Top 15 # Xung Đột Lợi Ích Trong Công Ty Cổ Phần / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 11/2022 # Top Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Quản Trị Xung Đột Lợi Ích Trong Công Ty / 2023

Chúng ta nghe thông tin về sự sụp đổ của Enron và World Com và cho rằng điều này sẽ không bao giờ xảy ra ở Boise. Nhưng nghĩ kỹ hơn chúng ta sẽ nhớ ra rằng 10 năm trước Boise cũng có một công ty ở trong tình trạng tương tự của Enron, đó là Morrison Knudsen. Vậy tại sao các công ty lại bị tan rã và điều gì cần phải làm để bảo vệ các nhân viên, nhà quản lý, và các cổ đông?

Mười năm trước ở Boise, tập đoàn Morrison Knudsen cũng gặp phải tình trạng tương tự như Enron. Vào năm 1994, công ty đã bị thua lỗ mất 300 triệu đôla. Các nhân viên làm việc lâu năm đã bị mất kế hoạch lương hưu. Còn giá cổ phiếu thì giảm từ 30 đôla xuống còn 5 đôla trong vòng vài tháng. Vậy điều gì đã xảy ra với họ?

Trong vòng hàng thập kỷ, MK đã từng là một công ty rất mạnh. Công ty này đã xây dựng con đập nổi tiếng Hoover và đường ống xuyên qua Alaska. Nhưng vào giữa thập kỷ 90 công ty đã sụp đổ.

Theo ông Thomas Chandler, luật sư tại công ty Hawley Troxell and Hawley, và là chuyên gia về Quản chế doanh nghiệp, MK sụp đổ do Ban giám đốc của công ty đã không hoàn thành nhiệm vụ kiểm tra và cân bằng các hoạt động của hệ thống quản lý cấp cao.

Một số các sự kiện đã chứng tỏ đổ vỡ xảy ra là do Ban quản trị thiếu tầm nhìn bao quát và giám sát. Chủ tịch hội đồng quản trị (CEO) Bill Agee nhận được mức lương và các ưu đãi cao ngất nhưng lại điều hành công ty “từ xa” – từ nhà của ông ở vùng bờ biển California. Vợ của ông là Mary Cunningham cũng điều hành MK Foundation và hướng các nguồn quỹ đến những sở thích cá nhân của bà. Kết cục là Agee bắt đầu bán đi các tài sản của công ty để đạt được các mục tiêu về tài chính… hành vi điển hình ở những công ty có vấn đề về quản lý.

Quản trị xung đột trong công ty (Corporate Governance) – Làm việc đúng và làm đúng việc

Chúng ta được nghe rất nhiều về quản trị xung đột trong công ty trên các phương tiện truyền thông, trongkinh doanh, trong trường đại học. Vậy đó là cái gì và nó có tác dụng như thế nào đối với các doanh nghiệp?

Theo Thomas Chandler, luật sư tại công ty Hawley Troxell, Corporate governance là một tập hợp các cấu trúc và quy trình mà các tổ chức thực hiện để đảm bảo lãnh đạo hiệu quả và đúng đắn. Cấu trúc tập trung vào cách mà các lãnh đạo và quá trình ra quyết định diễn ra trong một tổ chức. Ví dụ, hầu hết các công ty thường áp dụng quá trình ra quyết định theo hệ thống cấp bậc, trong khi đó các hội hợp danh, giống như các công ty kế toán hay công ty luật, lại lựa chọn quyền ra quyết định chia đều cho tất cả các thành viên.

Do vậy, các quá trình ra quyết định, bị chi phối bởi cấu trúc lãnh đạo, làm sáng tỏ rằng ai là người chịu trách nhiệm và phải giải thích cho các quyết định đưa ra.

Vì vậy, theo ông Chandler, các quá trình của quản trị xung đột trong công ty giúp chúng ta hiểu rõ ai là người đưa ra các quyết định – khi nào thì tăng lương cho nhân viên, khi nào thì mở thêm kho hàng, khi nào thì bán đi một tài sản của doanh nghiệp. Và corporate governance còn xác định xem ai chịu trách nhiệm và giải thích cho các quyết định đó.

Sự cần thiết phải xây dựng một cấu trúc như vậy hình thành từ các vấn đề tương tự như các vấn đề đã xảy ra ở Enron – hoặc là việc điều hành từ xa như ở Morrison Knudsen vào giữa những năm 1990. Nếu doanh nghiệp đã có cơ cấu và quá trình quản lý được thiết kế tốt, tất nhiên sẽ đạt được hoạt động hiệu quả.

Quản trị xung đột trong công ty – Làm thế nào để các nhân viên biết được họ phải làm gì?

Các nhân viên ít khi sử dụng đến các hệ thống có tính nguyên tắc như chính sách của công ty, và họ chỉ dùng đến chúng trong quá trình đưa ra các quyết định. Trái lại, những thứ được sử dụng rất thường xuyên lại là các quy định không hề có tính nghi thức và thường không được viết ra. Những quy tắc như vậy mới thực sự định hướng hành vi của nhân viên.

Hầu hết các doanh nghiệp cho rằng các hệ thống thông tin mang tính thân mật sẽ giúp nhân viên biết cách làm việc theo nguyên tắc và nội quy. Và, theo luật sư Thomas Chandler, điều này phát huy hiệu quả ở hầu hết mọi thời điểm.

Nhưng đôi khi, sự việc trở nên trục trặc khi một vị quản lý không công khai các loại quỹ, bán đi tài sản công ty, hoặc lạm dụng các ưu đãi công ty dành cho. Khi đó, corporate governance có thể làm nhiệm vụ kiểm tra và cân đối lại quyền lực của bộ phận quản lý cấp cao.

Những nguyên tắc như vậy có thể không được viết ra, và thường được gắn chặt với văn hóa doanh nghiệp, quá trình ra quyết định, và cấu trúc của công ty. Văn hóa Corporate governance cho phép Giám đốc có quyền chất vấn về các quyết định của ban quản lý; ngoài ra còn giúp bảo vệ nhân viên khỏi những ảnh hưởng của những việc làm thiếu trách nhiệm của quản lý. Tuy nhiên, nếu văn hóa này bị phá hủy, thì vai trò kiểm tra và cân bằng của nó cũng bị sói mòn. Vì vậy, luật pháp đã thiết lập nên những quy chế bắt buộc về corporate governance.

