Top 20 # Xung Đột Lợi Ích Trong Doanh Nghiệp / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 11/2022 # Top Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Cổ Đông “Tố” Lãnh Đạo Coteccons Xung Đột Lợi Ích: Pháp Luật Qui Định Thế Nào Về Ngăn Ngừa Xung Đột Lợi Ích Trong Doanh Nghiệp ? / 2023

(Pháp lý) – Luật Phòng chống tham nhũng mới năm 2018 đã mở rộng điều chỉnh công tác phòng chống tham nhũng trong khu vực tư nhân và bao gồm một cơ chế mới về kiểm soát xung đột lợi ích. Luật Phòng chống tham nhũng 2018 cũng yêu cầu những người có chức vụ, quyền hạn của một công ty cổ phần đại chúng, hoặc một tổ chức tín dụng phải báo cáo trong trường hợp người đó biết hoặc buộc phải biết bất kỳ xung đột lợi ích nào với người có thẩm quyền.

Theo đó, người có chức vụ, quyền hạn của công ty có thể phải tuân theo các quy tắc về xung đột lợi ích theo Luật Phòng chống tham nhũng 2018 bao gồm: Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị, thành viên Hội Đồng Quản Trị, Giám Đốc hoặc Tổng Giám Đốc, thành viên Ban Kiểm Soát và những người nắm giữ các vị trí quản lý khác mà có thẩm quyền thay mặt Công Ty tham gia ký kết giao dịch của Công Ty theo điều lệ công ty; hoặc những người khác được giao một số nhiệm vụ và quyền hạn nhất định để thực hiện các nhiệm vụ đó.

Ricons ngoài tư cách nhà thầu phụ của Coteccons còn là đối thủ cạnh tranh trực tiếp trong lĩnh vực tổng thầu, thiết kế và thi công cùng phân khúc. Lợi nhuận sau thuế của Ricons năm 2015 chỉ bằng 11% Coteccons, nhưng đến năm ngoái đã bằng phân nửa.

“Điều này đặt ra câu hỏi lãnh đạo cấp cao của Coteccons quyết định chọn công ty nào đấu thầu cho dự án khi họ đồng thời quản lý cả hai doanh nghiệp cạnh tranh trực tiếp với nhau; lãnh đạo cấp cao của Coteccons và Ricons phân bổ lợi nhuận cho từng bên như thế nào trong các hợp đồng giữa hai bên”, phía Kusto thắc mắc.

Kusto cho rằng nếu lãnh đạo Coteccons hành động vì lợi ích tốt nhất của công ty thì họ không thực hiện đúng nghĩa vụ với cổ đông của Ricons, và ngược lại. Nhóm cổ đông khẳng định không thể tiếp tục đặt niềm tin vào Hội đồng quản trị và ban giám đốc hiện tại.

Trước lùm xùm trên, phía lãnh đạo Coteccons , ông Nguyễn Sỹ Công ( Tổng GĐ Coteccons) cho biết, với những dự án lớn, Coteccons không thể tập trung toàn bộ nguồn lực mà phải quản lý các nhà thầu phụ thi công trực tiếp. Công ty có hợp đồng chi tiết, quy định rõ trách nhiệm pháp lý với tất cả nhà thầu phụ và nhà cung cấp, kể cả những công ty con hoặc liên kết như Ricons, Unicons. Tuy nhiên, theo ông Công, vì không muốn Kusto tiếp tục có những hành động gây hấn nên doanh nghiệp này đã không ký bất cứ hợp đồng vào với Ricons từ cuối năm 2019 đến nay.

Ricons chưa lên sàn chứng khoán, có phân khúc khách hàng riêng và đội ngũ nhân sự chất lượng nên tiềm năng tăng trưởng lớn. Đây là lý do Coteccons muốn sáp nhập Ricons để gia tăng thị phần nhưng nhóm Kusto bác bỏ. Tỷ lệ sở hữu cổ phần của ông Nguyễn Sỹ Công tại Ricons ít hơn so với tỷ lệ tại Coteccons. Trong khi đó, ông Nguyễn Bá Dương không sở hữu cổ phiếu Ricons.

“Vì vậy, việc vu cáo ban lãnh đạo Coteccons tập trung nguồn lực cho Ricons là hoàn toàn không có căn cứ”, ông Công khẳng định.

Về yêu cầu chỉ định kiểm toán độc lập để làm rõ xung đột lợi ích giữa các thành viên của Coteccons, ông Nguyễn Sỹ Công nói, báo cáo tài chính mỗi năm đều được kiểm toán bởi những công ty trong nhóm Big4 nên không ai có thể can thiệp.

Theo Luật Phòng chống tham nhũng 2018, xung đột lợi ích là tình huống mà lợi ích của một người có chức vụ, quyền hạn trong công ty hoặc người thân thích của họ tác động hoặc sẽ tác động đến việc thực hiện nhiệm vụ của người đó. Người có chức vụ, quyền hạn của công ty có thể phải tuân theo các quy tắc về xung đột lợi ích theo Luật Phòng chống tham nhũng 2018 bao gồm:

Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị, thành viên Hội Đồng Quản Trị, Giám Đốc hoặc Tổng Giám Đốc, thành viên Ban Kiểm Soát và những người nắm giữ các vị trí quản lý khác mà có thẩm quyền thay mặt Công Ty tham gia ký kết giao dịch của Công Ty theo điều lệ công ty; hoặc những người khác được giao một số nhiệm vụ và quyền hạn nhất định để thực hiện các nhiệm vụ đó.

Luật Phòng chống tham nhũng 2018 cũng yêu cầu những người có chức vụ, quyền hạn của một công ty cổ phần đại chúng, hoặc một tổ chức tín dụng phải báo cáo trong trường hợp người đó biết hoặc buộc phải biết bất kỳ xung đột lợi ích nào với người có thẩm quyền.

Theo Nghị Định 59/2019, một công ty cổ phần đại chúng, hoặc tổ chức tín dụng sẽ cần phải ban hành: Chính sách về xung đột lợi ích cho tất cả nhân viên và thành viên của Công Ty; và Cơ chế nội bộ về tiếp nhận và xử lý thông tin, báo cáo về xung đột lợi ích.

Đối với các giao dịch của các đối tượng nêu trên do Đại hội đồng cổ đông hoặc HĐQT chấp thuận, công ty đại chúng phải thực hiện công bố thông tin về các nghị quyết này theo quy định của pháp luật chứng khoán về công bố thông tin.

Lê Phúc

Xung Đột Lợi Ích Trong Doanh Nghiệp Liên Doanh: Một Số Góp Ý Nhằm Thực Thi Luật Đầu Tư 2005 / 2023

1. Không cầu toàn, văn bản hướng dẫn Luật ĐT 2005 nên chọn trọng tâm điều chỉnh

Về lâu dài, gom các hoạt động đầu tư về một mối để tiện quản lí là một kế hoạch đầy tham vọng. Chỉ riêng với nhà đầu tư nước ngoài, các kênh đầu tư đã trở nên hết sức đa dạng và được điều chỉnh bởi nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau.

Nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam có thể lựa chọn nhiều kênh tiếp cận và đầu tư khác nhau như: (i) sử dụng mạng tiêu thụ có sẵn ở Việt Nam (đại diện thương mại, đại lí), (ii) thành lập văn phòng đại diện, (iii) thành lập chi nhánh, (iv) thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, (v) thành lập doanh nghiệp liên doanh với các đối tác Việt Nam, (vi) tham gia các hợp đồng hợp tác kinh doanh, hay (vii) mua lại cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam, chuyển đổi trái phiếu thành cổ phần. Các kênh đầu tư này được điều chỉnh bởi rất nhiều văn bản pháp luật khác nhau, trong đó có Luật Thương mại 2005 (đại diện, đại lí, văn phòng đại diện, chi nhánh), pháp luật về chứng khoán (mua cổ phần trong công ty Việt Nam), các quy định của Luật DN 2005 và Luật ĐT 2005. Thêm nữa, khi được phép đầu tư vào các ngân hàng, cơ sở y tế, đào tạo và các hợp tác xã, nhà đầu tư nước ngoài phải tuân thủ các quy định pháp luật chuyên ngành riêng áp dụng cho các loại hình dịch vụ đặc biệt này[1].

Vì hoạt động đầu tư đa dạng như vậy, để tăng tính khả thi, tránh trùng lặp với các văn bản đã có sẵn, Luật ĐT 2005 và Nghị định hướng dẫn thi hành chỉ có thể tập trung vào một số điểm, ví dụ như nhấn mạnh tới chính sách bảo hộ, khuyến khích đầu tư, quy trình giám sát đầu tư nước ngoài tuân thủ các quy định về chuyển giao công nghệ, bảo vệ môi trường và các tiêu chí khác của nước nhận đầu tư, mà không nên ôm đồm nhiều nội dung.

Nếu quá tham về nội dung điều chỉnh, dự thảo (lần thứ 14) của nghị định hướng dẫn thi hành Luật ĐT 2005 đã bao gồm 100 điều khoản, văn bản này hứa hẹn sẽ trở thành một siêu nghị định kiểu như NĐ181/2004/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đất đai. Thêm nữa, quyền hướng dẫn thực thi văn bản luật của Bộ KH&ĐT theo khoản 2 Điều 100 Dự thảo Nghị định là rất lớn, có thể làm cho môi trường pháp lí về đầu tư nước ngoài phức tạp dần lên (Luật ĐT có 89 điều, Nghị định 100 điều, các thông tư và công văn sau này của Bộ Kế hoạch & Đầu tư liệu có thể còn trung thành với tinh thần của Luật ĐT 2005, thiết chế nào giám sát và chỉnh sửa những lệch lạc có thể xảy ra giữa luật gốc và văn bản hướng dẫn thi hành).

Nếu tập trung vào một nội dung hẹp, dự thảo nghị định sẽ giản lược, khả thi và mạch lạc hơn. Thêm nữa cần tránh xung đột với luật về tổ chức công ty đã được quy định bởi Luật DN 2005, luật về hợp đồng (Bộ luật Dân sự , Luật Thương mại 2005), luật về tổ chức và thẩm quyền của các cơ quan nhà nước. Ví dụ có thể lược nhẹ các Điều 82 – 98 Dự thảo Nghị định về quản lí nhà nước về đầu tư; chức phận của các cơ quan từ trung ương đến địa phương đã khá rõ trong Luật Tổ chức chính phủ và các nghị định về thẩm quyền các bộ, không cần nhắc lại ở văn bản này. Trong chương này có thể chỉ nên giữ lại Điều 98 về cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các chủ đầu tư với nhau và với nhà nước.

2. Vấn đề của chúng ta: Được và mất trong các liên doanh quốc tế

Khác với người soạn Luật DN 2005 mơ cho dân doanh nhiều và mạnh như có thể, người soạn Luật ĐT có thể có những băn khoăn trong tiết độ vốn nước ngoài cho phù hợp với các mục đích trong nước. Nếu vay 750 triệu USD từ thị trường chứng khoán New York (với giá khá đắt so với Mã Lai và Inđônexia), để rồi đổ dồn cho một công ty Vinashin, làm cho vốn đầu tư của công ty này đã bằng ¾ quy mô của hãng đóng tàu Hyundai, người ta có thể hỏi rằng so với đầu tư lớn như thế, ngành đóng tàu có mang lại giá trị gia tăng đáng kể gì cho Việt Nam, trong khi sắt thép, động cơ, sơn và thiết bị đều nhập ngoại, còn nước ta chỉ đóng góp nhân công và hứng lấy những ô nhiễm trầm trọng về môi sinh [2].

Những cảnh báo khác cũng xuất hiện khi doanh nghiệp Việt Nam tốn công giải tỏa mặt bằng, góp phần phổ cập thương hiệu và xây dựng hệ thống tiêu thụ cho doanh nhân nước ngoài trong các liên doanh, để rồi một ngày do thua lỗ, bên nước ngoài dường như thôn tính phần vốn trong nước với giá rẻ. Chắc rằng khuyến khích đầu tư nước ngoài sẽ dẫn tới những được và mất cho nền kinh tế quốc nội, và một trọng tâm không thể tránh được của Luật ĐT 2005 là cân đối giữa lợi ích của Việt Nam như một nước tiếp nhận đầu tư và lợi ích các nhà đầu tư nước ngoài.

Đây là một vấn đề lớn bởi lẽ một phần lớn (khoảng 70% dự án) các dự án có vốn đầu tư nước ngoài đã được thực hiện dưới hình thức các liên doanh giữa bên nước ngoài và bên Việt Nam, trong đó bên Việt Nam thường là các doanh nghiệp nhà nước (98% trong các dự án liên doanh). Lựa chọn hình thức liên doanh, nhà đầu tư nước ngoài có một số ưu điểm như: tiếp cận thị trường nội địa nhờ góp sức của bên Việt Nam, tiếp cận nguồn đất đai đang do doanh nghiệp nhà nước chiếm giữ mà chưa sử dụng, có được hậu thuẫn của các cơ quan nhà nước Việt Nam, nhất là cơ quan chủ quản của bên Việt Nam và chia sẻ rủi ro. Tuy vậy, hình thức liên doanh cũng bộc lộ khá nhiều yếu điểm, ví dụ như việc quản trị công ty đôi khi rất khó khăn do triết lí và văn hóa kinh doanh của các bên khác nhau, đôi khi bên Việt Nam có khả năng vốn rất hạn chế, sau khi góp vốn bằng quyền sử dụng đất, thường lệ thuộc vào bên nước ngoài trong việc tìm kiếm các nguồn vốn bổ sung hoặc tìm kiếm thị trường.

