệ ý nghĩa giữa các thành tố có thể thấy: a.+ Hoặc các thành tố đồng nghĩa nhau, trong đó: * Có thể có một yếu tố thuần Việt và một yếu tố Hán Việt. Ví dụ: bạn hữu, bụng dạ, máu huyết,… * Có thể cả hai yếu tố đều là Hán Việt. Ví dụ: tư duy, thổ địa, tiên lợi, cốt nhục,… * Có thể cả hai yếu tố đều là thuần Việt. Ví dụ: đợi chờ, máu mủ, xinh đẹp,… * Có thể có một yếu tố toàn dân và một yếu tố vố là từ địa phương. Ví dụ:Chân cẳng, bát đọi, chợ búa,… b.+ Hoặc các thành tố gần nghĩa nhau. Thí dụ: thương nhớ, nhà cửa, áo quần, ăn uống, đi đứng,… c. + Hoặc các thành tố trái nghĩa nhau. Thí dụ: đầu đuôi, sống chết, già trẻ, gần xa, trong ngoài,…

C. – Xét về mặt nội dung, nói chung, từ ghép đẳng lập thường gợi lên những phạm vi sự vật mang ý nghĩa phi cá thể hay tổng hợp ( tức biểu thị sự vật, tính chất hay hành động chung, mang tính chất khái quát ).

D. – Tuy có quan hệ bình đẳng về mặt ngữ pháp, nhưng không đưa đến hệ quả là ý nghĩa từ vựng của các thành tố trong từ đều có giá trị ngang nhau trong mọi trường hợp. Như ta sẽ thấy, những trường hợp một trong hai thành tố phai mờ nghĩa xảy ra phổ biến trong từ ghép đẳng lập.

E. – Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa và phạm vi biểu đạt của từ ghép, có thể phân từ ghép đẳng lập thành ba loại nhỏ là từ ghép đẳng lập gộp nghĩa, từ ghép đẳng lập đơn nghĩa và từ ghép đẳng lập hợp nghĩa. a. + Từ ghép đẳng lập gộp nghĩa: bao gồm những từ ghép thuộc mô hình ngữ nghĩa AB = A+B. Tức là loại mà nghĩa của từng thành tố cùng nhau gộp lại để biểu thị ý nghĩa khái quát chung của cả từ ghép, trong ý nghĩa chung đó có ý nghĩa riêng của từng thành tố. Chẳng hạn, từ quần áo chỉ đồ mặc nói chung, trong đó có cả quần lẫn áo. Một số ví dụ về từ ghép gộp nghĩa: điện nước, xăng dầu, tàu xe, xưa nay, chạy nhảy, học tập, nghe nhìn, thu phát, ăn uống, tốt đẹp, may rủi, hèn mọn,thầy trò, vợ con… b. + Từ ghép đẳng lập đơn nghĩa: bao gồm từ ghép thuộc mô hình ngữ nghĩa AB = A hoặc B. Tức là loại mà nghĩa khái quát chung của cả từ ghép tương ứng với ý nghĩa của một thành tố có mặt trong từ. Ví dụ: núi non, binh lính, thay đổi, tìm kiếm,… Do nghĩa của cả từ ghép tương đương với nghĩa của một thành tố nên thành tố còn lại có xu hướng bị mờ nghĩa hoặc bị mất nghĩa. Yếu tố này sẽ làm chỗ dựa cho ý nghĩa của cả từ ghép. Có thể nói sự mờ nghĩa của núc (bếp núc), búa ( chợ búa), pheo ( tre pheo) … chính là kết quả cực đoan của mô hình đơn nghĩa này. Một số ví dụ về từ ghép đẳng lập đơn nghĩa: bếp núc, chợ búa, đường sá, heo cúi, áo xống, ăn mặc, ăn nói, viết lách, … Chú ý về trật tự các thành tố trong từ ghép đẳng lập. Bàn về từ ghép đẳng lập, người ta thường bàn đến khả năng hoán vị giữa các thành tố. Tuy nhiên cần chú ý là khả năng ấy không xảy ra phổ biến đối với toàn bộ lớp từ ghép đẳng lập, và không phải xảy ra vô điều kiện trong mọi trường hợp. Về hiện tượng này có thể nêu mấy nhận xét chung như sau: d. + Có thể hoán vị được đối với một số từ ghép gộp nghĩa trường hợp không có yếu tố Hán – Việt. Thí dụ: quần áo – áo quần, rủi may – may rủi, tươi tốt – tốt tươi,… e. + Khả năng hoán vị ít xảy ra giữa các thành tố trong từ ghép đơn nghĩa, đặc biệt đối với trường hợp từ ghép có yếu tố mờ nghĩa, mất nghĩa. f. + Khả năng hoán vị bị sự khống chế của một số yêu cầu: * Không được phép làm thay đổi ý nghĩa của từ ghép ban đầu. Ví dụ: đi lại – lại đi ; cơm nước – nước cơm khác nghĩa. * Không đi ngược lại tập quán cổ truyền của dân tộc. Ví dụ: nam nữ – nữ nam; ông bà – bà ông, anh em – em anh, vua quan – quan vua,… không hoán vị được. * Không tạo nên những trật tự khó đọc. Chẳng hạn: sửa chữa dễ đọc hơn chữa sửa.