Cô bạn người Đức của tôi rất mê nói chuyện chính trị và thường xuyên phàn nàn về các chính sách của nước Mỹ. Nhưng gần đây, cô ấy đã đề cập đến một vấn đề tôi cho là hoàn toàn đúng.

Ngược lại, ở Mỹ, có những người dám đứng lên thậm chí họ có thể bị mất việc làm, mất uy tín, và có thể cả mạng sống để khẳng định đến cùng là việc làm đó hay cái đó là sai và phải được thay đổi.

Việc là một giám đốc thường đồng nghĩa với lương cao, ưu đãi lớn, và vị trí quyền lực trong tổ chức. Mặc dù vậy, ngày nay những vị giám đốc không thi hành đúng phận sự có thể bị kiện ra tòa vì những việc làm của mình.

Theo Thomas Chandler, thuyết gia về vấn đề quản trị xung đột trong công ty, có một vài biện pháp giúp các Giám đốc trong Hội đồng quản trị thực hiện các công việc của mình.

Khi các Giám đốc bị kiện vì không hoàn thành nhiệm vụ giám sát và cung cấp các thông tin cần thiết cho các cổ đông, họ có thể phải trả bằng tiền của mình chứ không phải là tiền của công ty hay tiền của công ty bảo hiểm. Một biện pháp tốt nhất thực hiện sau cùng là các kiểm toán viên bên ngoài công ty không nên cung cấp báo cáo cho ban quản lý mà thay vào đó, nên cung cấp báo cáo cho đội kiểm toán của Ban quản trị.

Xung Đột Lợi Ích Trong Quá Trình Hoạt Động Của Công Ty Chứng Khoán / 2023

Bài viết: Xung đột lợi ích trong quá trình hoạt động của công ty chứng khoán theo pháp luật Việt Nam

Tác giả: Phan Phương Nam

Tạp chí Khoa học pháp lý số 01(113)/2018 – 2018, Trang 39-46

TÓM TẮT

ABSTRACT:

This article deals with legal issues related to conflicts of interests in the operation of securities companies. The article has shown that conflicts of interest are unavoidable when securities companies provide many services. As a result, the law needs to regulate these conflicts of interests in order to protect investors and limit the negative effects of conflict of interest on the development of the stock market. The article also presents the experience of nations when addressing this issue and made some recommendations to improve regulatory provisions on conflicts of interest in securities companies.

TỪ KHÓA: thị trường chứng khoán, công ty chứng khoán, xung đột lợi ích, bảo vệ nhà đầu tư, bức tường Trung Hoa,

KEYWORDS: securities companies, Chinese walls, conflicts of interests, investor protection, stock market,

Về cơ bản, công ty chứng khoáng (CTCK) là chủ thể được thành lập và hoạt động nhằm tiến hành các hoạt động kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoáng (TTCK). Thông thường, CTCK có thể tiến hành các hoạt động kinh doanh như: môi giới chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán và tự doanh chứng khoán. Tùy theo từng điều kiện và sự cho phép của pháp luật, CTCK có thể được phép tiến hành một, một số hoặc tất cả các hoạt động cung ứng dịch vụ nêu trên. Tuy nhiên, nếu CTCK được phép tiến hành cùng lúc nhiều hoạt động cung ứng dịch vụ chứng khoán và cả hoạt động tự doanh thì sự xung đột lợi ích xuất hiện càng nhiều.[1] Nếu CTCK chỉ tiến hành một trong các hoạt động nêu trên thì có lẽ sự phức tạp và xung đột lợi ích khó có điều kiện xuất hiện.[2]

Bài viết cùng số tạp chí

Ở Việt Nam hiện nay chưa có quy định pháp luật xác định khái niệm xung đột lợi ích. Tuy nhiên, thuật ngữ này đã xuất hiện từ rất lâu trong hoạt động của TTCK. Theo Norman S. Poser thì: “xung đột lợi ích chỉ một tình trạng mà trong đó các lợi ích của một người có thể xung đột với một nhiệm vụ ủy thác mà họ phải gánh chịu, hoặc trong đó một người có khả năng mâu thuẫn nhiệm vụ ủy thác cho hai hoặc nhiều người”.[3] Nói cách khác, xung đột lợi ích là thuật ngữ để chỉ tình trạng mà ở đó lợi ích của chủ thể này sẽ xung đột với lợi ích của chủ thể khác, sự xung đột lợi ích này không đảm bảo được các sự công bằng, trung thực trong hoạt động của TTCK. Vì vậy, trong phạm vi bài viết, có thể hiểu rằng: “xung đột lợi ích trong quá trình hoạt động của CTCK là sự mâu thuẫn lợi ích có thể có giữa các chủ thể trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh của CTCK”.

Với cách hiểu như trên, xung đột lợi ích trong quá trình hoạt động của CTCK có những đặc điểm như sau:

– Xung đột lợi ích luôn có sự tiềm ẩn mâu thuẫn về lợi ích trong quá trình hoạt động kinh doanh của CTCK.

– Xung đột lợi ích có thể xuất hiện trong mối quan hệ giữa CTCK – khách hàng nhưng cũng có thể xuất hiện bởi mối quan hệ giữa khách hàng – CTCK – khách hàng.

– Xung đột lợi ích có thể xuất hiện trong quá trình thực hiện các nghĩa vụ của CTCK với thực hiện quyền kinh doanh của CTCK hoặc trong quá trình CTCK thực hiện nghĩa vụ của nó với các khách hàng.