Dù chưa có chứng minh bằng thực nghiệm và cơ sở dữ liệu, song có nhiều dấu hiệu cho thấy bên nước ngoài có thể thao túng liên doanh khá dễ dàng, nếu bên Việt Nam thường chỉ là các doanh nghiệp nhà nước. Tỷ lệ vốn góp áp đảo (thường 70% vốn góp từ nước ngoài) chỉ là một khía cạnh. Thậm chí, bên nước ngoài chỉ cần chiếm một tỷ lệ vốn rất thấp, kiểu như 10% cổ phần của các cổ đông chiến lược nước ngoài trong các ngân hàng quốc nội, song cổ đông nhỏ bé ấy vẫn có thể thao túng công ty, bởi lẽ phần quốc nội, dù là 30% hay tới 90%, đều không có đại diện rõ ràng. Bằng cách mua chuộc đại diện bên Việt Nam trong Hội đồng quản trị các liên doanh những lợi ích tư, ví dụ lương bổng cao (2,500-3,000 USD/tháng), cấp học bổng cho người thân, bên nước ngoài có thể vô hiệu hóa vai trò giám sát của các vị đại diện quốc hữu này và khai thác khối tài sản hầu như vô chủ góp từ Việt Nam [3].

Bởi vậy, cần nhấn mạnh rằng Luật ĐT có một mục đích hết sức hệ trọng là cân đối lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài, khống chế chúng vì lợi ích của nước nhận đầu tư. Cần nhận rõ cách làm của gần 20 năm qua đã có những thành công và thất bại gì để thiết kế những cách giám sát mới, nếu không muốn biến nước ta thành một nơi khai thác nhân công rẻ, một nơi để tư bản nước ngoài xâu xé thị trường và các nguồn tài nguyên và cũng như tận thu phế thải công nghệ.

3. Xung đột lợi ích thường gặp trong liên doanh quốc tế

– Do bên Việt Nam thường là doanh nghiệp nhà nước, cho nên tìm kiếm sự đồng ý về nguyên tắc của cơ quan chủ quản, UBND các tỉnh và cơ quan hữu trách đôi khi cũng là một quy trình tốn kém thời gian. Bên nước ngoài đôi khi phải thuê công ty tư vấn đầu tư hoặc tư vấn pháp lí để thu xếp các sự đồng ý về nguyên tắc này. Nếu người trung gian này là người nhà thân thiết với lãnh đạo các cơ quan hữu trách kể trên thì quá trình tìm kiếm chấp thuận có thể diễn ra nhanh. Thời gian cho các bước cấp phép đầu tư theo các Điều 67, 68, 69 Dự thảo Nghị định trên thực tế chắc sẽ ít ý nghĩa, bởi nó chỉ công khai hóa các bước vận động nửa chìm nửa nổi như mô tả kể trên. Thêm nữa, quy ước như vậy mà không chế tài được, không ép được cơ quan nhà nước phải thực hiện, thì ý nghĩa pháp lí cũng thấp. Đây là thói quen có từ gần 10 năm nay, ban soạn thảo Nghị định có thể duy trì, song có thể dự báo hiệu ứng xã hội của các quy phạm kiểu này sẽ không cao.

– Tham gia Hội đồng quản trị thường có đại diện bên Việt Nam, mặc dù góp ít vốn song thường có cơ cấu ít nhất hai thành viên (ví dụ trong 5 thành viên Hội đồng quản trị sẽ có 02 đại diện bên Việt Nam và 03 đại diện bên nước ngoài). Điều thú vị là bên Việt Nam xem vị trí Hội đồng quản trị như là bổng lộc, thường đem chia thành hai xuất: 01 xuất dành cho doanh nghiệp trực tiếp tham gia liên doanh, 01 xuất dành cho cơ quan cấp trên, ví dụ một thành viên của Tổng công ty Hóa chất liên doanh với P&G, thì đơn vị thành viên cụ thể được cử một xuất Hội đồng quản trị, Tổng công ty cử một đại diện tham gia. Khi vận hành theo công ty cổ phần hay công ty TNHH theo Luật DN 2005, thói quen này có thể sẽ không được áp dụng nữa, vì Hội đồng thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc Đại hội đồng cổ đông sẽ thay thế Hội đồng quản trị theo cách hiểu cũ. Bởi vậy, nếu muốn duy trì tiếng nói của bên Việt Nam trong liên doanh có lẽ nên suy tính các quy tắc chuyển đổi, hay các điều lệ mẫu áp dụng cho liên doanh.

– Cần có những khảo sát kĩ lưỡng hơn để đánh giá xem các đại diện của bên Việt Nam trong Hội đồng quản trị các liên doanh có thực sự đại diện cho lợi ích của bên Việt Nam, hay chú ý nhiều hơn đến lợi tư (lương cao, thường từ 2,500 – 3,000 USD/tháng và nhiều lợi ích tưkhác). Nay nếu đổi các Hội đồng quản trị thành các Hội đồng thành viên hay Đại hội đồng cổ đông, cơ chế thúc ép, giám sát người đại diện Việt Nam phải trung thành với lợi ích của bên Việt Nam vẫn còn hết sức thời sự và cần được đặt ra. Điều này chưa thấy được làm rõ trong Dự thảo nghị định.

– Rắc rối trong quản trị liên doanh quốc tế đôi khi cũng do bên Việt Nam có quyền phủ quyết khi bổ nhiệm Tổng giám đốc/Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc thông qua điều lệ công ty liên doanh. Về nguyên tắc thông qua theo đa số tuyệt đối hay còn gọi là nguyên tắc nhất trí, Luật DN chỉ có một quy định duy nhất tại khoản 2 Điều 30 Luật DN 2005, theo đó định giá vốn góp phải theo nguyên tắc nhất trí (unanimous voting), các việc khác theo đa số, nếu không được thỏa thuận trong điều lệ công ty. Nếu muốn giữ cơ chế bảo vệ cũ, cũng nên tìm cách soạn thảo điều lệ mẫu cho liên doanh quốc tế và hối thúc các nhà đầu tư tuân thủ điều lệ mẫu, nếu thỏa thuận khác đi phải giải trình trước cơ quan đăng kí.

+ Nguy cơ bên nước ngoài khai khống vốn, rút lãi về qua chênh lệch giá (price transfering), rút lãi về qua lương bổng quá cao cho nhân viên nước ngoài;

+ Nguy cơ bên nước ngoài ép mua vật tư, bao tiêu sản phẩm, dìm giá bán hàng trong khi bao tiêu sản phẩm;

+ Các mục đích du nhập quản trị công ty hiện đại, du nhập công nghệ thông qua liên doanh quốc tế khó có thể thực hiện được, bởi khối tài sản của doanh nghiệp nhà nước thường bị tách thành 2 phần, phần đem góp vào liên doanh và phần giữ nguyên sở hữu và quản trị lạc hậu;

+ Các rủi ro về môi trường sống, đầu tư kém chất lượng biến nước ta trở thành bãi rác công nghệ lạc hậu.

