Xem Nhiều 2/2023 #️ Ứng Dụng Năng Lượng Nguyên Tử Cần Tương Xứng Với Tiềm Năng # Top 3 Trend | 3mienmoloctrungvang.com

Xem Nhiều 2/2023 # Ứng Dụng Năng Lượng Nguyên Tử Cần Tương Xứng Với Tiềm Năng # Top 3 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Ứng Dụng Năng Lượng Nguyên Tử Cần Tương Xứng Với Tiềm Năng mới nhất trên website 3mienmoloctrungvang.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

(Chinhphu.vn) – Việc ứng dụng năng lượng nguyên tử trong y tế, nông nghiệp, công nghiệp ở Việt Nam vẫn chưa thực sự tương ứng với tiềm năng. Đơn cử như khó mở rộng thị trường cho chiếu xạ thực phẩm do người dân, doanh nghiệp chưa được tiếp cận đủ thông tin nên vẫn còn tâm lý e ngại.

Đây là thông tin được đưa ra tại Hội thảo khoa học quốc gia Ứng dụng năng lượng nguyên tử (NLNT) phát triển kinh tế-xã hội tổ chức từ 1-2/11. Nhiều thành tựu ứng dụng NLNT trong các lĩnh vực cũng đã được chia sẻ, trong đó có những thành tựu đột phá trong y học, nông nghiệp… mang lại ý nghĩa to lớn trong đời sống.

Theo Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Trần Văn Tùng, Việt Nam đã có những cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển ứng dụng năng lượng nguyên tử: Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 01/2006/QĐ-TTg, trong đó nghiên cứu ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ và phát triển tiềm lực KHCN hạt nhân phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và đã thu được nhiều kết quả khoa học, thực tiễn, được đánh giá là có nhiều triển vọng trên các lĩnh vực kinh tế-xã hội.

Chia sẻ về các kết quả nổi bật về ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, TS. Hoàng Anh Tuấn, Cục trưởng Cục NLNT cho biết, trong lĩnh vực y tế, cả nước có 35 cơ sở y học hạt nhân với trên 45 thiết bị xạ hình, đạt tỉ lệ khoảng 0,5 máy/triệu dân. Một số kỹ thuật chụp hình chẩn đoán hiện đại tương đương với trình độ y học hạt nhân các nước trên thế giới như: xạ hình SPECT tưới máu cơ tim, xạ hình SPECT Tc99m gắn hồng cầu chẩn đoán u mao mạch gan…

Về xạ trị, cả nước hiện có 40 cơ sở xạ trị (phần lớn tập trung tại các thành phố lớn). Nhiều kỹ thuật xạ trị hiện đại, ngang tầm khu vực và quốc tế hiện đã được triển khai tại Việt Nam.

GS. Mai Trọng Khoa, Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai cho biết, ứng dụng bức xạ ion hóa trong lĩnh vực điều trị ung thư đã có những bước tiến đáng kể nhờ vào các nghiên cứu tìm tòi cải tiến ứng dụng các phương pháp điều trị mới, thiết bị xạ trị mới cũng như những đóng góp của chuyên ngành hóa dược phóng xạ để có được những dược chất phóng xạ mới. Trong tương lai các kỹ thuật ứng dụng công nghệ bức xạ tiên tiến khác như PET/MRI, xạ trị sử dụng proton và ion nặng, xạ trị kích hoạt neutron… sẽ được nghiên cứu áp dụng tại nước ta.

Về lĩnh vực nông nghiệp, PGS. Phạm Xuân Hội, Viện Di truyền nông nghiệp cho biết, tính đến năm 2017, đã tạo trên 68 giống cây trồng nông nghiệp bằng phương pháp chiếu xạ gây đột biến trong đó chủ yếu là giống lúa (48 giống lúa, 13 giống đậu tương, 2 giống ngô, 2 giống lạc…). Theo đánh giá của IAEA, Việt Nam là quốc gia đứng thứ 8 trên thế giới trong lĩnh vực nghiên cứu về đột biến tạo giống, được trao Giải thưởng thành tựu xuất sắc về đột biến tạo giống.