Nhìn chung, xung đột lợi ích trong hoạt động kinh doanh chứng khoán của CTCK có thể tồn tại dưới các hình thức sau:

Thứ nhất, trong hoạt động môi giới của CTCK, sự xung đột lợi ích trong hoạt động này có thể xuất hiện các trường hợp như:

Xung đột lợi ích có thể xuất hiện khi CTCK tiến hành hai hoạt động kinh doanh chứng khoán là hoạt động tự doanh và hoạt động môi giới chứng khoán. Theo đó, để đạt được lợi ích của mình trong hoạt động tự doanh, đôi khi CTCK sẽ thực hiện những hoạt động chèn lệnh, giành mua, giành bán với khách hàng[4] vì những lợi thế của nó có được.

iii. Sự xung đột lợi ích có thể xuất hiện khi CTCK vừa thực hiện hoạt động môi giới vừa thực hiện hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán. Theo đó, là chủ thể bảo lãnh phát hành chứng khoán, CTCK có thể biết những thông tin nội bộ có giá trị và ảnh hưởng đến giá chứng khoán. Sau đó hoặc chính CTCK sử dụng thông tin này để thu hút sự quan tâm của khách hàng về loại chứng khoán đó hoặc sử dụng các thông tin để hưởng lợi bất chính từ mua, bán chứng khoán. Điều này gây nên sự xung đột lợi ích giữa các khách hàng với nhau và lợi ích của CTCK và khách hàng.

Thứ hai, xung đột lợi ích có thể xuất hiện trong hoạt động tư vấn đầu tư của CTCK.

Xung đột giữa hoạt động tư vấn và hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán. Khi tiến hành bảo lãnh phát hành chứng khoán, tùy theo cam kết mà CTCK có thể có nghĩa vụ mua hay không mua một lượng chứng khoán của đợt phát hành. Theo đó, nếu CTCK có nghĩa vụ phải mua lại toàn bộ hoặc một phần lượng chứng khoán phát hành khi lượng chứng khoán chào bán bán không hết thì CTCK có thể lợi dụng vị trí là người tư vấn để có những tác động, định hướng thông qua việc đưa ra những khuyến nghị theo hướng tích cực cho chứng khoán mà CTCK đang chịu trách nhiệm bảo lãnh phát hành. Đôi khi những lời tư vấn và khuyến nghị đó không đảm bảo tính khách quan và hợp lý, có thể gây bất lợi cho khách hàng.

Xung đột giữa hoạt động tư vấn và hoạt động tự doanh. Cũng vì mục tiêu sinh lợi, đôi khi để tối đa hóa lợi nhuận có được hoặc thực hiện các hoạt động cắt lỗ, CTCK có thể tư vấn cho khách hàng mua, bán trái chiều trong giao dịch chứng khoán với CTCK. Rõ ràng, trong hoạt động này, CTCK là người biết rõ nhưng khách hàng sẽ không biết rõ.

Thông qua các hình thái có thể tạo nên những sự xung đột lợi ích nhất định trong hoạt động cung ứng dịch vụ của CTCK, có thể kết luận rằng xung đột lợi ích là một đặc trưng quan trọng trong hoạt động cung ứng dịch vụ của CTCK dù đó là CTCK chỉ tiến hành hoạt động môi giới hay cùng với hoạt động môi giới là các hoạt động khác như tư vấn đầu tư chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán. Những xung đột lợi ích trên đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của dịch vụ do CTCK cung cấp. Điều này làm méo mó đi những quan hệ phát sinh trong hoạt động giao dịch chứng khoán trên TTCK, làm sai lệch việc hình thành giá theo quy luật về giá. Vì vậy, các quốc gia có những biện pháp tác động vào hoạt động của CTCK nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của TTCK nói chung và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng nói riêng cho các nhà đầu tư chứng khoán, các chủ thể khác tham gia vào hoạt động của TTCK.

2. Kinh nghiệm hạn chế sự xung đột lợi ích trong quá trình hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán theo kinh nghiệm pháp luật nước ngoài

Theo đó, thuật ngữ “bức tường Trung Hoa” là một ẩn dụ để mô tả tập hợp các quy định nội bộ và thủ tục (đôi khi bao gồm cả thủ tục để giám sát những quy tắc và thủ tục) được thành lập bởi một công ty với mục đích ngăn ngừa thông tin trong việc sở hữu một phần của các hãng (hoặc của một bộ phận trực thuộc của doanh nghiệp) truyền thông tin đó đến các bộ phận khác của công ty hoặc tập đoàn.[6]

Thực chất, “bức tường Trung Hoa” được đưa ra nhằm để hạn chế hoạt động giao dịch nội gián trên TTCK. Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn có những trường hợp các CTCK khó có thể hạn chế được toàn bộ việc trao đổi, rò rỉ thông tin giữa các bộ phận trong công ty hoặc nếu có thì chỉ là sự hạn chế hoạt động trên xảy ra trong phạm vi, mức độ nhất định. Bởi lẽ đó mới chỉ là sự tách biệt giữa các phòng, ban trong CTCK nhưng chưa thể loại bỏ hoàn toàn tình trạng xung đột lợi ích khi mà vẫn có những chủ thể nắm bắt và sử dụng thông tin đó một cách “vô ý” hoặc cố ý để không đảm bảo tính công bằng của TTCK. Ví dụ: Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc CTCK hoàn toàn có quyền tiếp cận các thông tin của đợt bảo lãnh phát hành chứng khoán từ bộ phận bảo lãnh, các khuyến nghị từ phòng tư vấn đầu tư, các nhận xét về tình hình chứng khoán, các đề nghị mua, bán chứng khoán từ phòng môi giới. Đó là khiếm khuyết của “bức tường Trung Hoa”.