Tóm lại, Luật ĐT 2005 và nghị định hướng dẫn thi hành, nếu đặt mục tiêu bảo vệ lợi ích của nước nhận đầu tư, phải tìm các công cụ để bảo vệ bên Việt Nam trước các nguy cơ phổ biến kể trên. Điều đáng lưu ý là, Luật DN 2005, với tư cách là một đạo luật chung, không cung cấp các công cụ riêng cho các liên doanh quốc tế. Nghị định hướng dẫn Luật ĐT 2005 nên xem việc quản trị những rủi ro này là một trọng tâm.

4. Luật DN và Luật ĐT 2005: Hai phản ứng khác nhau của nhà làm luật

Bảo vệ quyền lợi của bên Việt Nam suy cho cùng cũng là bài toán bảo vệ cổ đông, bảo vệ đối xử bình đẳng giữa các cổ đông trong một công ty- một chủ đích mà cả hai đạo luật về doanh nghiệp và đầu tư cùng quan tâm. Tuy nhiên có thể nhận thấy hai đạo luật này tiếp cận bài toán bằng các công cụ khác nhau. Trong khi Luật DN 2005 tìm cách hạn chế cấp phép, gia tăng hậu kiểm, buộc doanh nghiệp tuân thủ kỷ luật báo cáo và bị giám sát thường xuyên (ex post control), thì Luật ĐT 2005 duy trì tư duy truyền thống, kiểm tra ngay từ khi tổ chức thực hiện dự án (ex ante control), duy trì kiểm soát khi đăng kí đầu tư, dự án đầu tư nước ngoài nhỏ hơn 300 tỷ đồng phải đăng kí, lớn hơn 300 tỷ đồng phải thẩm tra để cấp phép đầu tư [4].

Người soạn luật đã làm rõ mục đích của việc đăng kí tại khoản 4 Điều 62, theo đó cơ quan đăng kí chỉ ghi nhận các hồ sơ được nộp, mà không thẩm định, cũng không có quyền đòi thêm hồ sơ. Ngược lại, với các dự án lớn hơn 300 tỷ đồng, các tiêu chí thẩm tra cũng đã được liệt kê tại khoản 4 Điều 63. Hai quy chế này, theo thiển nghĩ của tôi đã được thiết kế rõ ràng, thành công, dễ tiên liệu (tuy nhiên mọi hoạt động tìm kiếm chấp thuận về góp đất và tài sản của doanh nghiệp nhà nước, của quan chức các cấp vẫn phải diễn ra trước khi đăng kí dự án như đã mô tả ở trên).

Thêm nữa, có nên giản lược cho nhà đầu tư số lượng 8 hoặc 10 bộ hồ sơ mà người soạn luật yêu cầu, hoặc có cách nào kết nối thông tin giữa các bộ phận quản lí hành chính tiện ích và chính xác hơn chăng. Hình ảnh các giám đốc phải ngồi cả ngày để kí từng trang của các tệp hồ sơ là dấu hiệu ban đầu không thân thiện với các nhà đầu tư. Cần lí giải lí lẽ vì sao cần đến 8-10 bộ hồ sơ, phải chăng có quá nhiều cơ quan nhà nước cùng tham gia quản lí đầu tư nước ngoài, song đơn vị nào cũng muốn quản lý thông tin của mình mà không muốn chia sẻ với cơ quan khác.

Ngoài ra, đăng kí hay thẩm tra sẽ đạt được mục đích gì, nếu trong quá trình hoạt động nhà đầu tư nước ngoài không tuân thủ các cam kết trong hồ sơ đăng kí. Vụ việc các trung tâm Anh ngữ SITC đã cho thấy những khuyết tật đáng ngờ của cơ chế tiền kiểm, các loại giấy phép đầu tư đã không cản được SITC thành lập hàng chục chi nhánh trên toàn quốc, không tuân thủ báo cáo tài chính, quỵt tiền lương của hàng ngàn giáo viên và tiền học phí của gần 3 vạn học viên trên 21 tỉnh thành toàn quốc. Những bài học cay đắng khác với Trường Quốc tế Hà Nội, Trường Đại học Á Châu đều cảnh báo những nguy cơ của hệ thống tiền kiểm. Mục đích của việc đăng kí chắc rằng cũng phải giúp bảo vệ chủ nợ Việt Nam (người làm công, học sinh), bảo vệ môi trường sống, và xa hơn là cải thiện nỗi lo lạc hậu về công nghệ. Liệu hệ thống tiền kiểm đã chứng minh được hiệu quả trong gần 20 năm qua, hay cần phải tính tới những biện pháp can thiệp và phản ứng hiệu quả hơn của cơ quan nhà nước đối với đầu tư nước ngoài? Đây là điều cần khảo cứu kĩ lưỡng hơn trước khi quyết định duy trì hệ thống tiền kiểm truyền thống. Theo thiển nghĩ của tôi, nên gia tăng giám sát sau đăng kí, cưỡng bức mạnh mẽ trách nhiệm báo cáo, ví dụ như đe dọa bỏ tù giám đốc nếu từ chối báo cáo tài chính- chẳng hạn như pháp luật Anh Quốc, tăng cường nghĩa vụ kiểm toán độc lập, buộc kí quỹ, buộc mua bảo hiểm đối với những dự án có nguy cơ gây hại đến môi sinh. Những hình thức can thiệp này dường như sẽ hiệu quả hơn chỉ là giám sát ban đầu qua đánh giá tác động môi trường.

Ngoài những nhận định kể trên, nếu tư duy theo mô thức doanh nghiệp được làm tất cả những gì pháp luật không cấm hoặc hạn chế, bởi vậy việc liệt kê các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp như Điều 8, Điều 9 Luật DN 2005 thực ra chỉ có ý nghĩa tượng trưng, mà rất ít ý nghĩa pháp lí có tính cưỡng bức phải thi hành. Tương tự như vậy, các điều 34 – 40 của Dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật ĐT 2005 liệt kê các quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư, song ý nghĩa thực tiễn của các điều này có thể không nhiều, bởi nhà đầu tư đương nhiên được hưởng quyền thông qua các hiệp định bảo hộ và khuyến khích đầu tư, các cam kết của nhà nước Việt Nam (Nghị định không cần cho, họ cũng đã có những quyền đó). Thêm nữa, nếu bị hạn chế, ví dụ về ngoại hối hay sử dụng nhân công, đều đã có pháp luật chuyên ngành. Việc sử dụng thuật ngữ nên nhất quán, tránh làm rối người phải thi hành với những quy định về “nghĩa vụ và trách nhiệm” ngay trong cùng một điều luật (Điều 43 Dự thảo Nghị định). Nếu là nghĩa vụ pháp lí thì mới cưỡng chế thi hành được, còn trách nhiệm chung chung thì rất khó thực thi.