PGS. Phạm Xuân Hội cho rằng, để khai thác tốt tiềm năng ứng dụng của công nghệ bức xạ trong chọn tạo giống cây trồng, cần phải có đánh giá tổng quan về hiệu quả đột biến trong chọn tạo giống cây trồng từ đó đưa ra định hướng chiến lược cùng với sự đầu tư thích đáng của Nhà nước. Đặc biệt về nhân lực và hệ thống trang thiết bị để phát huy được tiềm năng trong chọn tạo giống, đóng góp hơn nữa cho sản xuất nông nghiệp đất nước.

Đánh giá về công tác quản lý nhà nước về an toàn, an ninh bức xạ và hạt nhân của Việt Nam, Phó Giám đốc Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội Trần Minh Quỳnh cho rằng, vẫn còn tồn tại một số hạn chế và chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu theo tiêu chuẩn an toàn của IAEA và các yêu cầu của thực tiễn. Công tác đảm bảo về an toàn bức xạ hạt nhân ở cơ sở chưa được chú trọng quan tâm.

Việc phát triển ứng dụng công nghệ bức xạ cũng gặp một số vấn đề như: Đầu tư ban đầu cao nên một số ứng dụng như chiếu xạ khử trùng y tế, biến đổi polyme chưa thể cạnh tranh về chi phí với các công nghệ truyền thống; khó mở rộng thị trường cho chiếu xạ thực phẩm do mới chỉ có một số quốc gia chấp nhận thực phẩm chiếu xạ, trong khi người dân cũng như các doanh nghiệp sản và kinh doanh sản phẩm nông nghiệp vẫn chưa được tiếp cận đủ thông tin nên vẫn còn tâm lý e ngại. Những điều này đặt ra thách thức rất lớn cho các nhà khoa học và quản lý để tăng cường khả năng cạnh tranh và mở rộng ứng dụng công nghệ bức xạ nhằm nâng cao đóng góp của ngành công nghiệp chiếu xạ vào GDP cho tương xứng với tiềm năng.

Thu Cúc

Năng Lượng Của Các Electron Trong Nguyên Tử

Trong nguyên tử, các electron chiếm các obitan theo tứ tự tăng dần mức năng lượng. Sự phân bố electron trong nguyên tử tuân theo nguyên lí Pau-li, nguyên lí vững bền và quy tắc Hun

Năng lượng của các electron trong nguyên tử

1. Năng lượng của electron trong nguyên tử:

– Trong nguyên tử, các electron nằm trên mỗi obitan có một mức năng lượng xác định, được gọi là mức năng lượng obitan nguyên tử ( mức năng lượng AO).

– Các electron trên các obitan khác nhau của cùng một phân lớp có năng lượng như nhau.

Ví dụ: Phân lớp 2p có 3 AO: 2p x, 2p y, 2p z. Các electron của các obitan p này tuy có sự định hướng trong không gian khác nhau, nhưng chúng có cùng mức năng lượng AO.

– Trật tự các mức năng lượng obitan nguyên tử: Khi số hiệu nguyên tử Z tăng, các mức năng lượng AO tăng dần theo trình tự sau:

1s 2s 2p 3s 3p 4s 3d 4p 5s 4d 5p 6s 4f 5d 6p 7s 5f 6d…

– Khi điện tích hạt nhân tăng, có sự chèn mức năng lượng: mức 4s trở nên thấp hơn 3d, mức 5s thấp hơp 4d, 6d thấp hơn 4f, 5d…

2. Các nguyên lí và quy tắc phân bố electron trong nguyên tử:

– Ô lượng tử: Để biểu diễn obitan nguyên tử một cách đơn giản, người ta dùng các ô vuông nhỏ, được gọi là các ô lượng tử. Một ô lượng tử ứng với 1 AO.

– Nguyên lí Pauli: Trên 1 obitan chỉ có thể có nhiều nhất là 2electron và 2 electron này chuyển động tự quay khác chiều nhau xung quanh trục riêng của mỗi electron.

– Chiều tự quay khác nhau của 2 electron được biểu diễn bằng 2 mũi tên nhỏ: 1 mũi tên có chiều đi lên, 1 mũi tên có chiều đi xuống.

+ Khi trong 1 obitan đã có 2 electron, gọi là các electron ghép đôi: .