2.2 Từ ghép chính phụ: Là những từ ghép mà ở đó có ít nhất một thành tố cấu tạo nằm ở vị trí phụ thuộc vào một thành tố cấu tạo khác, tức trong kiểu từ ghép này thường có một yếu tố chính và một yếu tố phụ về mặt ngữ pháp. Loại này có những đặc điểm sau: A. – Xét về mặt ý nghĩa, nếu từ ghép đẳng lập có khuynh hướng gợi lên các sự vật, tính chất có ý nghĩa khái quát, tổng hợp, thì kiểu cấu tạo từ này có khuynh hướng nêu lên các sự vật theo mang ý nghĩa cụ thể. B. – Trong từ ghép chính phụ, yếu tố chính thường giữ vai trò chỉ loại sự vật, đặc trưng hoặc hoạt động lớn, yếu tố phụ tường được dùng để cụ thể hóa loại sự vật, hoạt động hoặc đặc trưng đó. C. – Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa, có thể chia từ ghép chính phụ thành hai tiểu loại: a. + Từ ghép chính phụ dị biệt: là từ ghép trong đó yếu tố phụ có tác dụng phân chia loại sự vật, hoạt động, đặc trưng lớn thành những loại sự vật , hoạt động, đặc trưng, cụ thể. Vì vậy có thể nói tác dụng của yếu tố phụ ở hiện tượng này là tác dụng phân loại. Thí dụ : • máy may, máy bay, máy bơm, máy nổ, máy tiện,… • làm việc, làm thợ , làm duyên, làm ruộng, làm dâu,… • vui tính, vui tai, vui mắt, vui miệng,… Chú ý, ở kiểu từ ghép này trật tự của các yếu tố trong từ ghép thuần Việt, hoặc Hán – Việt Việt hoá khác từ ghép Hán – Việt. ở hai trường hợp đầu, yếu tố chính thường đứng trước, ở trường hợp cuối, yếu tố phụ thường đứng trước. Ví dụ: • vùng biển, vùng trời, xe lửa, nhà thơ,… • hải phận, không phận, hỏa xa, thi sĩ,… b. + Từ ghép chính phụ sắc thái hóa: là những từ ghép trong đó thành tố phụ có tác bổ sung một sắc thái ý nghĩa nào đó khiến cho cả từ ghép này khác với thành tố chính khi nó đứng một mình như một từ rời, hoặc khiến cho từ ghép sắc thái hóa này khác với từ ghép sắc thái hóa khác về ý nghĩa. Thí dụ , so sánh xanh lè với xanh và xanh biếc, …

3. Từ láy: Cho đến nay, nhiều vấn đề của từ láy vẫn là những vấn đề còn để ngỏ.Về phương thức cấu tạo của từ láy, tồn tại hai ý kiến khác nhau: a.Từ láy là từ được hình thành do sự lặp lại của tiếng gốc có nghĩa ; b. Từ láy là từ được hình thành bằng cách ghép các tiếng dựa trên quan hệ ngữ âm giữa các thành tố. Theo ý kiến thứ nhất chỉ mới có thể lí giải được một số từ láy xác định được tiếng gốc, bên cạnh những từ ấy còn rất nhiều từ hiện không xác định được tiếng gốc (ví dụ: bâng khuâng, lẩm cẩm, bủn rủn, lã chã,…), hoặc những từ có dạng láy nhưng thực ra chúng vốn được tạo ra từ phương thức ghép ( ví dụ: hỏi han, chùa chiền, dông dài, tang tóc,…). Nhìn nhận từ láy theo ý kiến thứ hai lại không có tác dụng giúp ta thấy được những nét độc đáo về mặt ngữ nghĩa của kiểu cấu tạo từ này, không thấy được nét riêng của dân tộc ta trong việc sáng tạo những từ ngữ mới nhằm định danh sự vật mới một cách tiết kiệm mà lại có khả năng miêu tả sinh động, biểu cảm nhất. Có thể nói ý kiến thứ nhất đã nêu ra được những từ láy chân chính trong tiếng Việt. Tuy nhiên cần nhận thức được rằng ngôn ngữ không đứng yên mà luôn vận động, thay đổi theo sự phát triển của xã hội. Trong quá trình đó, những từ ghép có dạng láy và những từ láy chân chính đã hòa lẫn vào nhau mà ngay cả những nhà ngôn ngữ học cũng khó phát hiện và phân biệt được chúng trong nhiều trường hợp. Gần đây trong nhiều bài viết, các tác giả đã khôi phục được nghĩa của nhiều từ ghép có dạng láy bị mất nghĩa. Dẫu sao những từ này hiện nay cũng đã mang nhiều đặc điểm của từ láy ( về mặt ngữ nghĩa cũng như ngữ âm). Trong khi chờ đợi những cứ liệu lịch sử đầy đủ hơn nữa, có thể xem chúng là từ láy. Do vậy, đứng tên quan điểm đồng đại có thể nói từ láy là những từ gồm nhiều tiếng, giữa các tiếng có quan hệ ngữ âm có tác dụng tạo nghĩa.

3.1. Ðặc điểm của từ láy: A. – Giữa các tiếng trong từ láy có quan hệ với nhau về mặt ngữ âm, biểu hiện ở một trong các dạng sau : + Hoặc giống nhau ở phần phụ âm đầu. Thí dụ: vắng vẻ, vui vẻ,… + Hoặc giống nhau ở phần vần. Thí dụ: co ro, lác đác, lung túng,… + Hoặc giống nhau ở cả phần phụ âm đầu lẫn phần vần. Thí dụ: đo đỏ, hao hao,… + Riêng thanh điệu, ở từ láy đôi thường tuân theo quy tắc biến thanh sau: Cao _ / ? Thấp . ~ B. – Mối quan hệ về mặt ngữ âm trong từ láy tạo nên sự hòa phối ngữ âm có tác dụng biểu trưng hóa ( Hoàng Văn Hành), tức là tạo ra một thứ ý nghĩa biểu trưng, ý nghĩa ấn tượng mà người bản ngữ tỏ ra nhạy cảm với nó hơn so với người không phải thuộc bản ngữ. Ðó là lí do giải thích vì sao trong tiếng Việt tồn tại nhiều từ láy rất khó lòng giải nghĩa, nhưng người bản ngữ nói chung vẫn cảm nhận được cái hay, vẫn dùng đúng và hiểu đúng, nhưng khó có thể giải thích tính đúng, tính hay đó cho người ngoại quốc học tiếng Việt. Chính vì vậy ở những từ ghép có các thành tố còn rõ nghĩa và có hiện tượng lặp âm ngẫu nhiên như tươi tốt, nam nữ, mặt mũi, hầm hố,…nhưng người bản ngữ không hề nghĩ đến chúng như là từ láy. ở đây ý nghĩa của từng thành tố trong từ còn quá rõ, chúng đã cản trở việc tạo ra một thứ ý nghĩa vốn mơ hồ, yếu ớt, mặc dù khá ổn định. Và ngược lại, khi trong từ ghép đẳng lập có xuất hiện yếu tố mờ nghĩa, người ta dễ cảm thụ chúng như là từ láy. Ðó là lí do giải thích tại sao những từ chùa chiền, hỏi han, đất đai, chim chóc, tuổi tác được nhiều người lĩnh hội như là từ láy. C. – Từ đó dẫn đến đặc điểm thứ ba, trong từ láy phải có ít nhất một yếu tố không độc (mờ nghĩa hay mất nghĩa). Như vậy, từ láy trong tiếng Việt có thể xảy ra hai trường hợp: a – Từ láy có một yếu tố độc lập ( hay tiếng gốc) và một yếu tố không độc lập ( hay tiếng láy); b – Từ láy có cả hai yếu tố đều không độc lập ( hay từ láy không có tiếng gốc).