Bên cạnh đó, việc sử dụng “bức tường Trung Hoa” cũng gặp sự phản đối nhất định. Theo đó, mặc dù “bức tường Trung Hoa” có thể giảm xung đột giữa các nhà phân tích về lợi ích, nhưng biện pháp này đã làm gia tăng đáng kể chi phí cho hoạt động thực hiện.[9] Trong đó, cần phải đề cao tính tuân thủ đạo đức nghề nghiệp của các nhân viên hành nghề chứng khoán, xây dựng đội ngũ kiểm tra, kiểm soát nội bộ để kiểm soát việc tuân thủ và thực hiện các quy trình trong hoạt động cung ứng dịch vụ của các CTCK. Những người theo quan điểm này cho rằng xung đột lợi ích có thể được chữa khỏi bằng cách công bố thông tin đầy đủ.[10] Họ lập luận rằng việc ra đời “bức tường Trung Hoa” là nhằm hạn chế tình trạng giao dịch nội gián. Giao dịch nội gián có tồn tại là dựa trên thông tin có giá trị mà nhà đầu tư có thể trục lợi. Do đó, để hạn chế giao dịch nội gián, những người thuộc nhóm quan điểm này cho rằng: “tiết lộ thông tin liên tục là một phương tiện quan trọng để tránh xung đột trong vấn đề chứng khoán”.[11] Việc tăng tiết lộ và thực thi các quy định công bố thông tin sẽ loại bỏ sự hiện diện của thông tin bên trong các thị trường, ngăn chặn mọi hình thức của giao dịch nội gián.[12] Vì vậy, việc đưa các quy định trên vào trong pháp luật cũng được nhà làm luật tính toán đến.

Nhóm quan điểm thứ hai cũng có những sự hạn chế nhất định như sau:

Một là, mặc dù kêu gọi tuân thủ chế độ công bố thông tin là khá hay nhưng cần phải xác định thông tin nào là thông tin cần công bố và thông tin nào là thông tin không cần công bố. Thời gian nào được xác định là hợp lý cho việc công bố thông tin cũng là một thách thức không nhỏ cho nhà lập pháp.

Hai là, cơ chế kiểm tra giám sát hoạt động tuân thủ pháp luật về công bố thông tin sẽ được thực hiện như thế nào? Thông thường, pháp luật chỉ xử lý khi các thông tin không được công bố hoặc công bố không đúng quy định. Bởi những hoạt động vi phạm này có thể đã phát sinh hậu quả nhất định trên TTCK. Một khi đã phát sinh hậu quả thì nhà nước mới tiến hành xử lý.

Hiện nay, hầu hết các quốc gia áp dụng cả hai biện pháp trên nhằm thể hiện sự dung hòa, sử dụng ưu điểm của biện pháp này bù đắp vào nhược diểm của biện pháp kia. Cách làm này giúp cho việc bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư trên TTCK được thực hiện hiệu quả hơn, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng xung đột lợi ích trong hoạt động kinh doanh của CTCK.

3. Thực trạng pháp luật về hạn chế xung đột lợi ích trong hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán ở Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện

Như đã trình bày, pháp luật Việt Nam không đưa ra bất kỳ định nghĩa pháp lý nào về xung đột lợi ích nói chung và xung đột lợi ích trong quá trình hoạt động của CTCK nói riêng. Tuy không có định nghĩa về thuật ngữ này nhưng pháp luật Việt Nam vẫn xác định có sự tồn tại của vấn đề này và đã đặt ra các quy định pháp luật điều chỉnh. Theo đó, mặc dù không có sự tuyên bố rõ ràng nhưng trên thực tế, pháp luật Việt Nam đã lựa chọn giải pháp là kết hợp các nội dung trong “bức tường Trung Hoa” và ban hành các quy định về công bố thông tin nhằm hạn chế sự xung đột lợi ích trong hoạt động của CTCK. Tuy nhiên, những quy định nhằm hạn chế xung đột lợi ích trong quá trình hoạt động kinh doanh của CTCK không nằm tập trung tại một điều khoản cụ thể mà nằm rải rác trong các nội dung về nghĩa vụ của CTCK, trách nhiệm của CTCK, các trường hợp cấm hoặc các quy định trong hoạt động cụ thể chào bán chứng khoán. Những điều khoản này cũng được quy định dàn trải trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật như: Luật Chứng khoán năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2010), Nghị định số 108/2013/NĐ-CP, Thông tư số 210/2012/TT-BTC, Thông tư số 217/2013/TT-BTC, Thông tư số 52/2015/TT-BTC…

Trong từng hoạt động nghiệp vụ, pháp luật có những quy định cụ thể như:

Một là, trong hoạt động môi giới chứng khoán, pháp luật yêu cầu CTCK phải quản lý tách biệt chứng khoán của từng nhà đầu tư, tách biệt tiền và chứng khoán của nhà đầu tư với tiền và chứng khoán của CTCK. Ngoài ra, CTCK phải ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước lệnh của công ty hoặc cấm CTCK thực hiện việc bán hoặc cho khách hàng bán chứng khoán khi không sở hữu chứng khoán và cho khách hàng vay chứng khoán để bán theo quy định của Bộ Tài chính. CTCK không được đưa ra ý kiến về việc tăng hay giảm giá chứng khoán mà không có căn cứ để lôi kéo khách hàng tham gia giao dịch, thỏa thuận hoặc đưa ra lãi suất cụ thể hoặc chia sẻ lợi nhuận hoặc thua lỗ với khách hàng để lôi kéo khách hàng tham gia giao dịch.

Hai là, trong nghiệp vụ tự doanh, CTCP phải công bố cho khách hàng biết khi mình là đối tác trong giao dịch thỏa thuận với khách hàng. Trong trường hợp lệnh mua, bán chứng khoán của khách hàng có thể ảnh hưởng lớn tới giá của loại chứng khoán đó, CTCK không được mua, bán trước cùng loại chứng khoán đó cho chính mình hoặc tiết lộ thông tin cho bên thứ ba mua, bán chứng khoán đó… [15]

Ba là, trong hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán, pháp luật quy định CTCK không được có hành vi cung cấp thông tin sai sự thật để dụ dỗ hay mời gọi khách hàng mua bán một loại chứng khoán nào đó, cung cấp thông tin sai lệch, gian lận, hoặc gây hiểu nhầm cho khách hàng…[16]

Bên cạnh đó, chế độ về công bố thông tin cũng đã được pháp luật quy định cơ bản như hoạt động công bố thông tin của CTCK, của các tổ chức phát hành, công ty đại chúng, công bố thông tin của hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng…[17]

Tuy nhiên, bên cạnh những thành công thì pháp luật điều chỉnh vào vấn đề này cũng có một số hạn chế nhất định sau :