+ Khi obitan chỉ chứa 1 electron thì electron đó gọi là electron độc thân

– Số electron tối đa trong 1 lớp và 1 phân lớp:

+ Số electron tối đa trong 1 lớp: 2n 2

+ Số electron tối đa trong 1 phân lớp:

+ Các phân lớp s 2, p 6, d 10, f 14 có đủ số electron tối đa gọi là phân lớp bão hòa. Phân lớp chưa đủ số electron tối đa gọi là chưa bão hòa. Phân lớp có 1 nửa số electron tối đa s 1, p 3, d 5, f 7 gọi là bán bão hòa.

– Ở trạng thái cơ bản, trong nguyên tử các electron chiếm lần lượt những obitan có mức năng lượng từ thấp đến cao.

Ví dụ: Nguyên tử B có Z =5, có 5e sẽ phân bố lần lượt vào các obitan: 1s, 2s, 2p. Trong đó 2e vào AO-1s, 2e vào AO-2s và 1e vào AO-2p

Biểu diễn bằng ô lượng tử đối với nguyên tử B:

c. Quy tắc Hun:

– Trong cùng 1 phân lớp, các electron sẽ phân bố trên các obitan sao cho số electron độc thân là tối đa và các electron này phải có chiều tự quay giống nhau. Các e độc thân này được kí hiệu bằng các mũi tên cùng chiều, thường được viết hướng lên trên.

– Ví dụ: Nguyên tử N có Z = 7: có 7e, được phân bố vào các AO: 1s, 2s, 2p

Xét Nghiệm Di Truyền – Tiềm Năng Và Ứng Dụng Trong Y Học

Xét nghiệm di truyền – tiềm năng và ứng dụng trong y học

Với sự tiến bộ không ngừng của y học hiện đại, di truyền dần trở thành một chuyên ngành không thể thiếu trong hầu hết các lĩnh vực lâm sàng nói chung và hỗ trợ sinh sản nói riêng. Ngoài việc tìm ra nguyên nhân gây bệnh để đưa ra hướng giải quyết thích hợp cho bệnh nhân, các xét nghiệm di truyền còn giúp đánh giá và can thiệp phòng ngừa các bất thường di truyền có thể truyền cho thế hệ sau. Nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng khám, điều trị, đáp ứng nhu cầu của người bệnh, Bệnh viện Bưu điện đang tích cực chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết cho việc triển khai thực hiện các xét nghiệm chuyên sâu về sinh học phân tử, di truyền tế bào.

Bệnh viện Bưu điện đang tích cực chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết cho việc triển khai thực hiện các xét nghiệm chuyên sâu về sinh học phân tử, di truyền tế bào.

Xét nghiệm di truyền là gì?

Xét nghiệm di truyền là xét nghiệm tìm kiếm các thông tin di truyền ẩn trong bộ gen của bạn, từ một vài thay đổi nhỏ trong DNA đến toàn bộ hệ gen, cho phép phân tích các gen, nhiễm sắc thể có khả năng gây bệnh di truyền.

Tại sao cần làm xét nghiệm di truyền?

Các loại xét nghiệm di truyền hiện nay

Xét nghiệm phôi tiền làm tổ: là xét nghiệm kiểm tra các bất thường di truyền ở giai đoạn đầu của phôi trong quá trình thụ tinh trong ống nghiệm, trước khi chuyển phôi vào niêm mạc tử cung để làm tổ. Việc chuyển phôi thất bại có nguyên nhân từ việc phôi mang các bất thường về số lượng hay cấu trúc nhiễm sắc thể là rất lớn. Vì vậy, việc sàng lọc trước chuyển phôi sẽ giúp tìm ra các phôi không mang bất thường, góp phần nâng cao tỷ lệ đậu thai và mang thai khỏe mạnh cho các bà mẹ.

PGT-A (tên cũ là sàng lọc di truyền trước làm tổ – PGS): xét nghiệm này sử dụng để phát hiện phôi bất thường số lượng nhiễm sắc thể. Do vậy, tránh được nguy cơ chuyển những phôi bất thường, cải thiện khả năng làm tổ và có thai không mang bất thường số lượng nhiễm sắc thể.