3.2 . Phân loại từ láy: Kết hợp tiêu chí số lượng tiếng với các bộ phận giống nhau trong từ, có thể phân từ láy thành các loại sau: A. – Từ láy đôi là từ láy gồm có 2 tiếng. Có các dạng cấu tạo láy đôi sau: a. + Từ láy bộ phận: Từ giống nhau ở phần vần hoặc phụ âm đầu. b. + Từ láy hoàn toàn: Ngoại trừ những từ láy bộ phận, còn lại là các từ láy hoàn toàn. Cụ thể gồm các dạng sau: * Giống cả phần vần, phụ âm đầu và thanh điệu. Thí dụ: đùng đùng, lù lù, vàng vàng,… * Giống phần vần, phụ âm đầu, khác nhau thanh điệu. Thí dụ: đu đủ, cỏn con, đo đỏ, tím tím,… * Giống nhau phụ âm đầu và âm chính, khác nhau ở thanh điệu và phụ âm cuối do sự chi phối của quy luật dị hóa. Thí dụ: đèm đẹp, bàng bạc,sành sạch, tôn tốt,… Dạng biến đổi này xảy ra trong các trường hợp các tiếng gốc có phụ âm cuối là -p, -t, -k ( thể hiện trên chữ viết là c và ch ). Trong trường hợp này, thanh điệu cũng biến đổi theo quy luật vừa nói trên. Còn phụ âm cuối biến đổi theo quy luật là tiếng gốc tận cùng bằng các phụ âm tắc-vô thanh sẽ được chuyển thành các phụ âm mũi-hữu thanh ở tiếng láy. Cụ thể: Tiếng gốc Tiếng láy ( Âm tắc, vô thanh) ( Âm mũi – hữu thanh) ăm ấp – p – m phơn phớt – t – n bàng bạc, sành sạch – k – ng ( thể hiện trên chữ ng và nh) B. – Từ láy ba và láy tư: Từ láy ba: chủ yếu dựa trên cơ chế láy hoàn toàn. Từ láy ba có kiểu phối thanh thường gặp là: -Tiếng thứ hai mang thanh bằng (thường xuất hiện thanh huyền hơn thanh ngang). -Tiếng thứ nhất và tiếng thứ ba đối lập nhau về bằng / trắc hoặc về âm vực cao / thấp. Ví dụ cho trường hợp thứ nhất: dửng dừng dưng, cỏn còn con, sạch sành sanh, khỏe khòe khoe,… Ví dụ cho trường hợp thứ hai: khít khìn khịt, sát sàn sạt, xốp xồm xộp,… Từ láy ba dạng láy bộ phận chiếm số lượng rất ít. Ví dụ: tơ lơ mơ, tù lù mù,… Từ láy tư: Phần lớn từ láy dựa trên cơ sở từ láy đôi, một số ít có phần gốc là từ ghép. + Láy bộ phận kết hợp với đổi vần -a, -à hay -ơ. Ví dụ: ấm ớ — ấm a ấm ớ hì hục — hì hà hì hục sớn sát — sớn sơ sớn sát + Láy toàn bộ kết hợp với biến thanh. Ví dụ: bồi hồi — bổi hổi bồi hồi lảm nhảm — lảm nhảm làm nhàm + Láy bộ phận kết hợp với tách, xen . Ví dụ: thơ thẩn — lơ thơ lẩn thẩn nhồm nhoàm — lồm nhồm loàm nhoàm + Láy toàn bộ kết hợp với tách, xen Ví dụ: hăm hở — hăm hăm hở hở vội vàng — vội vội vàng vàng

3 3. ý nghĩa của từ láy. ở đây, ta chủ yếu bàn về từ láy đôi. Xét tác dụng của các tiếng tham gia cấu tạo nghĩa của từ láy, có thể chia từ láy nói chung thành 3 nhóm : A. Từ láy phỏng thanh: là từ láy trong đó không xác định được tiếng gốc, các tiếng được hình thành và được ghép lại dựa vào sự mô phỏng âm thanh của các sự sật, hiện tượng trong thực tế. Cụ thể, đấy có thể là sự nhại lại âm thanh của đối tượng. Ví dụ: oa oa, gâu gâu, đùng đùng,…; hay dựa vào mô phỏng âm thanh để định danh cho đối tượng. Thí dụ: con bìm bịp, xe cút kít, chim tu hú,… B. Từ láy sắc thái hóa: là những từ mà trong đó có một yếu tố gốc và một hoặc hơn một yếu tố láy . Yếu tố gốc chi phối nghĩa của toàn bộ từ láy, yếu tố còn lại có tác dụng bổ sung một sắc thái nghĩa nào đó khiến cho từ láy khác với phần gốc khi nó đứng một mình và khác với từ láy khác có cùng yếu tố gốc. Ví dụ, so sánh bối rối với rối rắc rối, rối ren, rối rít; dễ dãi với dễ, dễ dàng; xanh xanh với xanh và xanh xao,…Xét về mặt phạm vi biểu vật của từ láy so với tiếng gốc, cần phân biệt hai trường hợp: thứ nhất là từ láy phi cá thể hóa – những từ mà ý nghĩa biểu thị phạm vi sự vật rộng hơn so với tiếng gốc; thứ hai là từ láy cụ thể hóa những từ mà ý nghĩa biểu thị phạm vi sự vật hẹp hơn so với tiếng gốc. Ví dụ cho trường hợp thứ nhất như: chim chóc, mùa màng, hội hè,…Ví dụ cho trường hợp thứ hai như: dễ dàng, dễ dãi, bối rối, rắc rối, rối rít, xanh xanh, xanh xao,… Có thể nêu ra một số mô hình ngữ nghĩa tương đối thuần nhất của một số kiểu láy như sau: – Kiểu từ láy toàn bộ: + Tiếng gốc gốc tính từ, kiểu L( láy).G( gốc). * L. có thanh bằng: thường diễn đạt tính chất hoặc đặc điểm mang ý nghĩa giảm nhẹ. Ví dụ: kha khá, đo đỏ, tôn tốt,… * L. có thanh trắc: thường diễn đạt tính chất hoặc đặc điểm có cường độ gia tăng. Ví dụ: cỏn con, tẻo teo,… + Tiếng gốc gốc động từ: thường diễn đạt các hành động lặp đi lặp lại một cách đều đặn và kèm với quá trình lặp lại đó, cường độ của hành động mang tính chất giảm nhẹ. Ví dụ: gật gật, lắc lắc, rung rung,… + Tiếng gốc gốc danh từ: thường diễn tả sự lặp đi lặp lại của các sự kiện, hiện tượng. Ví dụ: ngày ngày, người người, nhà nhà,… – Kiểu láy âm: * Kiểu G. L( -ăn): thường diễn tả tính chất hoặc đặc điểm đạt chuẩn mực. Ví dụ: đầy đặn, vuông vắn, ngay ngắn, thẳng thắn,… * Kiểu L (-âp). G ( gốc động từ) : thường diễn tả hành động không ổn định tại chỗ hoặc diễn ra theo tình thế hiện ra biến mất. Ví dụ: lấp ló, thập thò, nhấp nháy,… C. Từ láy âm cách điệu: là từ láy không chứa bộ phận còn đủ rõ nghĩa từ vựng, hoặc vẫn có thể chứng minh nghĩa của một bộ phận nào đó nhưng nó không còn tác dụng làm cơ sở nghĩa của toàn từ nữa. Ví dụ: bâng khuâng, linh tinh, thình lình,…Lọai này hiện chiếm một số lượng khá lớn trong tiếng Việt. Theo Diệp Quang Ban, đây là kiểu láy thuần khiết nhất, tiêu biểu cho toàn bộ từ láy – một kiểu cấu tạo từ lấy sự hòa phối ngữ âm tạo ý nghĩa biểu trưng làm cơ sở. Về mô hình ngữ nghĩa của kiểu từ láy này vẫn là một vấn đề còn đang để ngỏ. Phi Tuyết Hinh trong bài Từ láy không rõ thành tố gốc và vấn đề biểu trưng ngữ âm trong từ biểu tượng tiếng Việt đã cố gắng mô hình hóa nghĩa của kiểu từ này dựa vào các đặc điểm cấu âm – âm học của chúng.