5. Một số kết luận ban đầu

Từ những quan sát ban đầu, có thể thấy một đạo luật 89 điều đang chuẩn bị được hướng dẫn thi hành bởi một nghị định đồ sộ hàng trăm điều với quyền tự do giải thích luật rộng rãi của Bộ Kế hoạch & Đầu tư. Trong bối cảnh cả thế giới đang tìm cách giảm thiểu quy chế hành chính và tìm cách viết luật dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thi hành cho giới doanh nhân, có thể ban soạn thảo nghị định cần suy tính tập trung vào những điều trọng yếu nhất mà Luật ĐT cần hướng tới. Trong khi đăng kí dự án đối với đầu tư của tư nhân trong nước có thể chưa là mục đích chính, thì việc bảo vệ lợi ích của nước nhận đầu tư, hạn chế lạm quyền bởi nhà đầu tư nước ngoài nên là một chủ đích rất đáng quan tâm. Điều này càng đặc biệt quan trọng trong các dự án liên doanh với nước ngoài, bởi đa số đối tác Việt Nam trong các dự án này đều là doanh nghiệp quốc doanh. Sự không rõ ràng về sở hữu toàn dân đã và đang là cơ hội để các nhà tư bản lão luyện nước ngoài khai thác nhằm khống chế các liên doanh hoạt động theo ý đồ kinh doanh của họ. Luật ĐT và các văn bản hướng dẫn thi hành không thể né tránh thực tiễn đó.

[2] David Dapice, Fear of Flying: Why is Sustaining Reform so hard in Vietnam, Review of 20 years of Doi Moi in Vietnam, Hanoi, June 15-16, 2006 Vũ Thành Tự Anh, Huỳnh Thế Du, FETP Faculty Publication, có thể tải về từ: http://www.fetp.edu.vn/home.cfm?rframe=/research_casestudy/facresearchliste.htm Luật ĐT 2005: Luật ĐT 2005 ban hành ngày 29/11/2005, có hiệu lực từ ngày 01/07/2006. Dự thảo Nghị định: Dự thảo (số 14) hướng dẫn thi hành Luật ĐT 2005; Bộ KH&ĐT, ngày 13/06/2006. [3] Thảo Nguyên, 2006, Quản lí phần vốn nhà nước: Hãy nhớ bài học liên doanh, Tia sáng 1/2006, tr. 59 [4] Điều 62, 63 Dự thảo Nghị định [5] Xem các điều 77 – 80 Dự thảo Nghị định Luật ĐT 2005 [6] Điều 62, Điều 78 Dự thảo Nghị định Luật ĐT 2005

Xung Đột Lợi Ích Trong Đấu Thầu Xây Lắp / 2023

Từ khóa: Đấu thầu xây lắp, xung đột lợi ích.

Trong quá trình tổ chức đấu thầu xây lắp, xuất hiện nhiều tình huống có xung đột lợi ích. Những tình huống có xung đột lợi ích này có khả năng dẫn đến những quyết định không phù hợp của những người được trao quyền, ảnh hưởng tới lợi ích chung của cả quá trình tổ chức đấu thầu, ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của các nhà thầu khi tham dự đấu thầu. Bài viết này tập trung làm rõ quan niệm về xung đột lợi ích trong đấu thầu xây lắp, nhận biết các tình huống xung đột lợi ích trong đấu thầu xây lắp, để từ đó đề xuất các kiến nghị nhằm hạn chế sự tham gia của các chủ thể có xung đột lợi ích vào quá trình đấu thầu, tăng cường các biện pháp kiểm soát, giám sát đối với các tình huống có xung đột lợi ích trong đấu thầu xây lắp.

Theo từ điển Luật học tiếng Anh của Black, “xung đột lợi ích là tình huống ảnh hưởng đến quyết định vì có xung đột giữa lợi ích của cá nhân và lợi ích công”1. Theo từ điển tiếng Anh của Cambridge, “xung đột lợi ích là tình huống mà một người không thể đưa ra quyết định tốt, vì bị chi phối bởi lợi ích cá nhân”2. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OECD (2005), “xung đột lợi ích là xung đột giữa chức trách nhà nước và lợi ích cá nhân của một công chức, trong đó công chức có những lợi ích ở phương diện cá nhân có thể gây ảnh hưởng không phù hợp đến kết quả thực hiện các nghĩa vụ, trách nhiệm công chức của mình”3. Như vậy, các quan niệm về xung đột lợi ích tương đối thống nhất. Theo đó, xung đột lợi ích là một tình huống có xung đột giữa lợi ích cá nhân của người ra quyết định và lợi ích công, dẫn đến khả năng người đó ra quyết định không phù hợp khi quyết định những công việc thuộc nhiệm vụ, chức trách của mình. Xung đột lợi ích có một số đặc điểm: (1) là một tình huống có mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân của người được trao quyền quyết định với lợi ích công; (2) có khả năng người ra quyết định bị lợi ích cá nhân chi phối mà ra quyết định không phù hợp với nhiệm vụ, chức trách của mình.

Xung đột lợi ích là tình huống có khả năng dẫn đến những hành vi sai phạm của người có chức trách, nhiệm vụ. Vì vậy, loại trừ các trường hợp xung đột lợi ích sẽ phòng ngừa được các hành vi sai phạm khi ra quyết định của những người có chức trách, nhiệm vụ. Theo Ngân hàng Thế giới và Thanh tra Chính phủ Việt Nam (2016), xung đột lợi ích gồm các hình thức chủ yếu, như 4:

– Giữa người có chức trách ra quyết định và đối tượng chịu ảnh hưởng từ quyết định đó có liên hệ với nhau thông qua việc tặng và nhận quà tặng. Người ra quyết định nhận quà tặng bằng hiện vật hoặc phi hiện vật từ đối tượng chịu ảnh hưởng của quyết định. Xung đột giữa lợi ích xuất hiện, do lợi ích cá nhân của việc nhận quà tặng với lợi ích công khi ra quyết định, dẫn đến khả năng người có trách nhiệm sẽ ra các quyết định có lợi cho đối tượng đã tặng quà.