Như đã xác định, sự xung đột lợi ích trong hoạt động của CTCK là điều không thể tránh được trong quá trình cung ứng dịch vụ của CTCK. Do vậy, để góp phần hạn chế và kiểm soát sự xung đột lợi ích trên, pháp luật cần có những điều chỉnh nhất định vào quá trình cung ứng dịch vụ này. Một trong các quy định đó là sự điều chỉnh về đạo đức nghề nghiệp của người hành nghề chứng khoán. Điều này cũng chính là một yêu cầu trong nguyên tắc số 23 của Bộ nguyên tắc quản lý thị trường chứng khoán của Tổ chức Quốc tế các Ủy ban Chứng khoán (IOSCO). Theo đó, các tổ chức trung gian tài chính phải thực hiện việc tuân thủ tiêu chuẩn về tổ chức nội bộ, thực hiện nghiệp vụ nhằm bảo vệ lợi ích nhà đầu tư, quản lý rủi ro… Do đó, pháp luật cần phải yêu cầu CTCK xây dựng các sổ tay nghiệp vụ, ban hành quy tắc đạo đức của người hành nghề chứng khoán trong công ty.[18] Tuy nhiên, dường như những quy định này vẫn chưa phát huy được hiệu quả trên thực tế. Những sự kiện xảy ra trên TTCK Việt Nam đã minh chứng sự không tuân thủ và vi phạm các nguyên tắc đạo đức hành nghề có thể gây ra những thiệt hại không nhỏ về tài chính cũng như ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh, danh tiếng của tổ chức cung cấp dịch vụ trên thị trường. Nghiêm trọng hơn, nó có thể làm suy giảm lòng tin của công chúng đầu tư – yếu tố vốn cần rất nhiều thời gian để tạo dựng và nhiều nỗ lực để duy trì.[19] Quy định trên chưa phát huy được ý nghĩa bởi lẽ còn nhiều vấn đề chưa được điều chỉnh rõ ràng. Đơn cử, pháp luật yêu cầu các CTCK phải ban hành quy tắc đạo đức hành nghề chứng khoán. Tuy nhiên, quy tắc này bao gồm những nội dung gì thì pháp luật lại không đề cập.

Với nhiệm vụ là xây dựng quy chế về đạo đức nghề nghiệp cho các thành viên của Hiệp hội, Hiệp hội kinh doanh chứng khoán chính là tổ chức thực hiện hỗ trợ và giúp đỡ các CTCK xây dựng quy tắc đạo đức hành nghề chứng khoán của công ty. Trên thực tế, Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Việt Nam đã ban hành Quyết định số 20/QĐ-HHKDCK ngày 22/11/2006 về việc ban hành Quy tắc ứng xử của CTCK. Tuy nhiên, những quy định trong quyết định này vẫn còn mang tính chung chung và chưa chi tiết. Điều này gây khó khăn rất lớn trong việc ban hành và áp dụng quy tắc trong hoạt động cụ thể và hành nghề trực tiếp của người hành nghề chứng khoán tại các CTCK.

Vì vậy, đối với hạn chế này, chúng tôi cho rằng pháp luật Việt Nam nên tiến hành từng bước cho phù hợp với sự phát triển của TTCK. Trong giai đoạn hiện nay, khi mà Hiệp hội kinh doanh chứng khoán chưa có đủ điều kiện về nhân lực, vật lực thì nên chăng cơ quan nhà nước quản lý trong lĩnh vực chứng khoán (Ủy ban chứng khoán nhà nước) hay cơ quan quản lý về lĩnh vực tài chính (Bộ Tài chính) cần ban hành quy tắc mẫu để các CTCK dựa vào đó xây quy tắc cho chính công ty mình. Khi nhân lực, vật lực đầy đủ thì pháp luật mới trao quyền cho Hiệp hội kinh doanh chứng khoán ban hành quy tắc mẫu điều chỉnh hoạt động hành nghề chứng khoán.[20]

Thứ hai, quy định về việc quản lý tiền của nhà đầu tư trong hoạt động môi giới chứng khoán

Pháp luật hiện hành cho phép CTCK được quyền xây dựng hai phương án để thỏa thuận cung cấp dịch vụ quản lý tiền của khách hàng: (i) CTCK sẽ liên kết với một ngân hàng thương mại để nhà đầu tư có thể mở tài khoản giao dịch chứng khoán và (ii) CTCK mở tài khoản chuyên dụng tại ngân hàng thương mại để quản lý tiền gửi giao dịch chứng khoán của khách hàng. Trong đó, phương án một là phương án bảo vệ nhà đầu tư khỏi sự lạm dụng tiền của nhà đầu tư từ CTCK. Phương án hai mặc dù tạo thuận lợi cho CTCK trong quá trình thực hiện hoạt động môi giới chứng khoán nhưng phương thức này khó đảm bảo được việc không lạm dụng tiền của khách hàng từ các CTCK.

Pháp luật hiện hành có các quy định cấm, các nghĩa vụ của CTCK nhằm hạn chế xung đột lợi ích, bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư trong hoạt động của CTCK nhưng lại thiếu quy định về chế tài. Khoản 3 điều 45 Thông tư số 210/2012/TT-BTC ghi nhận về nguyên tắc hoạt động của CTCK là phải công bố cho khách hàng biết trước về những xung đột lợi ích có thể phát sinh giữa CTCK, người hành nghề chứng khoán và khách hàng. Tuy nhiên, nếu CTCK vi phạm quy định này thì lại không chịu bất kỳ chế tài nào từ pháp luật. Điều này là bất hợp lý bởi lẽ mọi hành vi vi phạm điều cấm sẽ bị coi là hành vi vi phạm và chủ thể thực hiện hành vi này sẽ phải gánh chế tài.

Theo chúng tôi, cần bổ sung chế tài đối với hành vi “không công bố cho khách hàng biết trước về những xung đột lợi ích có thể phát sinh giữa CTCK người hành nghề chứng khoán và khách hàng” hoặc “không công bố lợi ích của mình về chứng khoán mà mình đang sở hữu cho khách hàng đang được tư vấn về chứng khoán đó”. Bổ sung này nhằm đảm bảo tính chặt chẽ trong quy định của pháp luật và nhằm bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư khi sử dụng dịch vụ của CTCK..