4. Từ ngẫu hợp : Ngoại trừ các trường hợp trên, còn lại là các từ ngẫu hợp. Ðấy là trừơng hợp mà giữa các tiếng không có quan hệ ngữ âm hay ngữ nghĩa. Thí dụ: cà phê, a xít, a pa tít,…cổ hũ, mè nheo, ba láp, ba hoa, bồ hóng,… • Chú ý: 1. Hiện tượng chuyển di kiểu cẩu tạo từ trong tiếng Việt: Không kể từ đơn và từ ngẫu hợp, tiếng Việt có 3 kiểu cấu tạo từ cơ bản cùng với các kiểu nhỏ là: – Từ ghép đẳng lập: gộp nghĩa, hợp nghĩa, đơn nghĩa. – Từ ghép chính phụ: dị biệt, sắc thái hoá. – Từ láy: phỏng thanh, sắc thái hóa, cách điệu. Xét các đơn vị trên trục đồng đại hay lịch đại, ở bình diện ngôn ngữ hay lời nói, việc nhận thức về kiểu cấu tạo lớn nhỏ của chúng có thể di chuyển khá phức tạp, làm cho con đường phân giới giữa chúng có thể bị nhòe đi. Trong những trường hợp đó, nếu thiên về mặt này thì từ đang xét được xếp vào kiểu cấu tạo này, nhưng nếu thiên về mặt khác thì nó thuộc kiểu cấu tạo khác. Chẳng hạn từ chùa chiền, đất đai, hỏi han, xét về mặt lịch sử chúng là từ ghép đẳng lập, tuy nhiên do sự tác động của phương thức cấu tạo từ và mô hình ngữ nghĩa ( nghĩa khái quát của A+B = A hoặc B) đã làm cho nghĩa của một trong hai yếu tố bị mờ nghĩa. Ngoài ra do sự trùng hợp ngẫu nghiên về mặt ngữ âm đã làm cho người bản ngữ hiện đại nhận diện chúng như là những từ láy. Xuất phát từ đặc điểm vừa nêu, trong tiếng Việt ngày nay tồn tại nhiều từ có thể có hai hướng nhìn nhận như học hành, hình hài, nhăn nheo, chăm chú, đền đài,…Như vậy, để biện luận kiểu cấu tạo của một từ, cần dựa vào một tiêu chí rõ ràng, dứt khoát. Trong khi chờ đợi những phát hiện mới mẻ hơn nữa của ngôn ngữ học lịch sử, ta có thể dựa vào tiêu chí đồng đại để xác định kiểu cấu tạo của từ.