PGT-M: chẩn đoán các bệnh đơn gen, giúp các cặp vợ chồng có thai không bị bệnh về gen do di truyền từ cha mẹ mang gen đột biến (bệnh thiếu máu tán huyết Thalassemia, bệnh máu khó đông Hemophilia…)

PGT-SR: chẩn đoán bất thường cấu trúc nhiễm sắc thể, giúp các cặp vợ chồng mang chuyển đoạn cân bằng, mất hoặc nhân đoạn nhiễm sắc thể… có thai bình thường, không bị dị tật do bất thường cấu trúc bộ nhiễm sắc thể. Kỹ thuật này có thể không phân biệt được giữa phôi bình thường và phôi mang chuyển đoạn cân bằng nhiễm sắc thể.

Kiểm tra phôi tiền làm tổ giúp tăng khả năng đậu thai và mang thai khỏe mạnh

Chẩn đoán trước sinh: là xét nghiệm thu thập các tế bào của thai nhi thông qua chọc ối hoặc sinh thiết gai rau, chọc hút máu cuống rốn để phân tích gen, nhiễm sắc thể ở những thai phụ có nguy cơ cao sau khi làm các xét nghiệm sàng lọc trước đó.

Sàng lọc sơ sinh: Xét nghiệm sàng lọc sơ sinh là các xét nghiệm được thực hiện ở trẻ sơ sinh nhằm sàng lọc sớm các bệnh lý và rối loạn nội tiết-chuyển hóa-di truyền từ đó có hướng điều trị kịp thời nhằm hạn chế các rối loạn về thể chất và tinh thần, giảm thiểu tỷ lệ tử vong sơ sinh và giảm thiểu gánh nặng cho gia đình và xã hội.

Xét nghiệm người mang gen (carrier screening): là xét nghiệm được sử dụng cho các cặp vợ chồng có tiền sử sẩy thai, thai lưu nhiều lần không rõ nguyên nhân, hoặc những cá nhân mà gia đình có tiền sử bệnh di truyền đơn gen như bệnh tan máu bẩm sinh (thalassemia), loạn dưỡng có Duchene, chứng ưa chảy máu (hemophilia),… để xác định xem một người có mang bản sao của gen bị đột biến gây ra các rối loạn di truyền này hay không.

Kiểm tra người lành mang gen bệnh giúp hạn chế sinh ra những đứa trẻ bị bệnh

Giải trình tự toàn bộ gen (WGS-Whole Genome Sequencing) có thể giúp phát hiện các biến thể di truyền, các gen gây bệnh, cho phép nhận diện đến hơn 7000 bệnh và đặc tính di truyền đã được công bố trên thế giới.

Giải trình tự toàn bộ vùng mã hóa (Whole Exome Sequencing) tập trung trực tiếp vào vùng mã hóa của bộ gene, bao gồm hơn 23.000 gene (giải mã đến 85% thông tin bệnh học) giúp giảm thiểu chi phí cho người bệnh.

Pharmacogenomics: là xét nghiệm di truyền để xác định sự ảnh hưởng của các biến thể di truyền đến sự đáp ứng của thuốc.

Kiểm tra đột biến gen giúp tầm soát ung thư và các bệnh di truyền

Nên thực hiện xét nghiệm di truyền ở đâu?

Được đầu tư trang thiết bị hiện đại cùng với đội ngũ cán bộ y tế giàu kinh nghiệm, được đào tạo bài bản tại các Trung tâm có uy tín trong nước và Quốc tế về di truyền, Đơn nguyên Tế bào gốc và Di truyền trực thuộc Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Bệnh viện Bưu điện chính là một trong các địa chỉ xét nghiệm di truyền tin cậy của các bệnh nhân trong thời gian tới.

Thông tin chi tiết xin liên hệ Đơn nguyên Tế bào gốc và Di truyền -Trung tâm Hỗ trợ sinh sản – Bệnh viện Bưu điện.

ĐT: 0963161177

Những Điều Cần Biết Về Năng Lượng Ion Hóa Của Các Nguyên Tố

năng lượng ion hóa , hoặc tiềm năng ion hóa, là năng lượng cần thiết để loại bỏ hoàn toàn một từ một nguyên tử khí hoặc ion. Electron càng ở gần càng liên kết chặt chẽ và chặt chẽ thì càng khó bị loại bỏ và năng lượng ion hóa của nó càng cao.