CHÚ THÍCH

[1] Norman S. Poser, “Chinese Wall or Emperor’s New clothes – Regulation conficts in Interest of securities firms in the US and the UK”, Michigan Yearbook of International Legal Studies, Vol. 9, 1998, tr. 92.

[2] Norman S. Poser, Tlđd (2), Vol. 9, 1998,p. 97.

[3] Norman S. Poser, Tlđd (2), Vol. 9, 1998, tr. 94; Gorman, Christopher M (2004), “Are Chinese Walls the Best Solution to the Problems of Insider Trading and Conflicts of Interest in Broker-Dealers”, Fordham Journal of Corporate & Financial Law, Vol. 9, Issue 2 (2004),p. 480.

[4] Randall W. Quinn, Deja vu all over again: The SEC’s return to the agency theory in the regulating broker-dealers, 1990, p. 66.

[8] Norman S Poser, Tlđd (2), Vol. 9, p. 93.

[9] Gorman, Christopher M., Tlđd (4), Vol. 9, 2004, p. 482 – 483.

[11] Roman Tomasic, “Chinese Walls, Legal Principle and Commercial Reality in Multi-Service Professional Firms”, University of New South Wales Law Journal, Vol. 14, Issue 1 (1991), p. 72.

[12] Gorman, Christopher M, Tlđd (2), Vol. 9, 2004, p. 483.

[13] Khoản 1, 2 Điều 71 Luật Chứng khoán năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2010).

[14] Khoản 3, 4 Điều 45 Thông tư số 210/2012/TT-BTC.

[15] Điều 53 Thông tư số 210/2012/TT-BTC.

[16] Điều 57 Thông tư số 210/2012/TT-BTC.

[18] Điều 3 Thông tư số 210/2012/TT-BTC ban hành ngày 30/12/2012.

[19] Trung tâm NCKH&ĐTCK, UBCKNN và CISI phối hợp tổ chức Hội thảo Liêm chính và đạo đức hành nghề trong ngành dịch vụ tài chính, bài viết được đăng trên http://www.ssc.gov.vn/ubck/faces/vi/vilinks/videtail/vichitiettintuc/vidstincongbo/vichitiet102?dDocName=APPSSCGOVVN162095806&_afrLoop=10039842653971812&_afrWindowMode=0&_afrWindowId=7acz6s4ry_83#%40%3F_afrWindowId%3D7acz6s4ry_83%26_afrLoop%3D10039842653971812%26dDocName%3DAPPSSCGOVVN162095806%26_afrWindowMode%3D0%26_adf.ctrl-state%3D7acz6s4ry_99, truy cập ngày 22/04/2016. Ngoài ra, còn nhiều vụ việc vi phạm pháp luật từ người hành nghề chứng khoán khác đã được báo chí và nhiều phương tiện thông tin đại chúng đề cập.

[20] Vấn đề này đã từng được pháp luật Việt Nam quy định trong hành nghề luật sư. Theo đó, thời ban đầu, Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 356b/2002/QĐ-BTP ngày 05/08/2002 ban hành Quy tắc mẫu về đạo đức nghề nghiệp luật sư. Sau đó, ngày 20/7/2011, Hội đồng luật sư toàn quốc ban hành Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 68/QĐ-HĐLSTQ. Tương tự, ngày 30/10/2012, Bộ Tư pháp cũng đã ban hành Thông tư số 11/2012/TT-BTP về quy tắc đạo đức hành nghề công chứng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Luật Chứng khoáng năm 2006 [trans: Law on Securities 2006]

Luật Sửa đổi, bổ sung Luật Chứng khoán năm 2010 [trans: Law amending, supplementing a nuber of articles of Law on securities 2010]

Thông tư số 155/2015 Hướng dẫn công bố thông tin trên TTCK [trans: Circular 155/2015 Guiding the information disclosure on the stock market]

Thông tư số 210/2012/TT-BTC ghi nhận về nguyên tắc hoạt động của CTCK [trans: Circular No. 210/2012 / TT-BTC guiding the establishment and operation of securities companies]

Thông tư số 11/2012/TT-BTP về quy tắc đạo đức hành nghề công chứng [trans: Circular No. 11/2012 / TT-BTP Promulgating the Notification of Notification Practices]

Quyết định số 356b/2002/QĐ-BTP ngày 05/08/2002 Bộ Tư pháp đã ban hành về Quy tắc mẫu về đạo đức nghề nghiệp luật sư [trans: Decision No. 356b / 2002 / QD-BTP of August 5, 2002 promulgating the Model Code on professional ethics of lawyers]

Hội đồng luật sư toàn quốc ban hành Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 68/QĐ-HĐLSTQ [trans: Code of ethics and conduct of Vietnamese lawyers’ profession promulgated together with Decision No. 68 / QD-HDLSTQ]

Gorman, Christopher M (), “Are Chinese Walls the Best Solution to the Problems of Insider Trading and Conflicts of Interest in Broker-Dealers”, Fordham Journal of Corporate & Financial Law, Vol. 9, 2004

McVea, Harry, “Financial Conglomerates and Conflicts of Interest: Resolving a Regulatory Dilemma”, Northern Ireland Legal Quarterly, Vol. 47, Issue 3, Autumn 1996

Norman S. Poser, Chinese Wall or Emperor’s New clothes – Regulation conficts in Interest of securities firms in the US and the UK, Michigan Yearbook of International Legal Studies, Vol. 9, 1998

Norman S. Poser, Conflicts of Interest within Securities Firms, Brooklyn Journal of International Law, Vol. 16, 1990

Proceedings of the Seminar Integrity and ethics in the financial services industry organized by the Center for Scientific and Technical Securities, SSC and CISI jointly organized.