Việc nhận thức các tiểu loại trong từ ghép đẳng lập cũng không nhất thành bất biến nếu xét từ ở bình diện ngôn ngữ hay lời nói. Trong sử dụng có thể xảy ra hiện tượng chuyển di từ tiểu loại này sang tiểu loại khác đối với những từ cụ thể. Ví dụ: – Cửa hàng ăn uống ( gộp nghĩa); ở đây ăn uống khá thật ( rất có thể là đơn nghĩa, chỉ nói về ăn đối với các nhà ăn tập thể). – Cơm nước đã sẵn sàng ( gộp nghĩa); cơm nước chán quá ( rất có thể đơn nghĩa). – Ăn ở dơ dáy ( gộp nghĩa); ăn ở với nhau được hai mụn con ( chỉ sự chung sống với nhau ), ăn ở chí tình sự ( chỉ sự cư xử với nhau trong xã hội). Hai trường hợp sau này chúng được chuyển nghĩa trên cơ sở nghĩa thứ nhất. Do đó muốn xác định được kiểu cấu tạo của chúng ta phải dựa vào ngữ cảnh cụ thể và biện luận rõ ràng. 2. Các tiêu chí xác định các kiểu cấu tạo từ trong tiếng Việt. Như ta đã biết, vốn từ tiếng Việt vô cùng phong phú, mỗi từ đều được cấu tạo theo một phương thức nhất định và mang một ý nghĩa nhất định. Các kiểu cấu tạo từ giữ vai trò quan trọng trong việc tạo nên nội dung ý nghĩa của từ. Chính vì vậy, trong chương trình Tiếng Việt ở bậc phổ thông cơ sở và trung học, nội dung xác định các kiểu cấu tạo từ rất được những nhà giáo dục quan tâm. Tuy nhiên ở các cấp học này vấn đề tiêu chí xác định các kiểu cấu tạo từ không phải đã sáng rõ, đặc biệt là ranh giới giữa từ láy và từ ghép. Ðể có thể xác định các kiểu cấu tạo từ tiếng Việt một cách nhất quán, cần dựa trên những tiêu chí rõ ràng. Dựa vào những vấn đề có tính chất lí thuyết về các kiểu cấu tạo từ tiếng Việt đã nêu, ta có thể nêu lên và áp dụng một cách tuần tự các tiêu chí xác định các kiểu cấu tạo từ tiếng Việt sau dây: – Về góc nhìn, trong khi chờ đợi những cứ liệu lịch sử đủ rõ, ta có thể xét từ tiếng Việt dựa trên quan điểm đồng đại, tức dựa vào sự nhận thức chung của người bản ngữ đương đại về nghĩa của các yếu tố cấu tạo từ. – Dựa vào số lượng tiếng trong từ. Nếu từ có một tiếng ( dĩ nhiên là tiếng độc lập) thì đó là từ đơn. Nếu từ có hơn một tiếng thì đó là từ phức. – ở những từ phức, để xác định cụ thể các kiểu cấu tạo từ, ta lại tiếp tục dựa vào quan hệ giữa các thành tố. + Nếu giữa các thành tố trong từ phức có quan hệ với nhau về mặt ngữ âm, đồng thời trong đó có yếu tố không độc lập và không mang nghĩa thực thì đó là từ láy ( Ví dụ: vắng vẻ, dễ dàng, sạch sẽ,…). Tiêu chí này sẽ loại trừ các trường hợp các từ ghép có quan hệ ngẫu nhiên về mặt ngữ âm ( như hầm hố, máu mủ, tốt tươi,…). ở những từ láy ta lại tiếp tục dựa vào số lượng tiếng, dựa vào các bộ phận giống nhau trong từ để xác định các từ láy đôi, láy ba, các từ láy bộ phận hay hoàn toàn, láy âm hay láy vần. + Nếu giữa các thành tố trong từ phức có quan hệ với nhau về mật ngữ nghĩa thì đó là từ ghép. ở từ ghép, ta lại tiếp tục dựa vào các mô hình ngữ nghĩa cụ thể của từng từ để xác định các kiểu cấu tạo cụ thể. Nếu một tổ hợp tiếng gợi lên các sự vật mang ý nghĩa khái quát, tổng loại thì đó là từ ghép đẳng lập. Còn nếu một tổ hợp nêu lên một phạm vi sự vật mang ý nghĩa cụ thể thì đó là từ ghép chính- phụ. + Nếu giữa các thành tố không có quan hệ ngữ âm hoặc ngữ nghĩa thì đó là từ ngẫu hợp.

Nguồn: http://cadao.org/index.php?option=com_content&view=article&id=841:cac-kiu-cu-to-t-ting-vit&catid=63:th-ng&Itemid=91

Bình chọn

Chia sẻ:

Facebook

Twitter

Thư điện tử

Tumblr

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

Các Kiểu Cấu Tạo Từ Tiếng Việt / 2023

1. TỪ ĐƠN

 Từ đơn là những từ được cấu tạo bằng một tiếng độc lập. Thí dụ: Nhà, xe, tập, viết, xanh, đỏ, vàng, tím,…

– Xét về mặt lịch sử, hầu hết từ đơn là những từ đã có từ lâu đời. Một số từ có nguồn gốc thuần Việt, một số từ vay mượn từ các ngôn ngữ nước ngoài như tiếng Hán, tiếng Pháp, Anh, Nga,…

– Xét về mặt ý nghĩa , từ đơn biểu thị những khái niệm cơ bản trong sinh hoạt của đời sống hàng ngày của người Việt, biểu thị các hiện tượng thiên nhiên, các quan hệ gia đình, xã hội , các số đếm,…

2. TỪ GHÉP

Từ ghéplà những từ có hai hoặc hơn hai tiếng được ghép lại với nhau dựa trên quan hệ ý nghĩa.

Dựa vào quan hệ ngữ pháp giữa các yếu tố, có thể phân từ ghép ra làm 2 loại chính:

2.1. Từ ghép đẳng lập:

Từ ghép đẳng lập có những đặc trưng chung là:

– Quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố trong từ là quan hệ bình đẳng.

– Xét về mặt quan hệ ý nghĩa giữa các thành tố có thể thấy:

+ Hoặc các thành tố đồng nghĩa nhau, trong đó:

• Có thể có một yếu tố thuần Việt và một yếu tố Hán Việt. Ví dụ: bạn hữu, bụng dạ, máu huyết,…

• Có thể cả hai yếu tố đều là Hán Việt. Ví dụ: tư duy, thổ địa, tiện lợi, cốt nhục,…

• Có thể cả hai yếu tố đều là thuần Việt. Ví dụ: đợi chờ, máu mủ, xinh đẹp,…

• Có thể có một yếu tố toàn dân và một yếu tố vố là từ địa phương. Ví dụ: chân cẳng, bát đọi, chợ búa,…

+ Hoặc các thành tố gần nghĩa nhau. Thí dụ: thương nhớ, nhà cửa, áo quần, ăn uống, đi đứng,…

+ Hoặc các thành tố trái nghĩa nhau. Thí dụ: đầu đuôi, sống chết, già trẻ, gần xa, trong ngoài,…

– Xét về mặt nội dung, nói chung, từ ghép đẳng lập thường gợi lên những phạm vi sự vật mang ý nghĩa phi cá thể hay tổng hợp (tức biểu thị sự vật, tính chất hay hành động chung, mang tính chất khái quát).

– Tuy có quan hệ bình đẳng về mặt ngữ pháp, nhưng không đưa đến hệ quả là ý nghĩa từ vựng của các thành tố trong từ đều có giá trị ngang nhau trong mọi trường hợp. Như ta sẽ thấy, những trường hợp một trong hai thành tố phai mờ nghĩa xảy ra phổ biến trong từ ghép đẳng lập.

– Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa và phạm vi biểu đạt của từ ghép, có thể phân từ ghép đẳng lập thành ba loại nhỏ là từ ghép đẳng lập gộp nghĩa, từ ghép đẳng lập đơn nghĩa và từ ghép đẳng lập hợp nghĩa.

+ Từ ghép đẳng lập gộp nghĩa: bao gồm những từ ghép thuộc mô hình ngữ nghĩa AB = A+B. Tức là loại mà nghĩa của từng thành tố cùng nhau gộp lại để biểu thị ý nghĩa khái quát chung của cả từ ghép, trong ý nghĩa chung đó có ý nghĩa riêng của từng thành tố. Chẳng hạn, từ quần áo chỉ đồ mặc nói chung, trong đó có cả quần lẫn áo.