Bài học rút ra chính: Năng lượng ion hóa

Năng lượng ion hóa được đo bằng electronvolt (eV). Đôi khi năng lượng ion hóa theo mol được biểu thị bằng J / mol.

Năng lượng ion hóa đầu tiên so với tiếp theo

Năng lượng ion hóa thứ nhất là năng lượng cần thiết để loại bỏ một điện tử khỏi nguyên tử mẹ. thứ hai là năng lượng cần thiết để loại bỏ một điện tử hóa trị thứ hai khỏi ion hóa trị hai để tạo thành ion hóa trị hai, v.v. Năng lượng ion hóa liên tiếp tăng lên. Năng lượng ion hóa thứ hai (hầu như) luôn lớn hơn năng lượng ion hóa thứ nhất.

Cả hai điện tử bị loại bỏ để ion hóa oxy và nitơ đều đến từ quỹ đạo 2p, nhưng nguyên tử nitơ có ba điện tử trong quỹ đạo p của nó (ổn định), trong khi nguyên tử oxy có 4 điện tử trong quỹ đạo 2p (kém bền hơn).

Xu hướng năng lượng ion hóa trong bảng tuần hoàn

Năng lượng ion hóa tăng lên chuyển động từ trái sang phải trong một chu kỳ (bán kính nguyên tử giảm dần). Năng lượng ion hóa giảm dần khi di chuyển xuống một nhóm (tăng bán kính nguyên tử).

Các nguyên tố nhóm I có năng lượng ion hóa thấp vì sự mất đi của một điện tử tạo thành một . Việc loại bỏ một điện tử trở nên khó hơn khi giảm vì các điện tử nói chung ở gần hạt nhân hơn, hạt này cũng mang điện tích dương hơn. Giá trị năng lượng ion hóa cao nhất trong một chu kỳ là giá trị năng lượng cao nhất của nó.

– Cơ năng là năng lượng tối thiểu cần thiết để loại bỏ một điện tử khỏi bề mặt của vật rắn.

liên kết electron – liên kết electron là một thuật ngữ chung chung hơn để chỉ năng lượng ion hóa của bất kỳ loại hóa chất nào. Nó thường được sử dụng để so sánh các giá trị năng lượng cần thiết để loại bỏ các điện tử từ các nguyên tử trung hòa, các ion nguyên tử và

Năng lượng ion hóa so với ái lực của điện tử

Một xu hướng khác được thấy trong bảng tuần hoàn là ái lực của electron . Ái lực electron là thước đo năng lượng được giải phóng khi một nguyên tử trung hòa trong pha khí nhận được một electron và tạo thành một ion mang điện tích âm ( ). Mặc dù năng lượng ion hóa có thể được đo với độ chính xác cao, nhưng ái lực của điện tử không dễ đo. Xu hướng thu được một electron tăng theo chiều từ trái sang phải trong một chu kỳ trong bảng tuần hoàn và giảm dần khi di chuyển từ trên xuống dưới của một nhóm nguyên tố.

Lý do ái lực của điện tử thường trở nên nhỏ hơn khi di chuyển xuống dưới bảng là vì mỗi chu kỳ mới lại thêm một quỹ đạo điện tử mới. Electron hóa trị dành nhiều thời gian hơn để xa hạt nhân. Ngoài ra, khi bạn di chuyển xuống bảng tuần hoàn, một nguyên tử có nhiều electron hơn. Lực đẩy giữa các điện tử làm cho việc loại bỏ một điện tử dễ dàng hơn hoặc khó thêm một điện tử.

Ái lực electron là giá trị nhỏ hơn năng lượng ion hóa. Điều này đưa xu hướng ái lực của điện tử di chuyển qua một thời kỳ vào quan điểm. Thay vì giải phóng năng lượng ròng khi thu được một điện tử, một nguyên tử ổn định như heli thực sự cần năng lượng để ép ion hóa. Một halogen, như flo, dễ dàng nhận một electron khác.

Bạn đang xem bài viết Ứng Dụng Năng Lượng Nguyên Tử Cần Tương Xứng Với Tiềm Năng trên website 3mienmoloctrungvang.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!