Randall W. Quinn, Deja vu all over again: The SEC’s return to the agency theory in the regulating broker-dealers, 1990

Roman Tomasic, Chinese Walls, Legal Principle and Commercial Reality in Multi-Service Professional Firms, University of New South Wales Law Journal, Vol. 14, Issue 1, 1991

Lợi Ích Khi Thành Lập Công Ty Cổ Phần / 2023

Xin chào luật sư! Tôi đang có dự tính thành lập công ty TNHH 2 thành viên, trong khi đó những người bạn góp vốn cùng tôi lại chọn lựa loại hình công ty cổ phần và cho rằng loại hình này có nhiều ưu điểm hơn. Vậy rất mong luật sư tư vấn giúp tôi những lợi ích khi thành lập công ty cổ phần so với các loại hình công ty khác để chúng tôi có được cho mình sự lựa chọn đúng đắn nhất Cảm ơn luật sư!

Oceanlaw xin cảm ơn quý khách đã tin tưởng và gửi câu hỏi tư vấn đến chúng tôi. Đối với trường hợp của quý khách chúng tôi xin phép được giải đáp như sau:

Loại hình công ty cổ phần (CTCP) đã xuất hiện vào những năm cuối thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII , đầu tiên là ở nước Anh sau đó là nước Pháp . Trải qua quá trình phát triển của nền kinh tế , nhất là trong giai đoạn mà cuộc Cách mạng công nghiệp diễn ra thì CTCP phát triển rất mạnh mẽ. Đến những năm đầu thế kỷ XX thì CTCP đã trở thành loại hình doanh nghiệp rất phổ biến ở hầu hết các nước phát triển và đang phát triển trong đó có Việt Nam.

Trước khi giải đáp cho quý khách những lợi ích khi thành lập công ty cổ phần, chúng tôi xin phép được cung cấp đến quý khách những thông tin khái quát nhất về loại hình doanh nghiệp này.

Theo quy định tại Điều 110 Luật Doanh nghiệp ngày 26 tháng 11 năm 2014 thì công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó: ” a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa;c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật này. “

Như vậy, có thể hiểu một cách cơ bản nhất thì công ty cổ phần là một thể chế kinh doanh, một loại hình doanh nghiệp hình thành, tồn tại và phát triển bởi sự góp vốn của nhiều cổ đông. Trong công ty cổ phần, số vốn điều lệ của công ty được chia nhỏ thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần. Các cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần gọi là cổ đông. Cổ đông được cấp giấy chứng nhận sở hữu cổ phần được gọi là cổ phiếu.Và nếu như quý khách muốn thành lập công ty cổ phần thì khi thành lập phải có tối thiểu 3 thành viên, tối đa không giới hạn.

Cũng theo quy định tại Điều 110 Luật Doanh nghiệp 2014 : ” Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn. “

Lợi ích khi thành lập công ty cổ phần?

Quý khách sẽ nhận được những ưu đãi, những bảo vệ và trách nhiệm của Nhà nước đối với doanh nghiệp của quý khách.

Việc thành lập công ty luôn dễ dàng kiểm soát thu chi, phân chia lợi nhuận so với hình thức buôn bán nhỏ lẻ hay hộ kinh doanh…

Một điều quan trọng hơn cả đó là lợi nhuận: so với việc buôn bán manh mún, nhỏ lẻ nếu như doanh nghiệp của quý khách làm ăn thuận lợi, phát triển công ty tốt thì lợi nhuận quý khách nhận được chắc chắn sẽ cao hơn gấp nhiều lần.

Còn so với việc thành lập doanh nghiệp nói chung, khi thành lập công ty cổ phần quý khách sẽ có được những lợi ích cũng như lợi thế sau:

Công ty cổ phần là tổ chức có tư cách pháp nhân độc lập: tính độc lập đó được thể hiện qua công ty cổ phần có tư cách chủ thể riêng, tồn tại độc lập và tách biệt với các cổ đông trong công ty. Trong quá trình hoạt động, công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng chính tài sản của mình; với tư cách chủ thể là pháp nhân thông qua người đại diện của mình theo qui định của pháp luật, công ty có thể trở thành nguyên đơn hoặc bị đơn dân sự trong các quan hệ tranh tụng tại tòa án.

Cổ đông của công ty cổ phần chịu trách nhiệm hữu hạn: đây có thể được coi là một trong những lợi ích đáng chú ý nhất khi quý khách có dự định thành lập công ty cổ phần. Trách nhiệm hữu hạn của cổ đông ở đây được hiểu là cổ đông chỉ chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ cũng như các khoản nợ của công ty trong phạm vi vốn góp của mình. Khác với các hình thức doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh, chủ doanh nghiệp hoặc thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn(chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình) đối với các khoản nợ, nghĩa vụ của công ty, thì trách nhiệm hữu hạn của cổ đông công ty cổ phần giúp hạn chế một cách tối đa nhất rủi ro của các cổ đông, tránh xảy ra trường hợp toàn bộ tài sản của cổ đông bị tiêu tán toàn bộ không có khả năng trang trải cuộc sống cũng như gây dựng lại sự nghiệp.

Việc chuyển nhượng phần vốn góp được thực hiện một cách tương đối dễ dàng: Việc góp vốn vào công ty cổ phần được thực hiện bằng cách mua cổ phiếu nên cổ phiếu được xem là hình thức thể hiện phần vốn góp của các cổ đông. Các cổ phiếu do công ty cổ phần phát hành là hàng hóa nên khi sở hữu cổ phiếu quý khách có thể tự do chuyển nhượng; hơn thế nữa trách nhiệm của quý khách chỉ giới hạn trong phạm vi giá trị các cổ phiếu mà họ sở hữu nên khi họ muốn rút lui khỏi công việc kinh doanh hay muốn bán cổ phiếu của mình cho người khác thì họ thực hiện rất dễ dàng. Trong khi đó đối với công ty trách nhiệm hữu hạn theo qui định của pháp luật Việt Nam thì khi chuyển nhượng các phần vốn góp của mình, thành viên đó phải chuyển nhượng trước hết cho các thành viên còn lại trong công ty hoặc chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên công ty trong trường hợp các thành viên còn lại không mua hoặc không mua hết. Đó là lý do giải thích vì sao có rất nhiều người muốn đầu tư vào công ty cổ phần chứ không muốn đầu tư vào các loại hình doanh nghiệp khác.

Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp có cấu trúc vốn và tài chính linh hoạt: với đặc trưng là loại hình công ty đối vốn, quyền lực trong công ty cổ phần sẽ thuộc về những ai nắm giữ phần lớn số vốn trong công ty. do vậy vốn trong công ty cổ phần được xem là yếu tố năng động nhất. Sự vận động của vốn trong công ty cổ phần vừa chịu sự chi phối khách quan của các qui luật kinh tế, vừa bị ảnh hưởng bởi ý chí chủ quan của con người.

Khả năng huy động vốn của công ty cổ phần rất cao: thông qua việc phát hành cổ phiếu ra công chúng, ngay cả các cán bộ công chức cũng có quyền mua cổ phiếu của công ty cổ phần, đây là đặc điểm riêng có của công ty cổ phần.

Công ty cổ phần có tính ổn định cao trong kinh doanh và không hạn chế thời gian tồn tại: tính liên tục và ổn định của công ty cổ phần được thể hiện ở điểm hoạt động kinh doanh của công ty hoàn toàn không phụ thuộc vào bất kỳ điều gì xảy đến với các cổ đông trong công ty, bởi vì công ty cổ phần có tư cách pháp nhân độc lập nên nếu có bất kỳ sự rút lui, sự phá sản hoặc thậm chí cái chết có xảy ra đối với các cổ đông thì công ty cổ phần vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển mà hoàn toàn không hề bị ảnh hưởng gì.

Cơ chế quản lý tập trung của công ty cổ phần tương đối cao: nếu như đối với hình thức công ty hợp danh việc quản lý công ty được thực hiện bởi các thành viên hợp danh với tư cách là những người chịu trách nhiệm vô hạn hoặc liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ trong kinh doanh của công ty, hình thức doanh nghiệp tư nhân việc quản lý mang tính chất nội bộ gia đình thì Với tư cách là một pháp nhân độc lập, trong công ty cổ phần có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và cơ chế quản lý, các cổ đông sẽ bầu ra Ban giám đốc và Ban giám đốc sẽ thay mặt các cổ đông quản lý công ty cổ phần. Như vậy, trong công ty cổ phần việc quản lý được tập trung hóa cao vào Ban giám đốc mà không dàn trải đều việc quản lý cho các cổ đông.

Xem : Ưu nhược điểm loại hình công ty cổ phần

Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích khi thành lập công ty cổ phần mang lại, thì quý khách cũng nên quan tâm đến một số hạn chế sau của loại hình doanh nghiệp này:

Việc quản lý và điều hành Công ty cổ phần rất phức tạp do số lượng các cổ đông có thể rất lớn, có nhiều người không hề quen biết nhau và thậm chí có thể có sự phân hóa thành các nhóm cổ động đối kháng nhau về lợi ích;

Việc thành lập và quản lý Công ty cổ phần cũng phức tạp hơn các loại hình công ty khác do bị ràng buộc chặt chẽ bởi các quy định của pháp luật, đặc biệt về chế độ tài chính, kế toán.

Oceanlaw cảm ơn sự tin tưởng của quý khách!

Chúc quý khách thành công!

Pbc: Công Ty Cổ Phần Lợi Ích Khu Vực / 2023

PBC có nghĩa là gì? PBC là viết tắt của Công ty cổ phần lợi ích khu vực. Nếu bạn đang truy cập phiên bản không phải tiếng Anh của chúng tôi và muốn xem phiên bản tiếng Anh của Công ty cổ phần lợi ích khu vực, vui lòng cuộn xuống dưới cùng và bạn sẽ thấy ý nghĩa của Công ty cổ phần lợi ích khu vực trong ngôn ngữ tiếng Anh. Hãy nhớ rằng chữ viết tắt của PBC được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp như ngân hàng, máy tính, giáo dục, tài chính, cơ quan và sức khỏe. Ngoài PBC, Công ty cổ phần lợi ích khu vực có thể ngắn cho các từ viết tắt khác.

PBC = Công ty cổ phần lợi ích khu vực

Tìm kiếm định nghĩa chung của PBC? PBC có nghĩa là Công ty cổ phần lợi ích khu vực. Chúng tôi tự hào để liệt kê các từ viết tắt của PBC trong cơ sở dữ liệu lớn nhất của chữ viết tắt và tắt từ. Hình ảnh sau đây Hiển thị một trong các định nghĩa của PBC bằng tiếng Anh: Công ty cổ phần lợi ích khu vực. Bạn có thể tải về các tập tin hình ảnh để in hoặc gửi cho bạn bè của bạn qua email, Facebook, Twitter, hoặc TikTok.

Như đã đề cập ở trên, PBC được sử dụng như một từ viết tắt trong tin nhắn văn bản để đại diện cho Công ty cổ phần lợi ích khu vực. Trang này là tất cả về từ viết tắt của PBC và ý nghĩa của nó là Công ty cổ phần lợi ích khu vực. Xin lưu ý rằng Công ty cổ phần lợi ích khu vực không phải là ý nghĩa duy chỉ của PBC. Có thể có nhiều hơn một định nghĩa của PBC, vì vậy hãy kiểm tra nó trên từ điển của chúng tôi cho tất cả các ý nghĩa của PBC từng cái một.

Ý nghĩa khác của PBC

Bên cạnh Công ty cổ phần lợi ích khu vực, PBC có ý nghĩa khác. Chúng được liệt kê ở bên trái bên dưới. Xin vui lòng di chuyển xuống và nhấp chuột để xem mỗi người trong số họ. Đối với tất cả ý nghĩa của PBC, vui lòng nhấp vào “thêm “. Nếu bạn đang truy cập phiên bản tiếng Anh của chúng tôi, và muốn xem định nghĩa của Công ty cổ phần lợi ích khu vực bằng các ngôn ngữ khác, vui lòng nhấp vào trình đơn ngôn ngữ ở phía dưới bên phải. Bạn sẽ thấy ý nghĩa của Công ty cổ phần lợi ích khu vực bằng nhiều ngôn ngữ khác như tiếng ả Rập, Đan Mạch, Hà Lan, Hindi, Nhật bản, Hàn Quốc, Hy Lạp, ý, Việt Nam, v.v.