Một số ví dụ về từ ghép gộp nghĩa: điện nước, xăng dầu, tàu xe, xưa nay, chạy nhảy, học tập, nghe nhìn, thu phát, ăn uống, tốt đẹp, may rủi, hèn mọn,thầy trò, vợ con…

+ Từ ghép đẳng lập đơn nghĩa: bao gồm từ ghép thuộc mô hình ngữ nghĩa AB = A hoặc B. Tức là loại mà nghĩa khái quát chung của cả từ ghép tương ứng với ý nghĩa của một thành tố có mặt trong từ. Ví dụ: núi non, binh lính, thay đổi, tìm kiếm,…

Do nghĩa của cả từ ghép tương đương với nghĩa của một thành tố nên thành tố còn lại có xu hướng bị mờ nghĩa hoặc bị mất nghĩa. Yếu tố này sẽ làm chỗ dựa cho ý nghĩa của cả từ ghép. Có thể nói sự mờ nghĩa của núc (bếp núc), búa (chợ búa), pheo (tre pheo) … chính là kết quả cực đoan của mô hình đơn nghĩa này.

Một số ví dụ về từ ghép đẳng lập đơn nghĩa: bếp núc, chợ búa, đường sá, áo xống, ăn mặc, ăn nói, viết lách, …

Chú ý về trật tự các thành tố trong từ ghép đẳng lập.

Bàn về từ ghép đẳng lập, người ta thường bàn đến khả năng hoán vị giữa các thành tố. Tuy nhiên cần chú ý là khả năng ấy không xảy ra phổ biến đối với toàn bộ lớp từ ghép đẳng lập, và không phải xảy ra vô điều kiện trong mọi trường hợp. Về hiện tượng này có thể nêu mấy nhận xét chung như sau:

+ Có thể hoán vị được đối với một số từ ghép gộp nghĩa trường hợp không có yếu tố Hán – Việt. Thí dụ: quần áo – áo quần, rủi may – may rủi, tươi tốt – tốt tươi,…

+ Khả năng hoán vị ít xảy ra giữa các thành tố trong từ ghép đơn nghĩa, đặc biệt đối với trường hợp từ ghép có yếu tố mờ nghĩa, mất nghĩa.

+ Khả năng hoán vị bị sự khống chế của một số yêu cầu:

• Không được phép làm thay đổi ý nghĩa của từ ghép ban đầu. Ví dụ: đi lại – lại đi ; cơm nước – nước cơm khác nghĩa.

• Không đi ngược lại tập quán cổ truyền của dân tộc. Ví dụ: nam nữ – nữ nam; ông bà – bà ông, anh em – em anh, vua quan – quan vua,… không hoán vị được.

• Không tạo nên những trật tự khó đọc. Chẳng hạn: sửa chữa dễ đọc hơn chữa sửa.

2.2. Từ ghép chính phụ:

Là những từ ghép mà ở đó có ít nhất một thành tố cấu tạo nằm ở vị trí phụ thuộc vào một thành tố cấu tạo khác, tức trong kiểu từ ghép này thường có một yếu tố chính và một yếu tố phụ về mặt ngữ pháp. Loại này có những đặc điểm sau:

– Xét về mặt ý nghĩa, nếu từ ghép đẳng lập có khuynh hướng gợi lên các sự vật, tính chất có ý nghĩa khái quát, tổng hợp, thì kiểu cấu tạo từ này có khuynh hướng nêu lên các sự vật theo mang ý nghĩa cụ thể.

– Trong từ ghép chính phụ, yếu tố chính thường giữ vai trò chỉ loại sự vật, đặc trưng hoặc hoạt động lớn, yếu tố phụ tường được dùng để cụ thể hóa loại sự vật, hoạt động hoặc đặc trưng đó.

– Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa, có thể chia từ ghép chính phụ thành hai tiểu loại:

+ Từ ghép chính phụ dị biệt: là từ ghép trong đó yếu tố phụ có tác dụng phân chia loại sự vật, hoạt động, đặc trưng lớn thành những loại sự vật , hoạt động, đặc trưng, cụ thể. Vì vậy có thể nói tác dụng của yếu tố phụ ở hiện tượng này là tác dụng phân loại. Thí dụ :

• máy may, máy bay, máy bơm, máy nổ, máy tiện,… • làm việc, làm thợ , làm duyên, làm ruộng, làm dâu,… • vui tính, vui tai, vui mắt, vui miệng,…

Chú ý, ở kiểu từ ghép này trật tự của các yếu tố trong từ ghép thuần Việt, hoặc Hán – Việt Việt hoá khác từ ghép Hán – Việt. ở hai trường hợp đầu, yếu tố chính thường đứng trước, ở trường hợp cuối, yếu tố phụ thường đứng trước. Ví dụ:

• vùng biển, vùng trời, xe lửa, nhà thơ,… • hải phận, không phận, hỏa xa, thi sĩ,…

+ Từ ghép chính phụ sắc thái hóa: là những từ ghép trong đó thành tố phụ có tác bổ sung một sắc thái ý nghĩa nào đó khiến cho cả từ ghép này khác với thành tố chính khi nó đứng một mình như một từ rời, hoặc khiến cho từ ghép sắc thái hóa này khác với từ ghép sắc thái hóa khác về ý nghĩa. Thí dụ , so sánh xanh lè với xanh và xanh biếc, …

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

Trang: 1 2 3

Cô Lập Và Xác Định Cấu Trúc Của Alkaloid Từ Lá Cây / 2023

Embed Size (px)

Tp ch Nghin cu Khoa hc 2004: 2 7-10 Trng i hc Cn Th

7

C LP V XC NH CU TRC CA ALKALOID

T L CY DIP H CHU NG (Phyllanthus nirurii. L.)

Nguyn Trng Tun1,

Phm Ngc Thnh v Nguyn Ngc Hnh2

ABSTRACT

From the etanol 98% extract of the dried leaves of Phyllanthus niruri.L.(Euphorbiaceae),

nirurine, a securineage alkaloid, has been isolated. The structure of this compound has been

elucidated by means of UV, IR, MASS and NMR spectroscopy as well as by comparison with

literature.

Keywords: Phyllanthus nirurii .L, alkaloid.

Title: Isolation and structure determination of Alkaloid from the leaves of Phyllanthus nirurii. L.