– Giữa người có chức trách ra quyết định và đối tượng chịu ảnh hưởng từ quyết định đó có cùng lợi ích. Nếu đối tượng chịu ảnh hưởng của quyết định được hưởng lợi thì người ra quyết định cũng được chia sẻ lợi ích. Trường hợp này còn được gọi là nhóm lợi ích. Xung đột lợi ích xảy ra, do xung đột giữa lợi ích cá nhân của nhóm với lợi ích công khi người có chức trách ra quyết định. Tình huống này dẫn đến khả năng người được trao quyền ra quyết định có lợi cho doanh nghiệp “sân sau”, từ đó gián tiếp cũng tạo ra lợi ích cho mình.

– Người nắm giữ những chức trách nhất định, có khả năng khai thác các thông tin có được từ vị trí công tác để thực hiện các hành vi thu lợi cá nhân. Xung đột lợi ích xảy ra giữa lợi ích chung của việc bảo mật thông tin với lợi ích cá nhân của người nắm giữ thông tin.

– Người được trao quyền quyết định và các đối tượng có khả năng chịu ảnh hưởng của quyết định có mối quan hệ thân thuộc. Trong trường hợp này, xung đột lợi ích xảy ra giữa lợi ích công với lợi ích riêng của người thân. Quyết định của người được trao quyền không đem lại lợi ích riêng cho chính người ra quyết định, nhưng đem lại lợi ích riêng cho người thân của họ.

Đấu thầu xây lắp và xung đột lợi ích trong đấu thầu xây lắp

“Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế”5. Căn cứ vào đối tượng của đấu thầu, đấu thầu được phân chia thành các loại: đấu thầu hàng hóa, đấu thầu xây lắp, đấu thầu dịch vụ và đấu thầu hỗn hợp. “Xây lắp là những công việc thuộc quá trình xây dựng và lắp đặt công trình, hạng mục công trình”6. Như vậy, đấu thầu xây lắp được hiểu là quá trình lựa chọn nhà thầu để thực hiện những công việc thuộc quá trình xây dựng và lắp đặt công trình, hạng mục công trình trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế.

3.2. Xung đột lợi ích trong đấu thầu xây lắp

Trong đấu thầu xây lắp, xuất hiện nhiều chủ thể khác nhau. Nhà thầu trong đấu thầu xây lắp là tổ chức, cá nhân có đủ năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng tham dự đấu thầu để giành quyền ký kết và thực hiện hợp đồng. Ngoài nhà thầu, các chủ thể khác như bên mời thầu, chủ đầu tư, người có thẩm quyền, tổ chuyên gia, tổ chức thẩm định đều giữ những vai trò nhất định trong quá trình tổ chức lựa chọn nhà thầu và có khả năng xung đột lợi ích. Xung đột lợi ích trong đấu thầu là tình huống có xung đột giữa lợi ích cá nhân người có chức trách, nhiệm vụ trong quá trình tổ chức đấu thầu và lợi ích công, dẫn đến khả năng người đó ra quyết định không phù hợp khi quyết định những công việc thuộc chức trách, nhiệm vụ của mình. Xung đột lợi ích trong đấu thầu xây lắp có một số đặc điểm: (1) Xung đột lợi ích trong đấu thầu xây lắp là tình huống có khả năng xảy ra trong quá trình tổ chức đấu thầu xây lắp, từ giai đoạn lập kế hoạch đấu thầu, soạn các tài liệu đấu thầu, mời thầu, tiếp nhận hồ sơ dự thầu, đánh giá xếp hạng hồ sơ dự thầu, thương thảo hợp đồng, phê duyệt và công khai kết quả lựa chọn nhà thầu; (2) Xung đột lợi ích gắn liền với những người có chức trách, nhiệm vụ nhất định trong tổ chức đấu thầu. Khi thực hiện chức trách, nhiệm vụ đó, họ phải bảo vệ những lợi ích chung xuất phát từ yêu cầu của việc tổ chức đấu thầu; (3) Có mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân của người được trao quyền quyết định với lợi ích chung và có khả năng người ra quyết định bị lợi ích cá nhân chi phối mà ra quyết định không phù hợp với nhiệm vụ, chức trách của mình.

Xung đột lợi ích xảy ra trong đấu thầu bao gồm nhiều loại như:

– Giữa người có chức trách ra quyết định trong quá trình tổ chức đấu thầu (như bên mời thầu7, chủ đầu tư8, người có thẩm quyền9, tổ chuyên gia10, tổ chức thẩm định11) và nhà thầu có liên hệ với nhau thông qua việc tặng và nhận quà tặng. Người ra quyết định nhận quà tặng bằng hiện vật hoặc phi hiện vật từ các nhà thầu. Xung đột giữa lợi ích xuất hiện, dẫn đến khả năng người có trách nhiệm sẽ ra các quyết định có lợi cho nhà thầu tặng quà.

– Giữa người có chức trách ra quyết định (như bên mời thầu, chủ đầu tư, người có thẩm quyền, tổ chuyên gia, tổ chức thẩm định) và nhà thầu có cùng lợi ích. Nếu nhà thầu được hưởng lợi thì người ra quyết định cũng được chia sẻ lợi ích. Trường hợp này còn được gọi là nhóm lợi ích. Xung đột lợi ích xảy ra, dẫn đến khả năng người được trao quyền ra quyết định có lợi cho nhà thầu sân sau, từ đó gián tiếp cũng tạo ra lợi ích cho mình. Các trường hợp có xung đột lợi ích, như: nhà thầu tham dự gói thầu tham dự gói thầu do mình làm bên mời thầu, chủ đầu tư; Nhà thầu và chủ đầu tư, bên mời thầu cùng thuộc một cơ quan hoặc tổ chức trực tiếp quản lý hoặc có cổ phần vốn góp của nhau; Nhà thầu và đơn vị tư vấn cho gói thầu đó cùng thuộc một cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp hoặc có cổ phần, vốn góp của nhau hoặc có cùng cổ phần, vốn góp tại doanh nghiệp khác. Trong những trường hợp này, do bị ảnh hưởng từ lợi ích cá nhân được chia sẻ mà người có trách nhiệm sẽ ra quyết định không phù hợp với lợi ích chung của việc tổ chức đấu thầu.

– Người được trao quyền quyết định trong đấu thầu và các nhà thầu có mối quan hệ thân thuộc. Trong trường hợp người tham gia quyết định trong đấu thầu có cha mẹ đẻ, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng, vợ hoặc chồng, con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể, anh chị em ruột đứng tên dự thầu hoặc là người đại diện theo pháp luật của nhà thầu, xung đột lợi ích xảy ra giữa lợi ích chung của đấu thầu với lợi ích riêng của người thân, dẫn đến khả năng người được trao quyền ra quyết định có lợi cho người thân.

Theo kết quả khảo sát của Ngân hàng Thế giới và Thanh tra Chính phủ (2016), đối với người dân, doanh nghiệp và các cán bộ, công chức viên chức nhà nước tại 10 tỉnh, thành phố và 5 cơ quan Bộ, cho thấy đa số mọi người chưa hiểu đúng về xung đột lợi ích.