TM TT

T dch chit etanol 98% ca bt l cy kh Dip H Chu ng v bng phng php sc k

ct thng kho st thnh phn ha hc ca dch cao th ny, mt Alkaloid thuc h

Securinine c c lp ti phn on gii ly ct vi h dung mi gii ly l chloroform-

metanol=97:3. Hp cht ny c tn l nirurine. Cu trc ca hp cht ny c xc nh bng

cc phng php ha l hin i nh: ph t ngoi, ph hng ngoi, ph khi lng v ph cng

hng t ht nhn.

T khoa: Dip H Chu ng, Cao th, ph hng ngoi, ph khi lng, ph cng hng t

ht nhn Alkaloid, Securinine.

1 M U

Cy Dip H Chu ng c tn khoa hc l Phyllyanthus niruri.L., thuc h Thu Du

Euphorbiaceae ( Tt Li,1995), mc hoang Vit Nam, n , cc nc ng

DngTrong dn gian ngi ta s dng cy Dip H Chu ng cha cc bnh vim

thn ph thng, si thn, tr em suy dinh dng, vim rut, kit l, vim gan, iu kinh,

lc mu, iu huyt, ung nht, inh ru, l nga, rn rt cn.

Theo cc nghin cu gn y, cc alkaloid c lp c t cy u thuc loi securinine

(Hassarajani, S.A.,1986), (Joshi B. S., 1986) Cng trnh nghin cu ny tm hiu thnh

phn ha hc t dch chit etanol 98% ca bt l cy Dip H Chu ng v phn lp

c mt alkaloid. Bng cc phng php vt l nh o im nng chy, ph hng

ngoi (IR), t ngoi (UV), khi ph (MS), 1H-NMR, 13C-NMR, H-H COSY, 1H -13C

HMBC v 1H-13 C HMQC, so snh vi ti liu cng b xc nh c cu trc

ha hc ca alkaloid ny l nirurine (Petchnaree, Prapaisri; Bunyapraphatsara,

Nuntavan; Cordell, Geoffrey A. ; Cowe Heather J. ; Cox, Philip J.J. , 1986) (Hnh 1).

1 B Mn Ha, Khoa Khoa Hc, i Hc Cn Th 2 Phng Ha hc cc hp cht thin nhin-Vin Cng Ngh Ha Hc-Vin Khoa hc v Cng Ngh Vit Nam

Tp ch Nghin cu Khoa hc 2004: 2 7-10 Trng i hc Cn Th

8

securinine nirurine

Hnh 1: Cu trc ca securinine v nirurine

2 THC NGHIM

2.1 Nguyn liu

Mu l cy Dip H Chu ng do Trung tm ging cy trng v dc liu min Trung-

Cng ty c phn dc liu Trung ng 2 cung cp. Cy c thu hoch vo ma ma

thng 9 vo ma kh thng 3.

2.2 Thit b

– im chy c o trn my Electrothemal IA 9000 Series, dng mao qun khng hiu chnh ti Vin Cng Ngh Ha Hc.

– Ph hng ngoi IR ghi trn my quang ph hng ngoi Bruker 40, dng vin nn KBr ti Vin Cng Ngh Ha Hc.

– Ph UVVis o trn my Jasco 500, cuvet thch anh 1 = 1cm ti Vin Cng Ngh Ha Hc.

– Ph khi lng c do trn thit b 1100 Series MSDIon TRAP ti Vin Cng Ngh Ha Hc.

– Ph cng hng t ht nhn: 1 H-NMR; 13C-NMR; H-HCOSY; 1H-13CHMBC v 1H-13C HMQC c o trn my IEOL JNM LA-400 ti i Hc Y Dc TOYAMA

Nht Bn. Dung mi CDCl3, MeOD, cht ni chun TMS, my cng hng tn s

400MHz.

– Ph DEPT c thc hin ti trung tm phn tch th nghim Thnh ph H Ch Minh.

2.3 Chit xut v c lp alkaloid Nirurine

Bt l kh ca cy Dip H Chu ng (19kg) c tm vi dung dch amoniac 12%,

kh nhit phng trong 24 gi, sau c chit 3 ln vi etanol 98% nhit

phng. Dch chit etanol c c quay di p sut km thu c cn st etanol. Ha

tan cn ny vi dung dch acid clohydric1N, lc. Dch lc c kim ha n pH = 8-9,

sau trch vi chloroform. Dch trch chloroform sau khi ra vi nc ct n pH = 7,

lm khan vi natrisunfat, c c quay vi p sut km thu c 23,2 gam cn alkaloid

th (Hiu sut: 0,12 %).

T cn alkaloid th, dng sc k ct vi silicagel 60H Merck (230 400 Mesh Asim)

tch nirurine, vi h dung mi gii phn cc tng dn: ete du ha, ete du ha- clorofoc,

clorofoc, clorofoc- metanol. Mi phn on gii ly c hng l 500ml, c thu hi dung

Tp ch Nghin cu Khoa hc 2004: 2 7-10 Trng i hc Cn Th

9

mi v kim tra trn sc k bn mng gp cc phn on c Rf ging nhau. Tt c thu

c 55 phn on. Ti phn on clorofoc- metanol = 97:3 thu c 2,46 gam cn mu

xanh, kt kinh nhiu ln trong metanol thu c 1,42 gam (Hiu sut: 0,007%) tinh th

nirurine hnh kim mu trng (Rf = 0,64; h dung mi chloroform: metanol = 6:1)

3 KT QU NGHIN CU V THO LUN

Nirurine c phn lp t dch chit etanol 98% ca l cy Dip H Chu ng di

dng tinh th hnh kim, mu trng. im nng chy 205 2080C.

Ph hng ngoi (IR) ch ra s hin din ca nhm carbonyl ca mt ,- bt bo ha –

lacton ti max 1755 cm-1. Kt lun ny c chng minh bi ph t ngoi U.V.( max =

261 nm).

Ph khi lng (MS) c pic [M+H]+ m/z = 220.18. Cng thc phn t C12H13NO3 (M

= 219) c suy ra t cu trc ca nirurine hon ton ph hp vi ph khi lng.

Ph 1H NMR, H H COSY, 13C NMR, HMQC, HMBC ca nirurine c dn trong

Bng 1 v Bng 2.