Kết quả khảo sát cho thấy, đa số mọi người nhận thức được mối quan hệ giữa nhà nước và tư nhân có xu hướng bị thương mại hóa, trong đó các nhóm và cá nhân có ảnh hưởng gây tác động đến quyết định của cơ quan nhà nước. Người dân và doanh nghiệp đều cho rằng mối quan hệ với cơ quan nhà nước rất quan trọng đối với sự thành công trong kinh doanh và các nhóm lợi ích đang có tầm ảnh hưởng ngày một lớn13. Khảo sát doanh nghiệp có tham gia đấu thầu với các cơ quan nhà nước, có 36% cho rằng cuộc đấu thầu đó là khách quan, minh bạch, trong khi 38% tin rằng có chạy chọt và 50% cho rằng có sự ưu ái người thân14. Đa số mọi người lại cho rằng không phải truyền thống văn hóa dẫn đến tình huống xung đột lợi ích do việc tặng quà hay chia sẻ lợi ích, mà do lợi ích cá nhân, thậm chí hối lộ từ phía nhà thầu15. Vấn đề kiểm soát xung đột lợi ích trong nội bộ, có 25-40% cán bộ, công chức, viên chức được khảo sát cho rằng cơ quan họ không thực hiện các biện pháp kiểm soát xung đột lợi ích theo quy định, như báo cáo việc nhận quà, không được hỗ trợ doanh nghiệp thân quen, không làm việc trong một số lĩnh vực sau khi thôi công tác16.

Hiện nay, pháp luật chưa có định nghĩa cụ thể về xung đột lợi ích. Trong pháp luật đấu thầu, các tình huống xung đột lợi ích chưa được quy định riêng mà lồng ghép vào một số quy định về bảo đảm cạnh tranh và quy định về các hành vi bị cấm trong đấu thầu17.

Kiến nghị một số giải pháp kiểm soát xung đột lợi ích trong đấu thầu xây lắp

Để nhận thức được các tình huống xung đột lợi ích trong đấu thầu xây lắp, từ đó kiểm soát tốt các tình huống xung đột lợi ích và bảo đảm lợi ích chung được đặt ra khi tổ chức đấu thầu, bảo đảm cạnh tranh công bằng giữa các nhà thầu, bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn ngân sách, cần phải thực hiện một số vấn đề sau:

Thứ hai, cần tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật về xung đột lợi ích trong đấu thầu xây lắp. Để có thể thực hiện tốt các quy định của pháp luật, trước hết cần phải có sự nhận thức rõ ràng của những người thực hiện pháp luật, từ các cán bộ quản lý nhà nước về đấu thầu; cán bộ dân cử thực hiện vai trò giám sát; các cán bộ thanh tra, kiểm tra về đấu thầu; các cán bộ giải quyết kiến nghị, tranh chấp đấu thầu; các chủ thể trực tiếp tham gia vào quá trình đấu thầu (nhà thầu, bên mời thầu, chủ đầu tư, người có thẩm quyền, tổ chuyên gia, tổ thẩm định, tư vấn). Việc nhận thức được các tri thức mới về lý luận và pháp luật về xung đột lợi ích trong đấu thầu xây lắp được thực hiện nhanh nhất qua con đường đào tạo, bồi dưỡng bắt buộc đối với những người tham gia vào quá trình đấu thầu. Hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cũng nhằm để mọi công dân có quyền tiếp cận với tri thức lý luận và quy định của pháp luật về xung đột lợi ích trong đấu thầu xây lắp, là cơ sở để nâng cao dân trí, tạo sự đồng thuận xã hội trong thực hiện pháp luật, nâng cao hiệu quả giám sát xã hội đối với hoạt động đấu thầu xây lắp.

Thứ ba, cần triển khai việc áp dụng công nghệ mạng và điện tử vào công tác đấu thầu. Cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đã tác động đến các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực tổ chức đấu thầu. Với trình độ công nghệ điện tử hiện nay, các dữ liệu trong đấu thầu có thể được thể hiện dưới dạng dữ liệu điện tử, máy công nghệ điện tử có khả năng rà soát, đánh giá, phát hiện và cảnh báo các trường hợp có xung đột lợi ích.

Thứ tư, cần tăng cường trách nhiệm giám sát, kiểm tra, thanh tra để kịp thời phát hiện và xử lý các trường hợp xung đột lợi ích trong đấu thầu xây lắp. Cần xây dựng cơ chế giám sát nội bộ và giám sát độc lập ngoài quá trình đấu thầu. Giám sát nội bộ được thực hiện thông qua việc giám sát của chính đơn vị và các nhân viên trong đơn vị của người tham gia vào đấu thầu. Để thực hiện giám sát nội bộ, đơn vị phải có quy trình rõ ràng, chi tiết về việc tổ chức đấu thầu và tham gia vào đấu thầu; Thực hiện cơ chế lưu trữ thông tin, dữ liệu và công khai, minh bạch trong nội bộ đơn vị, công khai với bên ngoài; Phát huy vai trò của các tổ chức kiểm soát, kiểm toán nội bộ trong đơn vị; Tạo cơ chế thuận lợi cho việc người trong đơn vị tố cáo các tình huống xung đột; Giám sát nội bộ còn được thực hiện bởi sự giám sát lẫn nhau giữa các chủ thể tham gia vào quá trình đấu thầu. Bằng việc truy cứu trách nhiệm rõ ràng, các chủ thể sẽ giám sát hoạt động lẫn nhau. Các chủ thể tham gia vào bên tổ chức đấu thầu cũng giám sát lẫn nhau, các nhà thầu tham dự cũng giám sát lẫn nhau và các nhà thầu giám sát hoạt động của bên tổ chức đấu thầu. Giám sát từ bên ngoài đến quá trình đấu thầu bằng hoạt động giám sát của cơ quan quản lý chuyên ngành về đấu thầu, cơ quan thanh tra, cơ quan kiểm toán, cơ quan dân cử, các hiệp hội và cộng đồng xã hội.

TÀI LIỆU TRÍCH DẪN:

1 Xem Blacks Law Dictionary, https://thelawdictionary.org/conflict-of-interest/

2 Xem Cambridge Dictionary, https://dictionary.cambridge.org/vi/dictionary/english/conflict-of-interest

3 OECD (2005), Managing Conflict of Interest in the Public Sector, tr. 13.

4 Xem Ngân hàng Thế giới & Thanh tra Chính phủ (2016), Kiểm soát xung đột lợi ích trong lĩnh vực công: Quy định và thực tiễn ở Việt Nam, NXB Hồng Đức, Hà Nội, tr. 23.

5 Xem Khoản 12 Điều 4 Luật Đấu thầu 2013.

6 Xem Khoản 45 Điều 4 Luật Đấu thầu 2013.

7 Bên mời thầu trong đấu thầu xây lắp là cơ quan, tổ chức có chuyên môn và năng lực để thực hiện các hoạt động tổ chức lựa chọn nhà thầu, có trách nhiệm chuẩn bị lựa chọn nhà thầu, thành lập tổ chuyên gia, tổ chức đánh giá lựa chọn nhà thầu, trình duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu.

8 Chủ đầu tư là tổ chức sở hữu vốn hoặc tổ chức được giao thay mặt chủ sở hữu vốn, tổ chức vay vốn trực tiếp quản lý quá trình thực hiện dự án, có trách nhiệm phê duyệt các nội dung trong quá trình đấu thầu, quyết định xử lý tình huống trong đấu thầu, giải quyết kiến nghị, xử lý vi phạm trong đấu thầu.

9 Người có thẩm quyền là người quyết định phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình, có trách nhiệm phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu; tổ chức kiểm tra, giám sát, theo dõi công tác đấu thầu; giải quyết kiến nghị trong đấu thầu; xử lý vi phạm trong đấu thầu.

10 Tổ chuyên gia gồm các cá nhân có năng lực, kinh nghiệm được bên mời thầu hoặc đơn vị tư vấn đấu thầu thành lập để đánh giá hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển, hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất và thực hiện các nhiệm vụ khác trong quá trình lựa chọn nhà thầu.

11 Tổ chức thẩm định làm nhiệm vụ kiểm tra, đánh giá kế hoạch lựa chọn nhà thầu, hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu và kết quả mời quan tâm, kết quả sơ tuyển, kết quả lựa chọn nhà thầu để làm cơ sở xem xét, quyết định phê duyệt theo quy định của pháp luật

12 Xem Ngân hàng thế giới & Thanh tra Chính phủ (2016), sđd, tr.40.

13 Xem Ngân hàng thế giới & Thanh tra Chính phủ (2016), sđd, tr.15

14 Xem Ngân hàng thế giới & Thanh tra Chính phủ (2016), sđd, tr.11.

15 Xem Ngân hàng thế giới & Thanh tra Chính phủ (2016), sđd, tr.10.

16 Xem Ngân hàng thế giới & Thanh tra Chính phủ (2016), sđd, tr.12.

17 Xem Điều 6 và Điều 89 Luật Đấu thầu 2013.

18 Xem World Bank (2017), Procurement Regulations for IPF Borrowers, April 2017 – Second Edition. Pages 5-11.

19 JICA(2012), Handbook for Procurement under Japanese ODA Loans. Page 72.

Blacks Law Dictionary, https://thelawdictionary.org/conflict-of-interest/

Cambridge Dictionary, https://dictionary.cambridge.org/vi/dictionary/english

JICA(2012), Handbook for Procurement under Japanese ODA Loans.

Luật Đấu thầu 2013.

Ngân hàng Thế giới và Thanh tra Chính phủ (2016), Kiểm soát xung đột lợi ích trong lĩnh vực công: Quy định và thực tiễn ở Việt Nam, NXB Hồng Đức, Hà Nội.

OECD (2005), Managing Conflict of Interest in the Public Sector.

World Bank (2017), Procurement Regulations for IPF Borrowers, April 2017 – Second Edition.

THE CONFLICT OF INTEREST IN CONSTRUCTION BIDDING

Master. Nguyen Huu Manh

Faculty of Law, National Economics University

Abstract:

The conflict of interest in the construction bidding is a conflict between the personal interests and the public interests, leading to the possibility that the head will make improper decisions that are incompatible with the public interests due to his or her own interests. The conflict of interest in the construction bidding is manifested through situations including the contractor presents gifts to the owner, the contractor and the owner share same interests, the contractor has a close relationship with the owner, or the contractor is able to acquire information related the bidding to benefit itself. In order to control the conflict of interest, ensure the public interests of the bidding, ensure fair competitions among contractors and ensure the effectiveness of using the budget, it is necessary to specific forms of the conflict of interest in bidding, strengthen the training, propagating and educating laws on the conflict of interest in the construction bidding, using network and electronic technologies to review, assess, detect and warn the conflict of interests, and intensify responsibilities of supervision, inspection in order to promptly detect and handle the conflict of interests in construction bidding.

Keywords: Construction bidding, conflict of interest.

Xung Đột Lợi Ích Là Gì? Trường Hợp Nào Được Xem Là Xung Đột Lợi Ích / 2023

Theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 thì: Xung đột lợi ích là tình huống mà trong đó lợi ích của người có chức vụ, quyền hạn hoặc người thân thích của họ tác động hoặc sẽ tác động không đúng đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.

Các trường hợp xung đột lợi ích

Theo Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 01/7/2019 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng, có hiệu lực 15/8/2019 thì: Người có chức vụ quyền hạn được xem là có xung đột lợi ích khi có dấu hiệu rõ ràng cho rằng người đó thuộc hoặc sẽ thuộc một trong các trường hợp sau:

(So sánh Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 với Luật 2005)

2. Thành lập, tham gia quản lý điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, trừ trường hợp luật có quy định khác;

4. Sử dụng những thông tin có được nhờ chức vụ, quyền hạn của mình để vụ lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức hoặc cá nhân khác;

(Bộ câu hỏi trắc nghiệm tìm hiểu Luật Phòng, chống tham nhũng 2018)

5. Bố trí vợ hoặc chồng, bố mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán, làm thủ quỹ, thủ kho trong cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ, ký kết hợp đồng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu;

6. Góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành nghề do mình trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước hoặc để vợ, chồng , bố, mẹ, con kinh doanh trong phạm vi ngành nghề do mình trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước;

7.Ký kết hợp đồng với doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột hoặc để doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị em ruột tham dự các gói thầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình khi được giao thực hiện các giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ , ký kết hợp đồng cho cơ quan, tổ chức đơn vị đó;

(Slide bài giảng tuyên truyền Luật phòng, chống tham nhũng 2018)

9. Can thiệp hoặc tác động không đúng đến hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền vì vụ lợi,

Báo cáo xung đột lợi ích

Thông tin, báo cáo về xung đột lợi ích được thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày biết được hoặc phát hiện được nhiệm vụ, công vụ được giao có xung đột lợi ích với người được giao nhiệm vụ, công vụ. Thông tin, báo cáo về xung đột lợi ích được thể hiện bằng văn bản và làm rõ các nội dung sau:

– Tình huống có xung đột lợi ích;

– Thời điểm diễn ra và biết được hoặc phát hiện được xung đột lợi ích;

– Mức độ ảnh hưởng hoặc sẽ ảnh hưởng không đúng đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người có chức vụ, quyền hạn;

– Đề nghị hoặc kiến nghị biện pháp kiểm soát xung đột lợi ích.

Tải Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 01/7/2019 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng

rubi