Bng 1: Ph 1H NMR v H H COSY ca nirurine

Proton 1H (ppm) H, H COSY

H-6 5.732 (1H,t,J = 1.95 Hz) H-5 , H – 5

H-2a 4.956 (1H,dd, J=2.92 Hz) H-2 , H – 2

H-4 4.212 (1H,dd,J= 4.36, 6.23 Hz) H- 4, H-4a, H- 10, H – 10

H- 4a 3.533 (1H,dd,J= 3.16, 4.36) H-4a, H-4, H-5, H – 5

H-8b 3.264 (1H,dt,J= 1.92, 6.07) H-8b, H-1, H – 1

H-5 3.336 (1H,dt,J= 19.50, 2.96, 2.16) H-5, H-5, H 6, H-4a

H-5 2.954 (1H,dt,J= 19.50, 2.20) H-5, H-5, H-6, H-4a

H-10 2.282 (1H, d, J = 14.15) H-10, H-4, H-8b

H-1 2.218 (1H,m) H-1, H 8b, H-2, H – 2

H-1 2.191 (1H,m) H-1, H 8b, H-2, H – 2

H-2 2.102 (1H,m) H-2, H 1, H-1, H 2a

H-2 2.036 (1H,m) H-2, H 1, H-1, H 2a

H-10 1.615 (1H, ddd, 1.96, 4.36, 14.15) H-8b, H- 10, H 4a

Bng 2: Ph 13C NMR, DEPT, HMQC v HMBC ca nirurine

Carbon 13C (ppm) DEPT HMQC HMBC

7 173.315 Trit tiu H-6

5a 172.632 Trit tiu H-6, H-5, H-5, H-10, H-10

6 109.818 Mi dng H-6 H-5

2a 98.465 Mi dng H-2a H-4, H-8b, H-2, H-2

8a 82.463 Trit tiu H-6, H-4, H-8b, H-1, H-1, H-10, H-10

4 70.114 Mi dng H-4 H-5, H-10, H-10

8b 63.425 Mi dng H-8b H-2a, H-2, H-2, H-10, H-10

4a 58.316 Mi dng H-4a H-5, H-10

10 33.997 Mi m H-10, H-10 H-8b

2 30.081 Mi m H-2, H-2 H-2a, H-1, H-1

5 23.746 Mi m H-5, H-5

1 23.224 Mi m H-1, H-1 H-2a, H-2, H-2

4 KT LUN

– T l cy Dip H Chu ng (Phyllanthus nirurii. L.) tch c 1 hp cht alkaloid.

Tp ch Nghin cu Khoa hc 2004: 2 7-10 Trng i hc Cn Th

10

– Bng cc k thut phn tch ha l hin i xc nh c hp cht alkaloid l Nirurine.

TI LIU THAM KHO

Tt Li. Nhng cy thuc v v thuc Vit Nam, trang 133, NXB Khoa hc v K thut (1995).

Hassarajani, S.A. and Mulchandani, N.B. Indian J.Chem.Sect.B,29 (9),801 803 (1990)

Joshi B. S., Gawad D.H., Pelletier S.W., Kartha G. and Bhandary K.J. Nat.Prod., 49 (4), 614 20

(1986).

Petchnaree, Prapaisri; Bunyapraphatsara, Nuntavan; Cordell, Geoffrey A. ; Cowe Heather J. and Cox,

Philip J.J. Chem. Soc. Perkin Trans.1, 1551 1556 (1986).

Peter J. Houghton, Tibebe Z. Woldemariam, Siobhan Oshea and S.P. Thyagarajan. Phytochemistry,

43 (3), 715- 717 (1996).

V Vn Chi. T in cy thuc Vit Nam, trang 235, NXB Y hc (1999).

Xác Định Thành Phần Trong Câu. Ôn Tập Về Từ Loại / 2023

I. MỤC TIÊU:

-HS xác định được đúng hai thành phàn trong câu: CN-VN.

-HS tiếp tục ôn tập về từ loại.

II. HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC: 1. Lí thuyết:

-HS nêu lại câu gồm mấy thành phần chính ? đó là những thành phần nào?

-Bộ phạn thứ nhất trả lời cho câu hỏi gì?

-Bộ phận thứ hai trả lời cho câu hỏi gì?

2. HS LÀM BÀI TẬP. 1. Xác định chủ ngữ, vị ngữ có trong các câu sau:

a. Ngoài đồng, lúa /đang chờ nước. Chỗ này, các xã viên /đang đào mương. Chỗ kia , các xã viên /đang tát nước. Mọi người /đang ra sức đánh giặc hạn.

b. Tiết trời/đã về cuối năm.Trên cành lê, giữa đám lá xanh mơn mởn, mấy bông hoa trắng xoá/điểm lác đác.

2. Tìm danh từ, động từ, tính từ có trong hai câu văn trên BT1.

GV hướng dẫn HS về trạng ngữ.

3. Tìm chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ có trong câu sau:

– Mấy hôm trước, trời mây xám xịt, mưa ngâu rả rích, đường lầy lội.

– Trong các thửa ruộng, hàng lúa xanh tươi rập rờn theo chiều gió.

– Xa xa, đám lúa giống mới đã ngã màu vàng.

– Một mùa xuân tươi đẹp lại về. Từ những cành cây khẳng khiu, xams xịt, những mầm non xanh mởn đã nhú lên.

-Quyển sách em mới mua rất hay.

-Bạn Việt lớp em luôn học hành chăm chỉ.

-Mấy chiếc bút mới mua đều hỏng ngòi.

-Mùa này, bãi ngô của hợp tác xã quê em rất xanh tốt. Mới dạo nào, những cây ngô còn lấm tấm như mạ non. Chỉ ít lâu sau, ngô đã thành cây cao lớn . Quanh thân cây, những lá ngô rộng dài trỗ ra mạh mẽ, nõn nà. Trên ngọn, một thứ búp như kết bằng nhung và phấn vươn lên.

4. Hãy chỉ ra cái đúng và hay của sự so sánh trong những câu thơ sau:

a. Trẻ em như búp trên cành

Biết ăn, ngủ, biết học hành là ngoan.

b. Bà như quả ngọt chín rồi

Càng thêm tuổi tác càng tươi lòng vàng.

( HD: a. Đúng vì trẻ em giống như ” búp trên cành”đều là những vật còn tươi non ,…)

b. Đúng vì bà sống đã lâu , tuổu đã cao , giống như ” quả ngọt chín rồi”-đều phát triển đến độ già dặn , …)

Là vàng hoa cúc

Như nghìn con mắt

Mở nhìn trời êm.

Quang Huy